Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của NHTM đối với DNVN - Pdf 64

Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của NHTM đối với
DNVN
1.1. Khái quát về DNV&N
1.1.1. Khái niệm về DNV&N
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm cũng như tiêu thức khác nhau để
xác định DNV&N. Trong đó có 2 tiêu thức được sử dụng phổ biến nhất là: Tổng số
vốn SXKD và số lượng lao động của DN.
Đối với Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên quy định thống nhất tiêu chí, xác
định DNV&N là công văn số 681/CP-KTN ban hành ngày 20/06/1998. Theo đó,
DNV&N tạm thời được quy định là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng
và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người.
Tiêu chí phân loại của công văn 681/CP-KTN được đưa ra với mục tiêu xây
dựng một bức tranh toàn cảnh về các DNV&N ở Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển chung của nền kinh tế của cả nước thì số lượng doanh nghiệp ngày một tăng,
có không ít số doanh nghiệp có số vốn vượt quá 5 tỷ đồng nhưng chưa đủ mạnh để
được xem là doanh nghiệp lớn. Vì vậy, sau một thời gian khảo sát và điều tra các
doanh nghiệp, căn cứ vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, có tính tới đến xu hướng
phát triển của thời gian tới, kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm thực tế các nước,
ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/NĐ-CP quy định lại tiêu chí để
xác định DNV&N, cụ thể là:
“ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không vượt quá 300 người ”.
Dựa vào tình hình thực tế về điều kiện kinh tế - xã hội của ngành, địa phương
trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể áp dụng đồng
thời cả 2 chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
1.1.2. Những đặc điểm chủ yếu của DNV&N:
a. DNV&N có quy mô hoạt động SXKD doanh nhỏ bé
Phần lớn các DNV&N đều có quy mô nhỏ bé. Thực chất thì đặc điểm này do
chính tiêu chí phân loại DNV&N của Nghị định 90/NĐ-CP quy định, đó là các doanh
nghiệp có vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng và lao động trung bình hàng

bên ngoài tới doanh nghiệp cũng đã gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp
này. Trước hết, sự tác động quản lý của nhà nước về hoàn thiện Luật doanh nghiệp,
các chính sách thuế, chính sách tín dụng, thương mại, chính sách khoa học công nghệ,
lao động và việc làm… có nhiều bất cập. Tác động quản lý của nhà nước đối với
doanh nghiệp trong khâu tổ chức còn nhiều bức xúc. Sự thiếu hụt và rối loạn thị
trường như: thị trường vốn, thị trường thông tin, thị trường dịch vụ và nạn hàng giả,
hàng lậu tràn lan gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DNV&N.
1.1.3. Vai trò của DNV&N đối với nền kinh tế
a. Đóng góp to lớn vào thu nhập quốc dân, và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế
Bằng việc khai thác và đưa vào sử dụng các nguồn lực kinh tế tiềm ẩn trong dân
cư ( từ nguồn lực vốn, lao động đến các nguồn lực trí tuệ hay bí quyết ngành nghề
truyền thống…), các DNV&N đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư, mỗi năm các DNV&N đã tạo ra khoảng 28%
GDP của cả nước, 32% giá trị sản lượng công nghiệp, 64% tổng khối lượng luân
chuyển hàng hóa. Bên cạnh đó, các DNV&N còn có vai trò quan trong trong việc giữ
gìn và bảo tồn các làng nghề truyền thống, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trong
tăng trưởng kinh tế, tạo nên một thế mạnh cho đất nước ta trong quá trình hội nhập
vào khu vực và thế giới.
b. Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động
Có thể thấy rằng, vai trò to lớn nhất của các DNV&N là tạo việc làm cho một số
lượng lớn người lao động trong cả nước, giả quyết tình trạng thất nghiệp. Do có sự
phân bố rộng khắp và khá đa dạng trong ngành nghề kinh doanh, hơn nữa lại không
đòi hỏi trình độ quá cao, nên DNV&N đã và đang thu hút được rất nhiều lao động ở cả
thành thị và nông thôn. Đây cũng chính là cơ sở để góp phần quan trọng nâng cao thu
nhập cho người lao động, cải thiện đời sống, đồng thời hạn chế các tệ nạn xã hội.
Ở Việt Nam, các doanh nghiệp này tiếp nhận khoảng 10 triệu người, chiếm 25-
27% lực lượng lao động cả nước. Ý nghĩa to lớn của các DNV&N trong vấn đề tạo
việc làm còn thể hiện ở triển vọng thu hút thêm lao động làm việc trong các DNV&N
trong tương lai do hiệu suất đầu tư cho một lao động làm việc tại đây thấp hơn nhiều
so với các doanh nghiệp lớn. Đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi nhất để tiếp

quan mật thiết đến mục đích sử dụng, tính an toàn và tính sinh lợi của ngân hàng cũng
như khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng. Thông thường phân loại cho vay theo
thời gian thành 3 loại:
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống và được
sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp. Đối với
hoạt động tín dụng thì cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất, và đây cũng là loại
tín dụng có ít rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và
nếu có biến động xảy ra thì ngân hàng vẫn có thể dự tính được.
- Cho vay trung hạn: là hình thức cho vay có thời hạn từ 1 năm đến dưới 5 năm,
chủ yếu là được sử dụng để mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản
xuất… Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự
đoán được những biến động có thể xảy ra.
- Cho vay dài hạn: là hình thức cho vay có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để
cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất mới… Loại tín dụng
này có mức độ ruuir ro lớn vì trong thời gian dài có nhiều biến động xảy ra và khó
lường trước được.
1.2.1.2. Phân loại theo cách thức cho vay
Nghiệp vụ cho vay có thể thực hiện theo các phương thức sau:
- Cho vay thấu chi: Ngân hàng cho phép khách hàng được chi trội trên số dư
tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định trong một khoảng thời gian
nhất định.
- Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của các
NHTM đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, mỗi lần khách
hàng phải làm đơn trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Mỗi món vay được
tách biệt thành các hồ sơ ( khế ước nhận nợ) khác nhau.
- Cho vay hạn mức tín dụng: Ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức tín
dụng cả kỳ hoặc cuối kỳ. Trường hợp hạn mức trong cả kỳ thì khách hàng có thể vay
trả nhiều lần nhưng dư nợ không vượt quá mức tín dụng. Đối với hạn mức tín dụng
cuối kỳ thì trong kỳ dư nợ tín dụng có thể lớn hơn hạn mức tín dụng nhưng đến thời
điểm cuối kỳ khách hàng bắt buộc phải trả hết nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không vượt

bằng đồng ngoại tệ. Nước ta quy định cho vay bằng ngoại tệ chỉ phục vụ cho nhập
khẩu.
1.2.1.5. Phân loại theo phương pháp hoàn trả
- Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi theo
định kỳ.
- Cho vay kỳ hạn: là loại cho vay được thanh toán 1 lần theo kỳ hạn đã thỏa
thuận.
- Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: là loại cho vay mà người vay có thể hoàn trả bất
cứ khi nào có thu nhập.
1.2.2. Vai trò của vốn vay NHTM đối với DNV&N
Có thể nói, nguồn vốn ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất
không chỉ đối với các DNV&N mà đối với mọi doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Các NHTM là một tổ chức tài chính trung gian với khả năng huy động vốn từ nhiều
nguồn nhỏ lẻ khác nhau thành một nguồn vốn tập trung, do đó các ngân hàng luôn có
đủ khả năng cung cấp các nguồn tài trở cho doanh nghiệp. Trong các hình thức tài trở
cho doanh nghiệp thì hoạt động cho vay ngân hàng với những ưu điểm của mình vẫn
là nguồn cung cấp vốn cho doanh nghiệp quan trọng nhất. Vấn đề đặt ra không phải là
khả năng cho vay của các NHTM mà chính là khả năng tiếp cận nguồn vốn này của
các DNV&N:
- Thứ nhất: Vốn vay NHTM là một kênh cung cấp vốn quan trọng đối với DNV&N
Có thể thấy rằng, trong các nguồn huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của các DNV&N thì nguồn vốn ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất do
những ưu điểm của nó. Phần lớn DNV&N là thiếu vốn, trình độ sản xuất công nghệ
thường yếu kém… nên nhu cầu đối với nguồn vốn vay ngân hàng để đầu tư sản xuất
theo chiều sâu hay mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh càng bức thiết.
Muốn đầu tư vào chiều sâu doanh nghiệp dựa trên nguồn tích lũy nội bộ thì thường
cần một thời gian lâu dài, trong khi đây là những yêu cầu bức thiết đặt ra cho mỗi
doanh nghiệp trong môi trường kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay.
Bên cạnh đó, nhu cầu vay vốn để doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh như: mua mới trang thiết bị, mở rộng nhà xưởng, tăng số lượng lao động… là


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status