THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI HỘI SỞ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam
2.1.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Ngân hàng thương mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam được thành lập ngày
27 tháng 9 năm 1993 theo giấy phép thành lập số 1534/QĐ-UB do Uỷ ban
nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 04/09/1993, giấy phép hoạt động số
0040/ NH-GP do thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp ngày
06/08/1993, giấy phép kinh doanh số 055697 do Trọng tài kinh tế Hà Nội
(Nay là Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội) cấp ngày 07/09/1993. Tên gọi tắt là
Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, tên tiếng Anh là Vietnam Technological and
Commercial Join Stock Bank (viết tắt: Techcombank).
Ngày 27/09/1993, Ngân hàng thương mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam
được thành lập với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng, nhằm mục đích trở thành
một trung gian tài chính hiệu quả, nối liền những nhà tiết kiệm với những
nhà đầu tư đang cần vốn để kinh doanh, phát triển nền kinh tế trong thời kỳ
mở cửa. Trụ sở chính ban đầu được đặt tại số 24 Lý Thường kiệt
Năm 1995, vốn điều lệ được tăng lên 51,495 tỷ đồng. Gắn liềnvới sự kiện đó
là việc thành lập chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quá
trình phát triển nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn.
Năm 1996, Chi nhánh Techcombank Thăng Long cùng phòng giao dịch
Nguyễn Chí Thanh được thành lập tại Hà Nội, đồng thời phòng giao dịch
Thắng Lợi trực thuộc Techcombank Hồ Chí Minh cũng được chính thức khai
trương. Vốn điều lệ tiếp tục tăng lên 70 tỷ đồng.
Năm 1998, trụ sở chính được chuyển sang toà nhà Techcombank – 15 Đào
Duy Từ, Hà Nội. Với việc thành lập chi nhánh Techcombank Đà Nẵng, mạng
lưới giao dịch đã phủ khắp Bắc- Trung- Nam.
Năm 1999, Techcombank tăng vốn điều lệ lên 80,020 tỷ đồng, đồng thời
khai trương phòng giao dịch số 3 tại phố Khâm Thiên, Hà Nội.
Năm 2000, mạng lưới tiếp tục được mở rộng với phòng giao dịch Thái Hà.
Năm 2001, vốn điều lệ tăng lên 102,345 tỷ đồng, đồng thời ký kết hợp đồng
Ban Tổng giám
đốc
Các công
ty thành
viên
Các chi
nhánh
Giao dịch
& kho quỹ
Dịch vụ
NH doanh
nghiệp
Dịch vụ
NH bán
lẻ
Khối giao
dịch, tiếp thị
khách hàng
Tài chính kế
toán
Thông tin
điện toán
Kiểm soát
nội bộ
Nhân sự
Văn
phòng
Nguồn vốn
Marketing &
quan hệ đại
giúp khách hàng có nhu cầu gửi rút thường xuyên có thể tận dụng tối đa được
thời gian sinh lời của tiền gửi. Khách hàng có thể lựa chọn hình thức trả lãi
trước, trả lãi hàng tháng, hàng quý, hoặc trả lãi cuối kỳ. Toàn bộ tiền gửi của
khách hàng sẽ luôn được đảm bảo an toàn bằng khả năng bảo toàn vốn và
trách nhiệm bảo hiểm tiền gửi của khách hàng.
- Tiết kiệm định kỳ: Là sản phẩm đặc biệt dành cho những khách hàng có kế
hoạch cho một khoản mua sắm, chi dùng lớn trong tương lai. Thời hạn tiết
kiệm định kỳ có thể kéo dài từ 1 đến 15 năm, tuỳ theo kế hoạch của khách
hàng, ngân hàng sẽ tư vấn để khách hàng lựa chọn số tiền tiết kiệm mỗi kỳ,
định kỳ nộp và thời hạn tiết kiệm phù hợp nhất. Khi kết thúc kỳ hạn, nếu khách
hàng có nhu cầu, Techcombank sẵn sàng cho vay tới 75% tổng số chi phí mà
khách hàng dự định để giúp giấc mơ của khách hàng sớm thành hiện thực.
2.1.3.2. Tín dụng dành cho cá nhân
Với sự tinh thông về nghiệp vụ có được trong suốt quá trình từ khi thành
lập đến nay, với nền tảng khách hàng rộng lớn và sự chuyên nghiệp cùng kinh
nghiệm của đội ngũ nhân viên, Techcombank là một trong số những Ngân
hàng thương mại cổ phần hàng đầu trong lĩnh vực tín dụng bằng việc cung
cấp đa dạng các sản phẩm tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng cũng như kinh doanh.
- Cho vay kinh doanh hộ gia đình: Dành cho các gia đình có nhu cầu vay vốn
để kinh doanh phát triển kinh tế, phục vụ cho đời sống.
- Cho vay cổ phần hoá: Đáp ứng nhu cầu của cán bộ công nhân viên của các
doanh nghiệp nhà nước đang trong quá trình cổ phần hoá có thể có được số
vốn cần thiết để mua được lượng cổ phần mong muốn của doanh nghiệp mình.
- Cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm và chứng từ có giá: Là một cách thuận
tiện và nhanh chóng giúp khách hàng có gửi tiết kiệm tại Techcombank có
được lượng tiền bằng 100% giá trị sổ tiết kiệm trong ngắn hạn.
2.1.3.3. Dịch vụ ngân hàng dành cho cá nhân
- Thanh toán không dùng tiền mặt: Thông qua các công cụ Séc, Ngân phiếu,
Uỷ nhiệm thu, Uỷ nhiện chi
trung và dài hạn của các doanh nghiệp, Techcombank nhận tài trợ cho các dự
án đầu tư, giúp các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển cơ
sở hạ tầng bằng nguồn vốn của Techcombank hoặc cho vay hợp vốn.
2.1.3.6. Dịch vụ ngân hàng trọn gói
- Dịch vụ bảo lãnh: Techcombank cung cấp các nghiệp vụ bảo lãnh theo yêu
cầu của khách hàng, quy trình nhanh gọn, mức phí cạnh tranh.
- Dịch vụ thanh toán quốc tế: Techcombank là một trong những ngân hàng
thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam về khối lượng giao dịch và chất lượng
của dịch vụ thanh toán quốc tế cho các doanh nghiệp. Techcombank có nhiều
tài khoản của nhiều loại ngoại tệ tại các ngân hàng hàng đầu trên thế giới, với
mạng lưới hơn 300 ngân hàng đại lý trên toàn cầu, Techcombank đảm bảo hồ
sơ thanh toán của khách hàng sẽ được chuyển trực tiếp tới bất cứ đâu.
- Dịch vụ chuyển tiền nội địa: Với mạng lưới chi nhánh tại các đô thị lớn
cùng mối quan hệ đại lý với tất cả các ngân hàng trong cả nước, Techcombank
cung cấp dịch vụ chuyển tiền nội địa đáp ứng các nhu cấu thanh toán trong
nước của các khách hàng với thời gian nhanh nhất, đảm bảo chính xác, an
toàn và mức phí dịch vụ hợp lý.
Bên cạnh các dịch vụ trên, Techcombank còn cung cấp các dịch vụ dành cho
các định chế tài chính như dịch vụ trên thị trường liên ngân hàng, dịch vụ ngân
hàng đại lý và các dịch vụ ngân hàng đầu tư như dịch vụ uỷ thác, dịch vụ tư
vấn đầu tư…
2.1.4. Một số chỉ tiêu tài chính quan trọng đạt được qua một số năm
Đơn vị: Tỷ VNĐ
Năm
Chỉ tiêu
1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tổng doanh thu hoạt
động
76.32 70.74 80.47 80.19 149.03 200.48
Lợi nhuận trước thuế,
đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, môi trường pháp lý
không ngừng được hoàn thiện, sự quan tâm giúp đỡ của Ngân hàng nhà nước,
năm 2002 thực sự đã đánh đấu bước chuyển mình lớn, cơ bản và toàn diện của
Techcombank. Ngân hàng đã khắc phục được đà suy giảm tốc độ tăng trưởng
và hiệu quả thấp, trở thành một ngân hàng tăng trưởng mạnh, hiệu quả cao
nhưng vẫn an toàn và kiểm soát được. Tất cả các chỉ tiêu tài chính đều tăng
mạnh trong đó doanh thu hoạt động đã tăng từ 149.03 tỷ đồng năm 2001 lên
200.48 tỷ đồng năm 2002 (tăng 34.52%), lợi nhuận trước thuế và dự phòng
rủi ro tăng từ 17.50 tỷ đồng năm 2001 lên 45.55 tỷ đồng năm 2002
(tăng160.29%), vốn huy động tăng từ 2268.54 tỷ đồng năm 2001 lên 3907.36
tỷ đồng năm 2002 (tăng 72.24%) để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của
các doanh nghiệp và cá nhân. Hoạt động tín dụng cũng tăng trưởng mạnh, từ
1424.73 tỷ đồng năm 2001 lên 1987.62 tỷ đồng năm 2002 (tăng 39.51%), cơ
cấu tăng phù hợp với mục tiêu của Techcombank là tập trung cho vay đối với
các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các cá nhân.
2.2. Hoạt động của hội sở Ngân hàng thương mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt
Nam
2.2.1. Hoạt động huy động vốn
Sau những khó khăn chung ban đầu của toàn hệ thống, được sự chỉ đạo
đúng đắn, kịp thời của ban lãnh đạo cùng với nỗ lực không ngừng của toàn thể
cán bộ công nhân viên, tất cả các mặt hoạt động của hội sở Techcombank đều
đạt kết quả khả quan, các cá nhân và doanh nghiệp tìm đến hội sở ngày một
đông, không chỉ có các cá nhân và tổ chức kinh tế trong nước mà còn có cả các
cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài. Kết quả huy động vốn của hội sở
Techcombank đạt được qua một số năm như sau:
Đơn vị: tỷ VNĐ
Năm
Chỉ tiêu
2000 2001 2002
- Theo đối tượng
tổng lượng tiền phát sinh trên tài khoản thanh toán và tiền gửi vốn chuyên
dùng của các tổ chức kinh tế và cá nhân đạt khoảng 400 tỷ vào năm 2002, tăng
1.7 lần so với năm 2001 và tăng gần 2.5 lần so với năm 2000. Sự tăng trưởng
về hoạt động thanh toán đã góp phần không nhỏ đưa nguồn huy động từ tài
khoản thanh toán không kỳ hạn tăng mạnh, với tổng số dư đạt 199.64 tỷ đồng
năm 2002, tăng 40.8% so với năm 2001. Cùng với nguồn huy động từ tiền gửi
thanh toán, nguồn tiền gửi ký quỹ thanh toán và bảo lãnh cũng đóng góp 72 tỷ
VNĐ vào năm 2002.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên, hội sở Techcombank cũng phải
đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Sự kiện 11/9 tại Mỹ làm lãi suất ngoại
tệ liên tục giảm nhanh đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ huy động vốn của
ngân hàng, đặc biệt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (hiện nay cơ cấu vốn
của Techcombank vẫn đang trong tình trạng thiếu ngoại tệ), quyết định của
Ngân hàng nhà nước về việc áp dụng lãi suất thoả thuận một mặt tăng tính
chủ động cho các ngân hàng nhưng mặt khác cũng làm cạnh tranh lãi suất
giữa các ngân hàng diễn ra mạnh mẽ hơn. Chính vì vậy, trong năm 2002,
nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế của hội sở chỉ đạt 97% so
với kế hoạch và so với sự tăng trưởng tín dụng thì chưa tương xứng. Trong 2
năm tới, nếu không tăng nguồn vốn từ thị trường này,
Techcombank sẽ gặp phải nhiều khó khăn trong việc phát triển các hoạt động
nhất là hoạt động tín dụng.
2.2.3. Công tác sử dụng vốn
Được coi là một trong những mặt hoạt động quan trọng nhất của ngân
hàng, hoạt động sử dụng vốn luôn được lãnh đạo Techcombank quan tâm, theo
dõi và đưa ra biện pháp kịp thời trong trường hợp cần thiết. Do đó, doanh số
cho vay không ngừng tăng trong khi tình trạng nợ quá hạn vẫn kiểm soát
được:
Đơn vị: Tỷ VNĐ
Năm
Chỉ tiêu
tăng nhanh trong khi vốn huy động phần lớn là ngắn hạn, điều này đòi hỏi hội
sở phải tìm cách tự cân đối giữa cơ cấu huy động và cho vay để đảm bảo sự
lành mạnh, an toàn cho hoạt động của mình.
+ Nếu xét theo thành phần kinh tế thì cho vay đối với khu vực doanh nghiệp
tư nhân, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn tăng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng dư nợ (vì mục tiêu của Techcombank là hướng vào nhóm các doanh
nghiệp vừa và nhỏ). Đây là một hướng mới vì trước đây, hầu hết các ngân
hàng đều tập trung cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước, nhưng từ sau
quá trình cơ cấu lại, số lượng các doanh nghiệp được cổ phần hoá tăng, số
lượng các doanh nghiệp tư nhân, trách nhiệm hữu hạn được cấp giấy phép
hoạt động cũng tăng (thủ tục đơn giản hơn) thì Techcombank thấy rằng đây là
thị trường tiềm năng lớn nhưng chưa được các tổ chức tín dụng quan tâm
đúng mức nên đã xác định đây sẽ là thị trường để Techcombank khai thác
trong hiện tại và tương lai.
Như vậy, nếu xét theo từng khía cạnh có thể thấy cơ cấu dư nợ tăng không
đồng đều nhưng nếu xét trên tất cả các mặt, hoạt động cho vay của hội sở
trong thời gian qua có mức tăng trưởng nhanh, nguyên nhân là do: Đối với
dân cư, Techcombank đã triển khai một loạt các sản phẩm mới như “chương
trình nhà mới”, “chương trình ô tô xịn”, cho vay cổ phần hoá, cho vay cầm cố sổ
tiết kiệm, cho vay du học…. Các sản phẩm này đã góp phần xoá đi những vùng
trắng thiếu vắng sản phẩm của Techcombank tại các phân đoạn đang phát
triển. Đối với doanh nghiệp, Techcombank thực hiện chuyển đổi cơ cấu cho vay,
tăng dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong khi vẫn
duy trì tổng dư nợ cho vay gần như không đổi đối với doanh nghiệp nhà nước.
2.2.4. Hoạt động dịch vụ
Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, các hoạt động dịch vụ ngân hàng
trong năm qua cũng đạt mức tăng trưởng tốt, nổi bật trong số đó là các dịch
vụ thanh toán và bảo lãnh. Với nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng
quan hệ thanh toán với các tổ chức tín dụng nước ngoài, việc chuyển đổi cơ
cấu tổ chức theo mô hình một cửa cũng đóng góp không nhỏ vào kết quả của
vào đánh giá chi tiết từng khách hàng, từng ngành nghề và từng khoản vay
chưa thực hiện được, do đó ngân hàng chưa có khả năng dự báo và phát hiện
sớm rủi ro tiềm ẩn để có biện pháp xử lý hữu hiệu.