Sự cần thiết và nội dung của công tác huy động vốn qua phát hành trái phiếu Chính
phủ.
1.1 Sự cần thiết của công tác huy động vốn
1.1.1. Tín dụng Nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm của tín dụng Nhà nước
Tín dụng là một phạm trù lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với sự
ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Nền sản xuất hàng hoá phát
triển với sự ra đời của tiền tệ đóng vai trò là vật ngang giá chung đã tạo
điều kiện thuận lợi thúc đẩy các quan hệ tín dụng phát triển. Lịch sử phát
triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, vào thời kì Công xã nguyên
thuỷ, khi phân công lao động xã hội phát triển làm xuất hiện chế độ tư hữu
và phân chia giai cấp thì Nhà nước ra đời. Để thực hiện tốt chức năng của
mình là quản lý kinh tế - xã hội thì Nhà nước ngày càng cần một lượng vốn
lớn hơn để đầu tư nhiều hơn cho các chương trình dự án nhằm đạt tới một
xã hội ưu việt hơn xã hội đang có, nhưng nguồn lực thì luôn là có hạn, vì thế
mà Nhà nước gặp không ít những khó khăn về vốn trong khi đó một lượng
vốn lớn còn nằm rải rác trong dân chúng, họ có vốn mà không thể sử dụng
chúng như một sự quay vòng vốn, làm thế nào để Nhà nước có thể sử dụng
lượng vốn này theo mục đích của mình ? Tín dụng Nhà nước ra đời đã giải
quyết được vấn đề khó khăn đó.
Chính vì vậy, có thể hiểu Tín dụng Nhà nước là quan hệ tín dụng mà Nhà
nước là chủ thể đi vay, để đảm bảo các khoản chi tiêu của NSNN đồng thời là
chủ thể cho vay để thực hiện chức năng, nhiệm vụ kinh tế - Chính trị- xã hội của
Nhà nước.
1.1.1.2 Đặc điểm, bản chất của Tín dụng Nhà nước.
Tín dụng Nhà nước trước hết cũng mang đặc điểm như mọi loại hình tín
dụng khác đó là tính hoàn trả có thời hạn và phải trả một khoản tiền về sử
dụng vốn vay. Song không nên nhầm các quan hệ đó với tín dụng Ngân hàng ở
chỗ tín dụng Ngân hàng, tiền vay được sử dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân,
các tổ chức kinh tế vay, nhằm đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất mở
rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất. Tiền vốn tín dụng được sử dụng như là tư
lập nguồn tài chính bổ sung cho NSNN, thì phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
trực tiếp các khoản nợ vay đúng thời hạn đã cam kết. Nếu khi đến hạn thanh
toán mà Nhà nước vẫn không tìm được nguồn vốn để cân đối thì buộc phải áp
dụng một biện pháp tình thế đó là huy động vốn theo phương châm lấy nợ mới
trả nợ cũ, bởi lẽ Tín dụng Nhà nước gắn chặt với uy tín của bộ máy Nhà nước,
bên cạnh đó thì mỗi hình thức vay là có sự khác nhau về lãi suất, thời gian,
hình thức thanh toán...Chẳng hạn khi phát hành TPCP, Nhà nước không thể
đàm phán với dân chúng ( người cho vay) để gia hạn nợ, giãn nợ, xoá nợ...
Chính vì vậy mà Nhà nước cần phải tính toán quá trình sử dụng vốn ra sao cho
hiệu quả và thoát khỏi tình trạng trên. Khi Nhà nước là chủ thể cho vay , Nhà
nước quy định rõ thời hạn của khoản vay và các chủ thể vay nợ cũng phải thực
hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay đúng thời hạn đã cam kết. Người đi vay không
có quyền sở hữu tiền vay mà họ chỉ bỏ ra một số tiền bằng lãi suất vay để trả
cho việc sử dụng khoản tiền đó, như vậy khi kết thúc một vòng tuần hoàn thì
khoản tiền này phải trả về cho Nhà nước.
Bên cạnh đó, tín dụng Nhà nước vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính
xã hội:
Tính kinh tế đối với chủ thể cho Nhà nước vay là lợi tức tiền vay, lợi ích
từ các hàng hoá công cộng do Nhà nước đầu tư, lợi ích về thuế quan xuất nhập
khẩu hàng hoá ( đối với chủ thể ngoài nước). Với Nhà nước thì lợi ích là nguồn
lực tài chính động viên được để thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội, là lợi
tức tiền vay khi Nhà nước cho vay và tăng nguồn lực tài chính động viên từ
thuế thông qua tăng nguồn thu. Tính xã hội thể hiện uy tín của Nhà nước
thông qua thực hiện các khoản vay nợ và các khoản cho vay tài trợ, mục đích
không vì lợi nhuận mà mục đích là sự phát triển kinh tế- xã hội. Ví như Nhà
nước đầu tư vào các chương trình mục tiêu: Giải quyết việc làm, xoá đói giảm
nghèo, trồng lại 5 triệu ha rừng bảo vệ môi trường thiên nhiên...
Cuối cùng nhu cầu vốn của NSNN sẽ quyết định mức huy động vốn, và
lượng vốn này sẽ chủ yếu dành cho đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội thông qua
hình thức cho vay tài trợ. Quan hệ giữa tín dụng Nhà nước và NSNN có thể
tiêu của mình và càng không thể rút bớt chi tiêu cho các ngành then chốt, các
lĩnh vực chủ yếu, các cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội quan trọng. Vì nếu làm như
vậy đất nước sẽ tụt hậu và trong cảnh giậm chân tại chỗ. Nhưng nếu chi thì lấy
nguồn thu ở đâu?
Tất cả những nhân tố này lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như :
Mức tăng trưởng kinh tế, mức tăng thu nhập bình quân đầu người, chính sách
tăng trưởng kinh tế, hiệu quả các hoạt động kinh tế và hiệu lực hoạt động của
bộ máy Nhà nước.
Huy động vốn là một công cụ tài chính hữu hiệu, giải quyết hài hoà sự
xung đột trên mà vẫn đảm bảo tổng lưu lượng tiền trong lưu thông không thay
đổi, tăng năng lực tài chính cho NSNN cân đối thu chi, thúc đẩy nền kinh tế
quốc dân phát triển.
Huy động vốn thực chất và việc vay nợ của Chính phủ theo nguyên tắc
hoàn trả và có lãi , nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Trước đây, để giải quyết vấn đề về vốn
chúng ta đều đặn nhận viện trợ, nền kinh tế không hề có một dấu hiệu lạc
quan. Sau đó chúng ta phát hành tiền đẩy nền kinh tế vào tình trạng suy thoái
hoặc thậm chí đi vay nợ nước ngoài với những điều kiện ràng buộc, đó là thời
kỳ đen tối nhất của nền kinh tế. Thời hian gần đây, nhu cầu về vốn ngày càng
lớn,đặc biệt là nhu cầu vốn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng
Nhà nước đã xử lý khá hiệu quả thông qua công tác huy động vốn nhàn rỗi
trong dân chúng bằng TPCP, đã tập chung một lượng vốn lớn củng cố năng lực
tài chính và đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, huy động vốn thông qua
phương thức phát hành TPCP, sẽ phát huy được tiềm năng sẵn có, và sự phát
triển của một đất nước dựa vào chính nội lực của đất nước ấy mới là sự phát
triển bền vững.
Như vậy dù là giải pháp tình thế hay là giải pháp chiến lược thì huy
động vốn vẫn là nhu cầu tất yếu khách quan để có thể phát triển nền kinh tế
đất nước . Vai trò huy động vốn được khái quát bởi các nét chính sau:
1.1.2.2 Vai trò của công tác huy động vốn vào NSNN.