HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THỰC HIỆN CỦA NỀN KINH TẾ MỞ HƯỚNG TỚI HỘI NHẬP - Pdf 64

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THỰC HIỆN CỦA NỀN KINH
TẾ MỞ HƯỚNG TỚI HỘI NHẬP.
Như đã được đề cập đến ở phần đặt vấn đề cho chế tài này, chương này sẽ
cố gắng đưa ra các mục tiêu tổng quát cho CSTG gắn với mô hình CNH bền
vững hướng tới hội nhập mà chúng ta đang thực hiện. Đồng thời, chương này
cũng đưa ra một số ý kiến nhằm cải cách cơ chế quản lý điều hành tỷ giá trong
bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực và áp lực ngày càng lớn của
các chương trình hội nhập đã cam kết (tự do hoá).
Khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra đã làm thay đổi các giá trị của mô
hình tăng trưởng Đông Á, đặt ra đòi hỏi cao hơn cho các chuẩn mực tài chính -
tiền tệ khu vực, quốc tế. Mỗi quốc gia phải nỗ lực thực hiện các đổi mới cần
thiết để lành mạnh hoá hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia nâng cao năng lực
nội tại nền kinh tế góp phần tạo dựng một cơ chế tài chính lành mạnh chung
cho sự thịnh vượng chung của khu vực. Chúng ta không nằm ngoài yêu cầu đó.
1-/ Về mô hình công nghiệp hoá bền vững hướng tới hội nhập.
Mô hình công nghiệp hoá theo hướng thay thế nhập khẩu với tư tưởng
“tự lực cánh sinh” được các nước lớn với đầy đủ nguồn lực phát triển như
Trung Quốc, Ấn Độ áp dụng đã sụp đổ vào những năm 1960. Trung Quốc đã
phải thừa nhận rằng: sự biệt lập kéo dài đã bỏ lỡ bao cơ hội có lợi, tạo hố ngăn
cách về công nghệ, giảm sức cạnh tranh, chi phí đắt cho công nghiệp hoá bởi
sự sử dụng lãng phí nguồn lực phát triển và thu hẹp thị trường phát triển.
Mô hình công nghiệp hoá hướng tới xuất khẩu ra đời và được các nước
nhỏ như Hàn Quốc, Thái Lan, Brazil... áp dụng đã đem lại thành công rực rỡ
trong gần 30 năm qua. Mô hình này dự trên phương châm: Các nước đang
phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá bằng cách tận dụng các
nguồn lực bền ngoài. Trước hết là thị trường, vốn và công nghệ. Tuy nhiên, sự
quá coi trọng các nguồn lực, bên ngoài này của mô hình đã đem lại hậu quả là
sự yếu kém, mất cân đối ở bên trong các quốc gia tạo ra sự sụp đổ nhanh
chóng khi có sự biến động bất ngờ của nguồn lực, môi trường bên ngoài.
Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á vừa rồi là một minh chứng cho điều này.
Người ta tìm thấy trong cuộc khủng hoảng này không chỉ các sai sót, yếu kém

trọng trong thúc đẩy đất nước phát triển.
Về thể chế, mô hình này rất coi trọng vai trò của đất nước trong việc tạo
dựng ra các môi trường hợp lý và can thiệp vào các quá trình phát triển. Nó
cho rằng, trong điều kiện hiện nay, việc xây dựng một thể chế theo hướng hội
nhập là rất quan trọng. Thông qua cơ chế mở, tự do hoá thương mại, đầu tư,
dịch vụ tài chính và lao động có thể tận dụng được các nguồn lực bên ngoài
một cách hữu hiệu. Tuy nhiên để có được điều đó cần phải có sự tham gia quản
lý của Nhà nước trong việc thực hiện các cân đối lớn (điều tiết) trong nền kinh
tế. Họ cho rằng, việc tự do không có sự quản lý (can thiệp) của Nhà nước sẽ rất
nguy hiểm cho các nước đang phát triển, vì phần lớn các lợi thế so sánh quốc
tế nằm ở bên đối tác và Nhà nước sẽ là người đem lại và nuôi dưỡng các đối
trọng cho quốc gia trong việc phát huy lợi thế của mình (thông qua các biện
pháp bảo hộ cấp cao, tạo dựng các tập đoàn, hỗ trợ, phát triển ...).
Mô hình này cho rằng, Nhà nước nên gắn bó với tư nhân (Nhà nước thân
tư nhân) tạo điều kiện cho tư nhân phát triển. Nếu Nhà nước và tư nhân đều
mạnh và gắn bó với nhau thì công nghiệp hoá sẽ rất nhanh chóng. Nhà nước
luôn tìm cách tạo khả năng cho các đơn vị kinh tế tư nhân trong nước và tư
bản nước ngoài lựa chọn các lĩnh vực và hình thức hoạt động. Thành phần
kinh tế Nhà nước đảm nhận những lĩnh vực kinh tế tư nhất ít quan tâm nhất
hoặc chưa thể cáng đáng nổi. Khi mà kinh tế tư nhân đủ mạnh để cáng đáng
các lĩnh vực này thì Chính phủ nên nhường lại cho họ và bắt tay vào các lĩnh vực
mới khó khăn hơn.
Quá trình xây dựng thể chế theo hướng hội nhập, từng bước tự do hoá
phải được đặt trong một kế hoạch tổng thể thông qua việc thực hiện các cam
kết với các tổ chức khu vực và thế giới (AFTA, APEC, WTO).
Ở mô hình này, vai trò của Nhà nước trong việc tạo dựng một môi trường
vĩ mô ổn định là vô cùng quan trọng. Nó phải đảm bảo được các cân đối lớn
của nền kinh tế như ngân sách, cán cân thanh toán và đặc biệt là giữa tiết
kiệm và đầu tư. Chính vì vậy, vai trò của các chính sách tiền tệ - tài chính là vô
cùng quan trọng. Về thực chất, nó phải phát huy các yếu tố tích cực của sự kích

chính - tiền tệ khu vực vừa qua đã để lộ những hạn chế cơ bản của mô hình
này đòi hỏi chúng ta phải kịp thời tiếp thu và điều chỉnh mô hình. Nghị quyết
Trung ương 4 và Nghị quyết Trung ương 6 lần I của Ban chấp hành Trung
ương Đảng đã chứng tỏ sự tiếp thu và điều chỉnh kịp thời phương hướng phát
triển của nước ta. Xét về cơ bản thì chúng ta đang thực hiện công nghiệp hoá
một cách bền vững, thực hiện hướng ngoại và từng bước hội nhập khu vực và
thế giới.
2-/ Đối mặt với khủng hoảng và thách thức hội nhập.
2.1-/ Đối mặt với khủng hoảng:
Những người quá sốt sắng và tin tưởng vào sự thành công mỹ mãn của
mô hình tăng trưởng Đông Á đã chuyển sang thái cực ngược lại khi khủng
hoảng nổ ra. Họ muốn tìm đến một nguyên nhân sâu sa đằng sau sự thần kỳ đó
để đưa đến khủng hoảng. Giới báo chí, các nhà kinh tế, nhà đầu tư đã thảo
luận nhiều về vấn đề này và ở góc độ tài chính - tiền tệ ta có thể tóm lại như
sau:
- Thứ nhất, đó là sự mất cân đối trong cơ cấu phát triển của các nước
khủng hoảng. Họ đã quá coi trọng khu vực kinh tế thực (khu vực kinh doanh),
chỉ choi khu vực tài chính là sự hỗ trợ cho khu vực kinh tế thực cho nên đã quá
coi nhẹ trong việc xây dựng sự vững mạnh của khu vực này.
- Thứ hai, bản thân khu vực/ hệ thống tài chính tiền tệ yếu kém đã không
đáp ứng kịp sự phát triển của khu vực sản xuất và điều tiết tốt nguồn lực tài
chính. Thể hiện ở chỗ: sự quản lý không đồng đều, thiếu chặt chẽ, bị sự can
thiệp, bóp méo của chính trị do đó không đảm bảo sự rõ ràng.
- Thứ ba, sự quản lý vĩ mô yếu kém: thiếu linh hoạt, nhạy bén trên cơ sở
thị trường, thâm hụt ngân sách lớn, kéo dài, vay nợ tư nhân cao và không có
một cơ chế quản lý nợ chặt chẽ, sự cứng nhắc trong duy trì chính sách tỷ giá cố
định.
- Thứ tư, thâm hụt cán cân vãng lai lớn cộng với sự mất cân bằng nội lực
đã làm giảm khả năng thanh toán (tính lỏng), không có khả năng phòng ngự
đối với những thay đổi.

Những điều chỉnh sau khủng hoảng của các nước đã tăng khả năng chịu đựng
của họ và đương nhiên là sức bật vì thế cũng tăng lên. Nếu không có sự điều
chỉnh kịp thời ở ta thì thực sự ta không thể theo kịp và hơn họ.
* Thứ tư, các tiêu chuẩn quốc tế, khu vực ngặt nghèo hơn sau khủng
hoảng đòi hỏi ta phải nỗ lực nhiều hơn cho tiến trình hội nhập.
Tuy nhiên, những nguy cơ này chưa thực sự đáng lo ngại mà điều lo ngại
hơn đó là hiện trạng kinh tế - tài chính của ta đang bộc lộ những nhân tố, tiềm
ẩn có thể gây khủng hoảng. Việt Nam có thể sẽ bị khủng hoảng chúng ta đã
quá quen với câu nói rằng: Việt Nam không bị ảnh hưởng nặng nề của khủng
hoảng bởi vì Việt Nam chưa có thị trường chứng khoán, đồng VND chưa có
khả năng chuyển đổi, ... Nhưng giờ đây thì đã hoàn toàn khác. Chúng ta đã kỳ
vọng rằng sự suy giảm của các nước khủng hoảng sẽ là cơ hội cho Việt Nam
bắt kịp. Những hai năm qua đã chứng tỏ rằng chính chúng ta đang gặp phải
những dấu hiệu (khó khăn) tương tự như các nước khủng hoảng. Và như vậy,
nếu không kịp thời chỉnh đốn, chúng ta sẽ rất có thể bị lâm vào khủng hoảng ở
mức độ nào đó.
Thứ nhất, trong hai năm qua, tốc độ tăng trưởng suy giảm nhanh chóng.
Trong suốt giai đoạn 1992 - 1996, chúng ta duy trì được tốc độ tăng trưởng
cao trên 9%. Nửa cuối năm 1997, tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại làm
tốc độ cả năm đạt 8,8%. Năm 1998, Quốc Hội đã phải điều chỉnh kế hoạch từ
6% - 7%. Nhưng thực tế chúng ta chỉ đạt 5,83%. Năm 1999 và 2000 được dự
báo chỉ đạt tốc độ tăng trưởng dưới 5%. Điều này có thể dễ nhận thấy khi mà
sự tăng trưởng của ta trong thời gian qua đã phụ thuộc quá nhiều vào các
nguồn lực bên ngoài (đầu tư nước ngoài chiếm tới 10% (hoặc hơn) vào GDP).
Thứ hai, thâm hụt cán cân vãng lai ở mức báo động: luôn ở tình trạng
thâm hụt kéo dài và mức thâm hụt chiếm tỷ lệ cao so với GDP. (trên 5%) (Bảng
3.1) so với của Thái Lan hay Mehico thì lớn hơn nhiều.
Qua bảng ta thấy, tỷlệ thâm hụt quá cao mà đối với một nền kinh tế mở
thì rất không nên tình trạng thâm hụt cao và kéo dài ở cả cán cân thương mại,
tài chính và ngân sách.

* Nước ngoài 22 29,9 40,5 39,2 38,3 38,9
- Từ FDI 22 26,4 31,8 33,9 33,9 33,9
- Từ ODA 0 3,5 8,7 5,3 4,4 5,0
Nguồn - Vietnam Economics - TS. Lê Khoa
Trong thời gian tới, nguồn FDI của ta giảm do khủng hoảng, trong khi nhu
cầu vốn cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá cao (20 tỷ USD trong 42 tỷ từ 96 -
2000)
Cơ cấu đầu tư dàn trải 1 tập trung và kém hiệu quả làm giảm khả năng
trả nợ. Đặc biệt sự sử dụng sai mục đích ở các nguồn ODA và từ ngân sách.
Thứ năm, việc phân bổ các nguồn tín dụng của ta không hiệu quả, các
nguồn tín dụng ưu đãi cho các Tổng Công ty, các Công ty Nhà nước theo hình
thức tín chấp đôi khi không hiệu quả trong khi khối tư nhân đang thiếu vốn
trầm trọng. Người ta đã nhắc đến sự nguy hiểm của các Cheabol ở Việt Nam.
Chúng ta cũng đủ biết rằng doanh nghiệp Việt Nam có tỷ lệ vốn tự có thấp
(20%) thì vốn vay Ngân hàng quan trọng như thế nào. Tuy nhiên với cơ chế
quản lý tín dụng hiện tại, không nhiều doanh nghiệp có thể tiếp cận được tới
nguồn tín dụng Ngân hàng, trong khi vốn đi đúng tằng tại Ngân hàng, chất
lượng tín dụng của ta thực sự kém và thiếu rõ ràng.
Bảng 3.4 - Cơ cấu tín dụng theo đối tượng của Việt Nam
Nguồn - Vietnam Banking Review, số 44 ngày 29 - 10 - 1998
Bảng 3.5 - Tình hình sự quá hạn của các Ngân hàng Thương mại Việt
Nam
Nguồn - Ngân hàng Nhà nước - Báo cáo thường niên - Vụ tín dụng
Từ những nét khái quát cơ bản trên đây, ta thấy tình hình kinh tế tài
chính nước ta không mấy sáng sủa. Nếu không muốn nói là khủng hoảng như
Thủ tướng Phan Văn Khải, trong kỳ họp quốc hội khoá X đã nói: Cần nhìn
thẳng vào sự thật. Đương nhiên, chúng ta không thể để tình trạng này tồn tại.
Nhưng vấn đề chỉ được giải quyết khi chúng ta thực sự bắt tay vào làm và đẩy
mạnh hơn nữa tiến trình cải cách.
2.2-/ Thách thức của hội nhập.

ta đã quyết tâm thúc đẩy tiến trình hội nhập và hội nhập một cách chắc chắn
và thành công.
Trong những năm qua, chúng ta đạt được những bước tiến lớn trong quá
trình hội nhập khu vực: thành viên ASEAN (đang thực hiện giai đoạn II chương
trình AFTA), thành viên APEC và đang xúc tiến thực hiện gia nhập WTO. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, tiến trình hội nhập bị chậm lại, phải chăng
chúng ta đã vấp phải những thách thức thực sự của quá trình này chứ không chỉ
đơn giản là những thoả thuận trên bàn đàm phán ? Thực sự là như vậy. Với
chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá chúng ta có thể thấy rõ qua những nét cơ
bản sau:
Thứ nhất, việc tự do hoá thương mại bước đầu và tiếp tới đòi hỏi việc xóa
bỏ các công cụ bảo hộ mậu dịch đi kèm với các chương trình cắt giảm thuế
chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn thu quan trọng của ngân sách. Trong
nhiều năm qua, ngân sách chúng ta đã bị thâm thủng và theo dự báo của WB,
nếu không có sự cải cách tích cực thì ngân sách của chúng ta vẫn ở mức thâm
hụt gần 2% (sau khi đã có sự tài trợ của các tổ chức quốc tế). Sự thâm hụt
ngân sách kéo dài chắc chắn sẽ dẫn đến việc vay nợ trong và ngoài nước, tác
động lên cân đối cung - cầu ngoại tệ, dự trữ ngoại tệ quốc gia.
Tiếp đến, việc xoá bỏ dần các chế độ bảo hộ mậu dịch chuyển sang các chế
độ bảo hộ phi mậu dịch rồi tự do đòi hỏi phải có các biện pháp hỗ trợ để bảo
hộ nền sản xuất nội địa như: các chương trình tín dụng ưu đãi, các trợ cấp
thương mại, bảo hộ thông qua giá (thực hiện tỷ giá cao làm tăng giá hàng
nhập).
Bên cạnh đó, chương trình tự do hoá thương mại cần được hỗ trợ bằng
việc duy trì tỷ giá thấp hơn tỷ giá thực từ 10 - 15%. Kinh nghiệm của các nước
trước và dường như được tiếp nhận như một điều kiện cần thiết). Điều đó đòi
hỏi phải có các biện pháp hỗ trợ kéo theo như thắt chặt tài chính, ổn định kinh
tế vĩ mô. Đối với chúng ta, tự do hoá thương mại là một sự lựa chọn chính sách
chứ không phải là một áp lực tất yếu. Tuy nhiên, dù gì đi nữa thì tự do hoá luôn
đi kèm với đòi hỏi phải linh hoạt và hiệu lực hơn trong sự quản lý của Nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status