CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng thẩm định Sáng kiến Phòng GD&ĐT huyện Hoa Lư
Họ và tên
Ngày tháng
năm sinh
Nơi công tác
Chức vụ
Trình độ chuyên
môn
Trường THCS
Đại học
Giáo viên
Ninh An
Ngữ Văn
I. Tên sáng kiến kinh nghiệm
Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề theo định hướng phát triển năng
lực học sinh trong dạy học lịch sử lớp 8, phần lịch sử thế giới cận đại (từ giữa thế
kỉ XVI đến năm 1917).
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
1. Giải pháp cũ thường làm
Thực tế trong giảng dạy, đa số giáo viên đã cố gắng thay đổi phương pháp
giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh như phương
pháp sử dùng đồ dùng trực quan, đàm thoại, ... tuy nhiên phương pháp chủ đạo vẫn
trong lớp, chưa có câu hỏi giành cho đối tượng học sinh yếu. Cho nên đối tượng
học sinh yếu ít được chú ý và không được tham gia hoạt động, điều này làm cho
các em thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm thấy chán nản môn học của
mình.
+ Về phía học sinh :
- Học sinh chưa có sự độc lập tư duy, nhiều em còn đọc y nguyên sách giáo
khoa để trả lời câu hỏi mà chưa biết chắt lọc các chi tiết, sự kiện để trả lời trúng
vào nội dung cô giáo yêu cầu. Nhiều em còn lười học và chưa có sự say mê môn
học, một số bộ phận học sinh không chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy
đủ, chưa có sự đầu tư tìm hiểu các thông tin trên mạng, trên lớp các em thiếu tập
trung suy nghĩ. Cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, ...
còn yếu.
- Học sinh chỉ có trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình bày),
còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh, ... thì học sinh còn rất
lúng túng khi trả lời hoặc trả lời thì mang tính chất chung chung.
* Điều tra cụ thể :
- Bản thân tôi giảng dạy môn lịch sử lớp 8A, 8B. Trong quá trình giảng
dạy ,vừa tiến hành rút kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy, thông qua hỏi đáp với những
câu hỏi phát triển tư duy học sinh ở trên lớp, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 45 phút.
Kết quả điều tra tôi nhận thấy đa số học sinh chỉ trả lời được những câu hỏi mang
tính chất trình bày, còn những câu hỏi giải thích tại sao, so sánh, đánh giá nhận
thức thì các em còn rất lúng túng khi trả lời. Do vậy kết quả điều tra cũng không
cao.
Cụ thể:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Số bài
32,4 0
2. Giải pháp mới cải tiến
Dạy học nêu vấn đề để phát huy tính tích cực của học sinh theo định hướng
phát triển năng lực trong dạy học lịch sử thế giới cận đại không phải là một
phương pháp riêng, mà là một kiểu dạy học được tiến hành thông qua sự liên kết
nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao
chất lượng dạy học, phát triển năng lực cho học sinh như: năng lực giải quyết vấn
2
đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ, … Nói cách
khác đây là một hình thức tổ chức sự tìm tòi kiến thức mới trong quá trình học tập
thông qua việc giải quyết các vấn đề. Có nghĩa là khi tiến hành dạy học nêu vấn đề
để phát huy tính tích cực của học sinh chúng ta sẽ thực hiện nhiều phương pháp
khác đi kèm như: Giải thích, phân tích, sử dụng đồ dùng trực quan có sự hỗ trợ của
công nghệ thông tin, đánh giá, nhận xét nêu ra bản chất, quy luật của vấn đề lịch sử
và nâng cao lên là quy luật lịch sử để đi đến đích đó là phát triển năng lực cho học
sinh đó là sự tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển
năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa ghi chép, tìm kiếm thông tin, ...) trên cơ
sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập sáng tạo, tư duy. Đồng thời sử dụng
phương pháp nêu vấn đề sẽ giúp học sinh tự nhận xét, đánh giá rút ra bài học lịch
sử từ những sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, biết vận dụng, liên hệ kiến thức
lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn đặt ra, từ đó thể hiện
chính kiến của mình về các vấn đề lịch sử.
Như vậy, dạy học nêu vấn đề để phát huy tính tích cực theo định hướng phát
triển năng lực học sinh nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải
quyết vấn đề là cách tổ chức dạy học gồm 3 yếu tố cơ bản sau:
* Bước thứ nhất: Dựa vào bài học tạo ra tình huống có vấn đề
Tính huống có vấn đề là trạng thái tâm lý của sự khó khăn về trí tuệ đòi hỏi
có tính trừu tượng, khái quát tức là những khái niệm, bài học, quy luật chứ không
phải là những sự kiện lẻ tẻ rời rạc.
Thứ ba: Là điều kiện về mặt sư phạm đó là tính vừa sức, vấn đề trong tình
huống có vấn đề không quá dễ cũng không quá phức tạp đối với trình độ học sinh.
Ở đây những điều chưa biết nhưng cần phải biết ở mức độ khó nhất định so với
vốn kiến thức có sẵn của học sinh. Mặt khác tình huống có vấn đề cũng phải chứa
đựng trong đó một yếu tố nào đó làm điểm xuất phát cho sự suy nghĩ tìm tòi sáng
tạo của học sinh và mức độ khó phải được nâng cao dần trong quá trình nhận thức.
* Bước thứ hai: Biểu đạt tình huống có vấn đề để phát huy tính tích cực
của học sinh trong bài giảng của giáo viên
Dạy học nêu vấn đề để phát huy tính tích cực của học sinh đặt ra yêu cầu cao
đối với giáo viên. Khi xuất hiện tình huống có vấn đề, giáo viên phải tìm cách biểu
đạt như thế nào để phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học và
phương pháp nêu vấn đề diễn ra có hiệu quả .
Trước hết bài trình bày của giáo viên phải đặt học sinh vào trạng thái tâm lý
đặc biệt - một trong những điều kiện để tạo tình huống có vấn đề. Lúc đó ở học
sinh xuất hiện thắc mắc, hoài nghi mâu thuẫn trong nhận thức. Vì thế học sinh tò
mò nhu cầu nhận thức cái chưa biết xuất hiện. Điều quan trọng là giáo viên phải
khéo léo đặt ra vấn đề và gợi được sự hứng thú nhận thức của học sinh. Học sinh
chỉ hứng thú nghe giáo viên giảng khi bài học cung cấp những kiến thức mới, khi
giáo viên giảng sinh động lôi cuốn kích thích học sinh tìm tòi học hỏi thêm ngoài
những điều đã lĩnh hội trên lớp.
Thứ hai cũng qua trình bày, giáo viên phải nêu được “vấn đề” trong tình
huống có vấn đề, tức là những kiến thức có tính trừu tượng, khái quát nhất định.
Những vấn đề này học sinh chưa biết nhưng do yêu cầu nhận thức, bắt buộc học
sinh phải biết song phải đảm bảo tính vừa sức.
Thứ ba trong dạy học nêu vấn đề, giáo viên có thể đặt ra tình huống có vấn
đề cơ bản và những tình huống phụ trợ để giải quyết tình huống có vấn đề cơ bản.
Thứ tư bài trình bày của giáo viên khi gợi ra tình huống có vấn đề phải tạo ra
có vấn đề thu nhận các liên hệ ngược, giáo viên còn phải dựa vào đối tượng và biết
cách xác định trình độ nhận thức của học sinh, từ đó đưa ra tình huống có vấn đề
mà các em có thể giải quyết được. Qua thực tế giảng dạy trực tiếp tôi thấy dạy học
nêu vấn đề thường được tiến hành dưới dạng: Nêu câu hỏi đặt vấn đề với câu hỏi
“Vì sao”, hay “Tại sao”, bằng hai phương pháp cụ thể áp dụng dạy học nêu vấn
đề theo định hướng phát triển năng lực học sinh như sau:
a. Phương pháp trao đổi, đàm thoại nêu vấn đề
Trước tiên giáo viên nêu vấn đề định hướng nhận thức cho học sinh kích
thích sự chú ý của các em cần tìm tòi giải quyết nội dung bài học, học sinh có thể
thông qua “tự làm việc” với sử liệu, sách giáo khoa và trao đổi nhóm với nhau, dựa
5
trên cách tổ chức và gợi ý của thày, dưới sự chỉ đạo của thày, sau đó các em trình
bày kết quả nhận thức của mình về vấn đề đó, cuối cùng giáo viên là người kết
luận, giải thích làm sáng tỏ vấn đề qua đó đạt mục đích dạy học nêu vấn đề. Việc
trao đổi đàm thoại trong dạy học lịch sử được tiến hành dưới dạng sau:
+ Nêu vấn đề để tìm tòi, phát hiện kiến thức ở hoạt động tạo tình huống
học tập
* Đối với giáo viên
Tổ chức hoạt động tạo tình huống học tập bằng hình ảnh, tư liệu, câu hỏi cho
học sinh nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập. Đây là trường hợp nêu vấn đề lớn khi
hướng dẫn học sinh tìm hiểu một vấn đề xuyên suốt một tiết học. Những câu hỏi
này là những vấn đề cơ bản của bài học mà học sinh phải nắm. Khi nêu vấn đề ra
tức là giáo viên đang gieo vào học sinh sự tập trung suy nghĩ, đòi hỏi các em tự
mình tìm tòi muốn đựơc khám phá. Tuy nhiên vấn đề cô giáo đưa ra không yêu cầu
các em có thể trả lời ngay mà phải thông qua tìm hiểu một loạt các sự kiện trong
tiết học các em mới có thể trình bày và hiểu sâu sắc được. Trong quá trình hướng
dẫn học sinh tìm hiểu nội dung cụ thể trong bài giáo viên sẽ sử dụng kết hợp với
trên phản ánh điều gì? Em biết gì về điều kiện lao động, sinh hoạt của công nhân
thế kỉ XIX? Tổ chức nào dứng ra bảo vệ quyền lợi của công nhân.Từ đó thấy được
những vất vả của công nhân trong lao động và đó là nguyên nhân dẫn đến phong
trào đấu tranh của công nhân.
- Khi dạy bài 5.“Công xã Pa ri 1871”(Sgk lịch sử 8 trang 35), giáo viên nêu
câu hỏi đầu tiết học: Vì sao nói “Công xã Pa ri là một hình ảnh thu nhỏ của nhà
nước kiểu mới – nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Câu hỏi vì sao sẽ kích thích trí
tò mò của học sinh, từ đó lôi cuốn các em say mê, tìm hiểu bài học dưới sự hướng
dẫn của cô giáo để rồi cuối bài các em trả lời được câu hỏi mà cô giáo nêu ra.
- Tương tự như vậy, giáo viên nêu vấn đề ở hoạt động khởi động đối với bài
13: “Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918)”(Sgk lịch sử 8 trang 70), giáo viên
kích thích nhận thức, sự ham hiểu biết của học sinh bằng cách cho học sinh xem
đoạn clip về chiến tranh thế gới, sau đó hỏi: Đoạn clip nói về sự kiên lịch sử nào?
Em hiểu gì về sự kiện lịch sử đó?
Như vậy, đối với một số bài học khi áp dụng phương pháp nêu vấn đề để tìm
tòi phát hiện kiến thức mới ở đầu giờ học giáo viên đã góp phần giúp các em hình
thành các phẩm chất tự lập, tự tin, tự chủ, tinh thần vượt khó và những năng lực tự
học để khám phá, tìm tòi kiến thức mới, năng lực sáng tạo gợi sự hứng thú, tự do
suy nghĩ, chủ động nêu ý kiến, không quá lo lắng về tính đúng sai của ý kiến. Từ
đó kích thích sự tò mò, lòng khát khao mong muốn tìm hiểu những điều chưa biết
ở hoạt động hình thành kiến thức mới của bài học.
+ Nêu vấn đề để tìm tòi phát hiện kiến thức mới và phân tích kiến thức ở
hoạt động hình thành kiến thức.
Trong trường hợp này chúng ta sử câu hỏi nêu vấn đề về sự phát sinh các sự
kiện, hiện tượng lịch sử mà chúng ta thường hỏi về nguyên nhân, điều kiện, bối
cảnh hay hoàn cảnh lịch sử của sự kiện, hiện tượng lịch sử và thường áp dụng cho
đối tượng học sinh yếu kém. Ví dụ:
- Khi dạy bài 3 mục I “Cách mạng công nghiệp”(Sgk lịch sử lớp 8 trang 18),
giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh và nêu câu hỏi:Tại sao cách mạng công
nghiệp lại diễn ra ở Anh trước tiên? Vì sao nền kinh tế của Anh, nửa đầu thế kỷ
kiến thức đã học với kiến thức vừa mới tiếp nhận có hệ thống rồi rút ra nhận xét
đánh giá sự kiện hoặc nhân vật lịch sử, có sự so sánh tìm thấy điểm giống hoặc nét
độc đáo trong lịch sử, từ đó rút ra bản chất của sự kiện hiện tượng.Ví dụ:
- Khi dạy xong bài 2: “Cách mạng tư sản Pháp”( Sgk lịch sử 8 trang 10),
giáo viên đặt câu hỏi để học sinh thảo luận nhóm: Cách mạng tư sản ở các nước
châu âu diễn ra dưới những hình thức nào? Tại sao các cuộc các mạng tư sản diễn
ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng đều là cuộc cách mạng tư sản? Giáo viên
gợi mở:Tuy giai cấp lãnh dạo cách mạng tư sản ở mỗi nước khác nhau nhưng đều
có mục đích lật đổ chế độ phong kiến quét sạch mọi chướng ngại, cản trở kìm hãm
cách mạng mở đưòng cho các nước chuyển mình sang chế độ tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên mức độ thành công ở mỗi nước có khác nhau.
- Khi dạy xong bài 6: “Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ cuối thế kỉ XIX- đầu
Thế kỉ XX”( SGK lịch sử 8 trang 39), giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận: Tại
8
sao gọi Anh là “Chủ nghĩa đế quốc thực dân”, Pháp là “Chủ nghĩa đế quốc cho vay
lãi”, Đức là “Chủ nghĩa quân phiệt hiếu chiến”, Mĩ là “xứ sở của các ông vua ô
tô”? Đây là đặc điểm nổi bật của các đế quốc, khi nhìn vào người ta thấy những
đặc điểm đó rõ nhất và nêu được bản chất của các đế quốc Anh, Pháp, Đức, Mĩ.
Với các câu hỏi nêu vấn đề tổng hợp này giáo viên có thể cho các em thảo
luận cặp, bàn hoặc nhóm. Từ nội dung các câu hỏi, từ phương pháp tổ chức giáo
viên tiếp tục giúp các em học sinh rèn luyện các năng lực sáng tạo, quản lí, giao
tiếp, hợp tác với các thành viên trong nhóm và năng lực sử dụng ngôn ngữ để nêu
ý kiến trình bày vấn đề thảo luận.
b. Phương pháp quan sát nêu vấn đề
Đây cũng là một dạng nêu vấn đề thông qua phương pháp sử dụng đồ dùng
trục quan. Phương pháp này yêu cầu tương đối cao đối với học sinh, các em tự
mình tìm hiểu tranh ảnh, lược đồ thông qua kênh chữ ít ỏi để suy xét phán đoán
sao công nhân đấu tranh, khơi gợi sự đồng cảm, thấy được giá trị tốt đẹp của cuộc
sống hôm nay mà các em đang sống, đang được hưởng thụ, từ đó các em sẽ sống
tốt hơn, trách nhiệm hơn với gia đình và xã hội. Như vậy, trong quá trình giảng dạy
ở trên lớp, giáo viên phải luôn biết đặt ra các vấn đề hoặc tình huống có vấn đề, từ
đó học sinh thấy mình phải chủ động học tập và được kích thích học tập. Giáo viên
có nhiệm vụ gợi mở giúp học sinh giải quyết các vấn đề vừa mang tính chất nhận
thức kiến thức, vừa tư duy tìm hiểu sâu lịch sử từ đó rút ra ý nghĩa bản chất của
vấn đề. Là được như vậy tức là giáo viên đã tạo ra mối liên hệ bên trong của học
sinh và giữa học sinh với giáo viên.
Trong sách giáo khoa, thường sau mỗi mục, mỗi bài có từ 1 đến 3 câu hỏi,
những câu hỏi này là cơ sở để giáo viên xác định kiến thức trong sách, đồng thời
bổ sung để xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề của bài học. Vấn đề đưa ra phải
có sự chuẩn bị từ khi sọan giáo án, phải có dự kiến nêu ra lúc nào. Rõ ràng việc sử
dụng dạy học nêu vấn đề còn là một nghệ thuật. Những vấn đề đặt ra bắt buộc học
sinh phải suy nghĩ, phải kích thích được lòng ham hiểu biết, trí thông minh, sáng
tạo của học sinh. Đặc biệt là giúp học sinh yếu kém tích cực hoạt động và dần dần
hình thành kiến thức cơ bản cho các em qua đó các em có hứng thú học tập. Bên
cạnh đó, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư
duy và ngôn ngữ của học sinh. Mỗi khi quan sát vào loại đồ dùng trực quan nào,
học sinh cũng thích nhận xét, phán đoán, hình dung xem quá khứ lịch sử được
phản ánh, minh họa như thế nào? Từ đó các em mới suy nghĩ và tìm cách diễn đạt
bằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua.
Với tất cả ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển nêu trên, đồ dùng trực
quan góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, gây hứng thú học tập
cho học sinh, giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, những sự kiện, kiến
thức lịch sử. Nó là chiếc “cầu nối” giữa hiện thực với quá khứ, khách quan với đời
sống hiện tại và qua đó giáo viên đạt được mục đích rèn ruyện cho các em những
phẩm chất năng lực cần thiết như năng lực thực hành với đồ dùng trực quan, năng
lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt điều mình
suy nghĩ về các đồ dùng trực quan….
Kết quả cụ thể như sau
Lớp (Sĩ số)
8B (34) (Đối chứng)
8A (35) (Thực nghiệm)
Loại giỏi
Số bài
Tỉ lệ %
11
32,4
15
42,8
Loại khá
Số bài Tỉ lệ %
13
38,2
12
34,3
Loại T.bình
Số bài Tỉ lệ%
10
29,4
8
22,9
Nhận xét sau khi thực nghiệm
Bằng kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy, kết quả lĩnh hội kiến thức của
học sinh lớp thực nghiệm cao hơn hẳn lớp đối chứng. Vì vậy bản thân đã nhận thấy
Xác nhận của cơ quan đơn vị
Ninh An, ngày 12 tháng 3 năm 2018
Tác giả sáng kiến
12