SỰ CẦN THIẾT VÀ NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN QUA PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ - Pdf 68

SỰ CẦN THIẾT VÀ NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN QUA PHÁT HÀNH
TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ.
1.1 Sự cần thiết của công tác huy động vốn
1.1.1. Tín dụng Nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm của tín dụng Nhà nước
Tín dụng là một phạm trù lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời
và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Nền sản xuất hàng hoá phát triển với sự ra
đời của tiền tệ đóng vai trò là vật ngang giá chung đã tạo điều kiện thuận lợi thúc
đẩy các quan hệ tín dụng phát triển. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã
chứng minh rằng, vào thời kì Công xã nguyên thuỷ, khi phân công lao động xã hội
phát triển làm xuất hiện chế độ tư hữu và phân chia giai cấp thì Nhà nước ra đời.
Để thực hiện tốt chức năng của mình là quản lý kinh tế - xã hội thì Nhà nước ngày
càng cần một lượng vốn lớn hơn để đầu tư nhiều hơn cho các chương trình dự án
nhằm đạt tới một xã hội ưu việt hơn xã hội đang có, nhưng nguồn lực thì luôn là có
hạn, vì thế mà Nhà nước gặp không ít những khó khăn về vốn trong khi đó một
lượng vốn lớn còn nằm rải rác trong dân chúng, họ có vốn mà không thể sử dụng
chúng như một sự quay vòng vốn, làm thế nào để Nhà nước có thể sử dụng lượng
vốn này theo mục đích của mình ? Tín dụng Nhà nước ra đời đã giải quyết được
vấn đề khó khăn đó.
Chính vì vậy, có thể hiểu Tín dụng Nhà nước là quan hệ tín dụng mà Nhà
nước là chủ thể đi vay, để đảm bảo các khoản chi tiêu của NSNN đồng thời là chủ
thể cho vay để thực hiện chức năng, nhiệm vụ kinh tế - Chính trị- xã hội của Nhà
nước.
1.1.1.2 Đặc điểm, bản chất của Tín dụng Nhà nước.
Tín dụng Nhà nước trước hết cũng mang đặc điểm như mọi loại hình tín
dụng khác đó là tính hoàn trả có thời hạn và phải trả một khoản tiền về sử dụng
vốn vay. Song không nên nhầm các quan hệ đó với tín dụng Ngân hàng ở chỗ tín
dụng Ngân hàng, tiền vay được sử dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ
chức kinh tế vay, nhằm đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất mở rộng và
nâng cao hiệu quả sản xuất. Tiền vốn tín dụng được sử dụng như là tư bản đã tạo ra
điều kiện để hoàn trả tiền vay và lãi vay bằng việc tăng giá trị sản xuất sản phẩm

Nếu khi đến hạn thanh toán mà Nhà nước vẫn không tìm được nguồn vốn để cân
đối thì buộc phải áp dụng một biện pháp tình thế đó là huy động vốn theo phương
châm lấy nợ mới trả nợ cũ, bởi lẽ Tín dụng Nhà nước gắn chặt với uy tín của bộ
máy Nhà nước, bên cạnh đó thì mỗi hình thức vay là có sự khác nhau về lãi suất,
thời gian, hình thức thanh toán...Chẳng hạn khi phát hành TPCP, Nhà nước không
thể đàm phán với dân chúng ( người cho vay) để gia hạn nợ, giãn nợ, xoá nợ...
Chính vì vậy mà Nhà nước cần phải tính toán quá trình sử dụng vốn ra sao cho
hiệu quả và thoát khỏi tình trạng trên. Khi Nhà nước là chủ thể cho vay , Nhà nước
quy định rõ thời hạn của khoản vay và các chủ thể vay nợ cũng phải thực hiện
nghĩa vụ hoàn trả nợ vay đúng thời hạn đã cam kết. Người đi vay không có quyền
sở hữu tiền vay mà họ chỉ bỏ ra một số tiền bằng lãi suất vay để trả cho việc sử
dụng khoản tiền đó, như vậy khi kết thúc một vòng tuần hoàn thì khoản tiền này
phải trả về cho Nhà nước.
Bên cạnh đó, tín dụng Nhà nước vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã
hội:
Huy động vốn(TCPP, Công trái) Thu thuế, phí, lệ phí
NSNN
Chi cho vay của NSNN Chi TX, đầu tư, chi trả nợ, chi khác
Tính kinh tế đối với chủ thể cho Nhà nước vay là lợi tức tiền vay, lợi ích từ
các hàng hoá công cộng do Nhà nước đầu tư, lợi ích về thuế quan xuất nhập khẩu
hàng hoá ( đối với chủ thể ngoài nước). Với Nhà nước thì lợi ích là nguồn lực tài
chính động viên được để thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội, là lợi tức tiền vay
khi Nhà nước cho vay và tăng nguồn lực tài chính động viên từ thuế thông qua
tăng nguồn thu. Tính xã hội thể hiện uy tín của Nhà nước thông qua thực hiện các
khoản vay nợ và các khoản cho vay tài trợ, mục đích không vì lợi nhuận mà mục
đích là sự phát triển kinh tế- xã hội. Ví như Nhà nước đầu tư vào các chương trình
mục tiêu: Giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, trồng lại 5 triệu ha rừng bảo vệ
môi trường thiên nhiên...
Cuối cùng nhu cầu vốn của NSNN sẽ quyết định mức huy động vốn, và
lượng vốn này sẽ chủ yếu dành cho đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội thông qua

Huy động vốn là một công cụ tài chính hữu hiệu, giải quyết hài hoà sự xung
đột trên mà vẫn đảm bảo tổng lưu lượng tiền trong lưu thông không thay đổi, tăng
năng lực tài chính cho NSNN cân đối thu chi, thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát
triển.
Huy động vốn thực chất và việc vay nợ của Chính phủ theo nguyên tắc hoàn
trả và có lãi , nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng
giai đoạn lịch sử nhất định. Trước đây, để giải quyết vấn đề về vốn chúng ta đều
đặn nhận viện trợ, nền kinh tế không hề có một dấu hiệu lạc quan. Sau đó chúng ta
phát hành tiền đẩy nền kinh tế vào tình trạng suy thoái hoặc thậm chí đi vay nợ
nước ngoài với những điều kiện ràng buộc, đó là thời kỳ đen tối nhất của nền kinh
tế. Thời hian gần đây, nhu cầu về vốn ngày càng lớn,đặc biệt là nhu cầu vốn cho
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng Nhà nước đã xử lý khá hiệu quả
thông qua công tác huy động vốn nhàn rỗi trong dân chúng bằng TPCP, đã tập
chung một lượng vốn lớn củng cố năng lực tài chính và đáp ứng nhu cầu chi tiêu
của Nhà nước, huy động vốn thông qua phương thức phát hành TPCP, sẽ phát huy
được tiềm năng sẵn có, và sự phát triển của một đất nước dựa vào chính nội lực
của đất nước ấy mới là sự phát triển bền vững.
Như vậy dù là giải pháp tình thế hay là giải pháp chiến lược thì huy động
vốn vẫn là nhu cầu tất yếu khách quan để có thể phát triển nền kinh tế đất nước .
Vai trò huy động vốn được khái quát bởi các nét chính sau:
1.1.2.2 Vai trò của công tác huy động vốn vào NSNN.
Thứ nhất: Huy động vốn góp phần bù đắp thiếu hụt tạm thời NSNN.
Đất nước ta đã thực sự chuyển mình khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, nhu cầu chi của NSNN ngày càng cao, trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status