Hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay - Pdf 31

0TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương
mại cổ phần Việt Nam hiện nay”
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Mai Văn Bưu
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Quỳnh Anh
Lớp chuyên ngành : Kinh tế và quản lý công K49
Mã số sinh viên : CQ490088
Hà nội, tháng 11/ 2010
Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị truờng rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi,
mà đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có phản ứng dây
chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp. Lịch sử phát triển của hệ thống
ngân hàng gắn liền với sự phát triển kinh tế cuả mỗi quốc gia. Sự an toàn trong
kinh doanh của các ngân hàng thương mại luôn là mối quan tâm của xã hội, bởi sự
sụp đổ của ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế-chính trị và
xã hội của mỗi nước, trong nền kinh tế thị truờng cạnh tranh càng khốc liệt thì
nguy cơ rủi ro của hệ thống ngân hàng càng dễ phát sinh.
Trên thế giới người ta đã thống kê được tới 11 loại rủi ro cố hữu trong hoạt
động ngân hàng như rủi ro lãi xuất, rủi ro ngoại hối, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh
khoản, rủi ro quốc gia... Song được quan tâm nhất là rủi ro tín dụng, bởi vì trong
thưc tiễn hiện nay, phần lớn thu nhập của các ngân hàng thương mại là từ hoạt
động kinh doanh tín dụng, mặt khác đây lại là mặt trận kinh doanh tiềm ẩn nhiều
rủi ro nhất trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng .
Trước thực trạng nợ xấu hiện nay thì vấn đề rủi ro tín dụng lại cần phải được
quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa, để từ đó chúng ta có thể rút ra được nhiều bài
học và đưa ra một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng.
Chính vì lẽ đó mà em đã chọn dề tài:
"Hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

các nguyên tắc tín dụng, đồng thời nâng cao uy tín của mình đối với NH. Muốn
vậy các dự án kinh doanh của doanh nghiệp phải thể hiện mức sinh lãi cao nhất và
hiện thực hóa mức lợi nhuận ấy. Từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án,
phương án, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.
Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của NH là khâu giám sát sử
dụng vốn vay. Với việc giám sát này, buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay
đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường nhằm sử dụng vốn
SVTH: Nguyễn Quỳnh Anh – KT&QLC 49
Đề án môn học
vay đạt hiệu quả cao nhất, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó,
vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được
những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng
cao hiệu quả kinh tế.
0.2.2 Tín dụng NH góp phần vào sự vận động liên tục của nguồn vốn, làm
tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ và tạo cơ chế phân phối một cách có hiệu quả
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhằm đảm bảo
duy trì hoạt động liên tục và thông suốt, vốn của doanh nghiệp phải tạm thời tồntại
trong cả 3 giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lưu thông. Chính vì vậy mà hiện tượng
thừa vốn, thiếu vốn tạm thời diễn ra thường xuyên. Khi đó, tín dụng NH điều tiết
nguồn vốn, huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể tạm thời thừa vốn sang các
chủ thể tạm thời thiếu vốn, hay nói cách khác, góp phần vào quá trình vận động
liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ, tạo điều kiện cho hoạt
động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát
NHTM sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn.
Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả.
0.2.3 Tín dụng NH góp phần hỗ trợ chính sách tiền tệ
Một trong những chức năng quan trọng của NHTM là chức năng tạo tiền
thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi nhà nước muốn tăng khối lượng
tiền cung ứng thì NHNN có thể tăng hạn mức tín dụng cho các NHTM đối với nền
kinh tế và ngược lại. Nhờ vậy, thông qua tín dụng NH, Nhà nước có thể kiểm soát

dụng vốn của Ngân hàng. Rõ ràng, khi kế hoạch sử dụng vốn bị ảnh hưởng sẽ gây
ra tác động dây chuyền, làm cho Ngân hàng mất nguồn thu mới, uy tín của Ngân
hàng trong các khoản vay mới bị suy giảm và gây khó khăn trong việc chi trả
người gửi tiền.
SVTH: Nguyễn Quỳnh Anh – KT&QLC 49
Đề án môn học
- Rủi ro mất vốn: Là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện
nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và lãi vay. Rủi ro mất vốn là do
khách hàng không trả được một phần hoặc toàn bộ nợ vay, làm cho Ngân hàng cho
vay phải tăng chi phí do phải trích lập dự phòng rủi ro, chi phí cho việc đi thu nợ,
dẫn đến đồng tiền của Ngân hàng giảm sút đồng thời doanh thu của Ngân hàng
chậm lại hoặc mất mát.
0.3.3 Hậu quả của RRTD
a) Đối với bản thân Ngân hàng
- Làm giảm doanh thu của NH
Khi xảy ra rủi ro tín dụng, NH không thu hồi được số vốn tín dụng đã cấp và
lãi cho vay, nhưng NH vẫn phải trả vốn và lãi huy động khi đến hạn, dẫn đến mất
cân đối trong thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm, mất cơ hội đầu tư cho các dự
án khác, khiến cho NH kinh doanh kém hiệu quả, chi phí NH tăng lên so với dự
kiến và làm giảm doanh thu.
- Làm giảm khả năng thanh khoản và có nguy cơ dẫn tới phá sản
Khi một tín dụng nào đó mất khả năng thu hồi, NH sẽ phải dùng tới nguồn
vốn của mình để chi trả cho người gửi tiền, đến một mức độ nào đó, NH không còn
đủ nguồn vốn để chi trả thì NH rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh toán, có thể gặp
rủi ro thanh khoản. Kết quả là làm hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm
sút, uy tín, sức cạnh tranh trên thị trường giảm, tình hình kinh doanh ngày càng
xấu, dẫn tới nguy cơ phá sản. Việc phá sản của một NH có thể gây phản ứng dây
chuyền kéo theo những NH khác cũng đứng trên bờ vực phá sản, tác động tiêu cực
đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Làm giảm uy tín của NH

tiền mất giá khiến nền kinh tế khó khăn lại thêm khó khăn, nguy cơ khủng hoảng
kinh tế là không tránh khỏi.
SVTH: Nguyễn Quỳnh Anh – KT&QLC 49
Đề án môn học
0.3.4 Chỉ tiêu phản ánh RRTD
Nợ xấu và tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tiêu chí chủ yếu phản ánh RRTD
của các NHTM
Tỉ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của các tổ chức tín
dụng. tỉ lệ này cho thấykhách hàng có dấu hiệu khó khăn về tài chính nên khó có
khả năng trả nợ cho NH. Nếu tỉ lệ này cao thì đồng nghĩa với RRTD cao.
Tỉ lệ nợ xấu = x 100%
Cũng theo điều 6, điều 7 của quyết định 493/2005/QĐ-NHNH thì nợ xấu
gồm các khoản nợ thuộc nhóm 3, nợ nhóm 4, nợ nhóm 5.
Nguyên nhân dẫn đến các khoản nợ xấu là khách hàng chỉ cốt sao vay được
tiền chứ không nỗ lực trong việc trả nợ của mình. Điều này gây khó khăn trong
việc đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn của NH. Nếu như nợ xấu không được giải
quyết kịp thời thì đến một thời điểm nào đó, khả năng trích lập dự phòng rủi ro sẽ
không đủ để bù đắp tổn thất; đồng thời, việc nâng cao năng lực tài chính bảo đảm tỉ
lệ an toàn vốn trở thành vấn đề rất khó khăn cho NH. Do đó, NH phải thường
xuyên kiểm tra, đánh giá, phát hiện nợ xấu để có cơ sở trích lập dự phòng rủi ro và
đề ra các biện pháp nhằm bảo toàn vốn.
0.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD
a) Các yếu tố khách quan
* Môi trường tự nhiên
Những biến động thời tiết khí hậu ảnh hưởng rất lớn tới họat động sản xuất
kinh doanh của nền kinh tế nhưng nó lại thường xảy đến bất ngờ, khó dự đoán,
nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy khi xảy ra thiên tai, khách hàng
cùng NH sẽ bị tổn thất rất lớn, các phương án kinh doanh không có nguồn thu,
khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ NH.
* Môi trường chính trị và pháp luật

b) Các yếu tố chủ quan
SVTH: Nguyễn Quỳnh Anh – KT&QLC 49
Đề án môn học
* Yếu tố chủ quan từ phía khách hàng
- Khách hàng là các nhân
Tất cả những biến cố xảy đến với cá nhân khách hàng đều có thể gây ra
RRTD đối với NH. Chẳng hạn như họ bị mất việc, gặp tai nạn rủi ro, ốm đau…
đều khiến cho thu nhập của họ kém ổn định, giảm khả năng trả nợ đối với NH.
Một nguyên nhân phổ biến khác là do các nhân khách hàng lừa đảo chiếm
dụng, sử dụng vốn sai mục đích cũng gây ra RRTD đối với NH.
- Khách hàng là doanh nghiệp
+ Thị trường cung cấp nguyên vật liệu đầu vào: giá nguyên vật liệu tăng đột
biến, chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng tăng ngoài dự kiến. Nếu như lúc này
doanh nghiệp tăng giá bán hàng hóa thì rất khó tiêu thụ, gây ra ứ đọng vốn đối với
doanh nghiệp. Còn nếu doanh nghiệp giữ nguyên giá bán thì doanh nghiệp thua lỗ
là điều khó tránh. Tất cả đều ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của NH.
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm: khi doanh nghiệp lơ là nghiên cứu thị
trường tiêu thụ, cung ứng số lượng sản phẩm lớn hơn so với nhu cầu tiêu dùng của
thị trường hoặc chất lượng sản phẩm cung ứng không đáp ứng yêu cầu thì sẽ rất
khó khăn trong việc tiêu thụ, gây ứ đọng vốn, ảnh hưởng tới khả năng trả nợ NH
của doanh nghiệp.
+ Năng lực quản lý của doanh nghiệp: việc quản lý các nguồn lực doanh
nghiệp kém hiệu quả, đầu tư tràn lan, sử dụng vốn sai mục đích…dẫn tới nguy cơ
phá sản, không trả được nợ cho NH.
+ Cơ cấu tài chính bất hợp lý: tỉ lệ nợ / tổng nguồn vốn cao, sử dụng vốn vay
ngắn hạn để tài trợ các hoạt động dài hạn như mua sắm trang thiết bị, TSCĐ, doanh
nghiệp bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài dẫn đến thiếu vốn để quay vòng sản
xuất…gây khó khăn cho việc trả nợ NH.
* Yếu tố chủ quan từ phía Ngân hàng
SVTH: Nguyễn Quỳnh Anh – KT&QLC 49

EXIMBANK (Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam), và
SouthernBANK (Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam) từ năm 2007-2009
2.1 Thực trạng RRTD
2.1.1 Tình hình huy động vốn
NHTM là một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh về tiền tệ và tín
dụng. Hoạt động kinh doanh cơ bản của các NHTM là các hoạt động đem lại lợi
nhuận cho NHTM bao gồm: hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và hoạt
động kinh doanh dịch vụ khác.
Như vậy huy động vốn là một trong các hoạt động đem lại lợi nhuận cho
NH. Qua nghiên cứu, các NHTM có tỷ lệ tăng trưởng huy động khá cao. Trong
năm 2009, mặc dù có nguồn vốn huy động thấp nhất nhưng NH Sài Gòn – Hà Nội
lại có tốc độ tăng trưởng huy động cao nhất 209%, kế đến là NH Phương Nam
176%, NH Sài Gòn Thương Tín tuy tốc độ tăng trưởng kém hơn nhưng lại có tổng
huy động cao hơn cả, hơn 86 nghìn tỷ đồng.
SVTH: Nguyễn Quỳnh Anh – KT&QLC 49
Đề án môn học
(Nguồn: tổng hợp từ các báo cáo thường niên của các NH)
2.1.2 Tình hình tăng trưởng tín dụng
Năm 2009, Sacombank có tổng huy động cao hơn hẳn, và trong tăng trưởng
tín dụng cũng có dư nợ tín dụng nhiều nhất, hơn 55 nghìn tỷ đồng với tốc độ tăng
trưởng 164%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất lại là NH Phương
Nam với tốc độ 207%.
SVTH: Nguyễn Quỳnh Anh – KT&QLC 49


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status