một số giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
tại sở giao dịch i NHNN và ptntvn
***************************
I - ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM
TỚI
1.Định hướng phát triển XNK từ nay đến năm 2010
Chiến lược phát triển Kinh tế - xã hội 2001 - 2010 khẳng định: "Phát
huy cao độ các nguồn lực để phát triển nhanh và có hiệu quả các sản
phẩm, các ngành, các lĩnh vực mà ta có lợi thế, đáp ứng cơ bản nhu cầu
thiết yếu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu" và cụ thể hoá hơn một bước
về định hướng chiến lược xuất khẩu 10 năm tới: "Nhà nước có chính sách
khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ, có cơ chế bảo hiểm hàng xuất khẩu, đặc biệt là nông sản; đầu tư cho
hoạt động hỗ trợ xuất khẩu. Phát triển mạnh những sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ có khả năng cạnh tranh, giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế,
tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chế biến, tăng nhanh tỷ lệ nội địa hoá trong
sản phẩm, nâng dần tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.
Phát triển du lịch quốc tế, xuất khẩu lao động và các dịch vụ thu ngoại
tệ khác. Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tiến tới cân bằng xuất nhập.
Khuyến khích sử dụng thiết bị, hàng hoá sản xuất trong nước. Thực hiện chính
sách bảo hộ có lựa chọn, có thời hạn". Về thị trường xuất khẩu Dự thảo chiến
lược yêu cầu: "Chủ động và tích cực thâm nhập thị trường quốc tế, chú
trọng thị trường các trung tâm kinh tế thế giới, mở rộng thị phần trên các
thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở thị trường mới. Từng
bước hiện đại hoá phương thức kinh doanh phù hợp với xu thế mới của
thương mại thế giới".
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX nêu mục tiêu: "Nỗ lực gia tăng tốc độ
tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo công ăn việc làm,
thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm lượng
Tỷ trọng nhập khẩu
(%GDP)
64,5 85,9 77,1
(Nguồn: Hướng phát triển thị trường XNK Việt Nam tới năm 2010-Bộ TM)
Chiến lược mặt hàng xuất nhập khẩu:
Chiến lược mặt hàng được cụ thể hoá như sau : "Ưu tiên phát triển công
nghiệp chế biến gắn với phát triển nguồn nguyên liệu nông sản, thuỷ sản, sản
xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng tiêu dùng; đồng thời tạo điều kiện phát
triển một số mặt hàng điện tử, kể cả dịch vụ phần mềm. Chú ý phát triển các
ngành công nghiệp tốn ít vốn, thu hút nhiều lao động. Phát triển có lựa chọn
một số ngành công nghiệp có điều kiện về tài nguyên, nguồn vốn và bảo đảm
được hiệu quả (điện, khai thác và chế biến dầu - khí, vật liệu xây dựng, hoá
chất - phân bón, luyện kim,...); coi trọng phát triển ngành cơ khí (kể cả chế tạo,
lắp ráp, sửa chữa) theo hướng đầu tư chiều sâu là chính để cải tạo các cơ sở
hiện có và phát triển một số cơ sở mới có điều kiện".
Vai trò của các ngành dịch vụ được chú trọng :"Phát triển mạnh một số
loại dịch vụ như bưu chính viễn thông, du lịch, vận tải, thương mại, dịch vụ
khoa học - công nghệ, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn,... theo hướng vừa
phát triển thị trường nội địa, vừa nhanh chóng vươn ra thị trường quốc tế".
Như vậy, chiến lược mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là chuyển dịch
mạnh theo hướng tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, trong đó tập trung tăng tỷ
trọng các mặt hàng chế biến chế tạo và dịch vụ , giảm nhanh tỷ trọng xuất
khẩu nguyên liệu thô và sơ chế.
Tỷ trọng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu giảm do nhập khẩu xăng dầu,
phân bón và vật liệu xây dựng phần lớn được thay thế bằng hàng sản xuất
trong nước. Nhập khẩu dịch vụ chủ yếu là tài chính (bảo hiểm, kế toán,...), ngân
hàng (thanh toán, chuyển tiền,...), bưu chính viễn thông, vận tải (hàng không,
đường thuỷ), thuê chuyên gia nước ngoài, du lịch, du học,... với tổng giá trị
nhập khẩu năm 2000 khoảng 1,2 tỷ USD. Dự kiến nhập khẩu dịch vụ giai đoạn
2001 - 2010 tăng 10,5%/năm, đạt 2,02 tỷ USD năm 2005 và 3,4 tỷ USD năm
- Mở rộng và nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán quốc tế, mua
bán ngoại tệ, kiều hối, thanh toán biên giới.
- Tiếp tục quản lý chặt chẽ hoạt động tín dụng, hoạt động bảo lãnh (kể
cả L/C trả chậm), chuyển ngoại tệ ra nước ngoài đảm bảo không xảy ra vi
phạm quy định của NHNN về quản lý ngoại hối và chế độ tín dụng.
- Phát huy những kết quả đạt được trong các năm qua, tiếp tục nâng cao
chất lượng và hiệu quả của hoạt động huy động vốn, tín dụng và bảo lãnh vay
vốn nước ngoài, duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp, đồng thời cùng các
ngành, các cấp có liên quan giải quyết triệt để những tồn tại, vướng mắc liên
quan tới những khoản cho vay, những dự án bảo lãnh hiện đang tồn đọng.
II. Định hướng hoạt động kinh doanh của NHNN&PTNT và SGD I trong
những năm tới.
1. Định hướng kinh doanh của NHNN&PTNTVN
Năm 2000 là năm có ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình hoạt động và phát triển
của NHNN&PTNT . Cùng với cả nước NHNN&PTNT đã kết thúc việc thực hiện chiến
lược 10 năm đổi mới 1991 - 2000 với những bước tiến dài đi tới một NHTM tiên tiến
trong khu vực và có uy tín trên thế giới. Riêng trong mảng hoạt động tín dụng XNK,
vượt qua bao khó khăn, nhọc nhằn, trăn trở của thời kỳ xây dựng, hoạt động và hoàn
thiện, NHNN&PTNT cũng đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa. Nhưng về thực
chất, ngân hàng mới chỉ xây dựng được một mô hình kinh doanh tín dụng, thiết kế
được một thể chế hoạt động tạo nền móng cho bước phát triển lâu dài. Sự phát triển
trong hoạt động tín dụng XNK của NHNN&PTNT trong 10 năm qua chủ yếu vẫn là sự
phát triển về lượng, đòi hỏi ngân hàng phải tiếp tục phấn đấu đi lên một bước phát
triển mới về chất.
Xuất phát từ những đặc trưng của mình, từ những bài học thành công và tồn
tại trong những năm qua, NHNN&PTNT đã đề ra những phương hướng và giải pháp
cụ thể cho hoạt động tín dụng XNK trong những năm tới.
1.1 Định hướng chung:
Quán triệt các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chính
phủ và thực hiện định hướng hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
sang cho vay theo dự án, chương trình kinh tế khép kín, NHNN&PTNT đã định hướng
lại cơ cấu vốn đầu tư cho XNK của mình.
- Đối với tín dụng trung dài hạn, NHNN&PTNT tập trung vào các dự án nuôi
trồng nông, lâm, thuỷ sản tạo ra nguồn hàng vững chắc cho XK và xây dựng vùng
nguyên liệu đầu vào ổn định cũng như mở rộng dung lượng thị trường đầu ra cho
công nghiệp; Xây dựng và nâng cấp các cơ sở chế biến XK và các dự án phát triển
nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH - HĐH.
NHNN&PTNT cũng đặt ra mục tiêu cụ thể là sau năm 2000 sẽ nâng dư nợ tín dụng
trung, dài hạn lên trên 40% tổng dư nợ. Đến nay, mục tiêu này hoàn toàn có triển vọng
thực hiện được.
- Đối với tín dụng ngắn hạn, NHNN&PTNT tập trung bổ sung vốn lưu động cho
các doanh nghiệp XNK phục vụ thu mua hàng XK và NK vật tư nguyên liệu cho sản
xuất nông nghiệp.
- Về thị trường nước ngoài, mục tiêu trước mắt cũng như chiến lược lâu dài
của
NHNN&PTNT là mở rộng mạng lưới NH đại lý và NH đối tác sang khu vực Nga, các
nước Đông âu, Mỹ, Trung Quốc, Lào để làm cơ sở hỗ trợ cho hàng XK Việt Nam xuất
sang các thị trường này. Ngoài ra, NHNN&PTNT cũng xúc tiến từng bước thiết lập
quan hệ đại lý và mở văn phòng đại diện, chi nhánh tại nước ngoài khi có đủ điều kiện.
Hiện nay, NHNN&PTNT có quan hệ đại lý với gần 600 NH nước ngoài và NH
quốc tế, song lại mới chỉ có quan hệ tín dụng truyền thống với khoảng hơn chục NH.
Hơn nữa, phần lớn các nguồn vốn trung, dài hạn khi vay bị ràng buộc theo điều kiện
nhập thiết bị công nghệ thực hiện bằng Hiệp định khung hoặc các hợp đồng nhỏ lẻ. Vì
thế, trong tương lai, NHNN&PTNT cần hướng mục tiêu vào việc tập hợp, lựa chọn các
dự án khả thi, chủ động gọi vốn đầu tư với tư cách là người cho vay lại hoặc bảo lãnh
vốn vay cho các doanh nghiệp NK.
- Ngân hàng chủ trương đẩy mạnh các hình thức huy động vốn truyền thống
(như huy động ngoại tệ trong dân cư, tiết kiệm ngoại tệ...), tích cực thu hút khách hàng
XK và làm dịch vụ cho các NHTM chưa có chức năng thanh toán quốc tế để làm tăng
nguồn tiền gửi ngoại tệ. Từ đó mà tạo được nguồn vốn ngắn hạn dồi dào bổ sung vốn
1.Nhóm giải pháp tầm vĩ mô
1.1. Cải thiện môi trường pháp lý đảm bảo tính ổn định, đồng
bộ và nhất quán của hệ thống luật và quy chế:
Hoạt động ngân hàng luôn có liên quan đến tất cả các ngành, các thành
phần kinh tế, liên quan đến mọi doanh nghiệp và cá nhân. Vì vậy, để đảm bảo
cho hoạt động ngân hàng an toàn và hiệu quả thì việc phải có một hệ thống
luật đầy đủ, rõ ràng và đồng bộ là vô cùng cần thiết. Mặc dù đã có Luật các Tổ
chức Tín dụng, nhưng cần phải sớm hoàn thiện các văn bản dưới luật hướng
dẫn thi hành luật một cách cụ thể, đồng bộ để tạo điều kiện triển khai Luật vào
thực tế. Nên sớm có Luật Thương phiếu, các văn bản dưới luật về xử lý tài sản
thế chấp, cầm cố và thanh toán quốc tế. Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính
tiền tệ, sử dụng công cụ lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc một cách năng động để
điều tiết nền kinh tế.
Một vấn đề còn tồn tại hiện nay là sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay nội
tệ và lãi suất cho vay ngoại tệ cùng với một số chính sách điều chỉnh tỷ giá
trong một số giai đoạn đã ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động xuất nhập khẩu và
ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trong và ngoài nước.
Hiện nay có một thực tế là một lượng vốn không nhỏ của hệ thống ngân
hàng đang đọng lại tại các tài sản thế chấp, do quy trình xử lý, phát mại các tài
sản thế chấp không rõ ràng, cụ thể. Sự phối hợp giữa các Bộ, Ngành và các Cơ
quan Nhà nước trong việc xử lý các tài sản thế chấp còn thiếu sự đồng bộ và
thống nhất.
Một vấn đề nữa là hiện tượng các doanh nghiệp chiếm dụng vốn lẫn
nhau thông qua mua bán chịu hàng hoá là khá phổ biến. Nguyên nhân của hiện
tượng này là quan hệ mua bán chịu chưa được pháp luật thừa nhận và điều
chỉnh đầy đủ, dẫn đến quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp chưa được
đảm bảo. Việc cho ra đời Luật thương phiếu sẽ giải toả được tình trạng này,
biến các khoản nợ đang bị chiếm dụng đó thành các thương phiếu – một loại
hàng hoá có thể buôn bán trên thị trường, góp phần làm tan các khoản nợ
đang “đóng băng” và giải quyết cơ bản nạn chiếm dụng vốn giữa các doanh
Hiện nay, tín dụng trung và dài hạn cho xuất khẩu chủ yếu qua quỹ hỗ
trợ đầu tư quốc gia do Tổng cục Đầu tư phát triển quản lý, song tới đây có thể
sẽ thuộc phạm vi hoạt động của quỹ hỗ trợ phát triển quốc gia, còn tín dụng
ngắn hạn chủ yếu do ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đảm nhận.