THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ TÂY
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Ra đời trong công cuộc đổi mới, từ một bộ phận của Ngân hàng Nhà
nước qua 16 năm xây dựng và trưởng thành (1988 – 2004), Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Tây đã tiến hành những cải cách quan
trọng, cả về tổ chức bộ máy và đào tạo bối dưỡng cán bộ, trang bị phương tiện
kỹ thuật cùng các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ. Ngân hàng đã sớm xác
định giải pháp “lấy nông thôn làm thị trường, lấy hộ gia đình nông thôn làm
khách hàng”, thực hiện phương châm “đi vay để cho vay” làm phương hướng
và phương thức hoạt động. Hệ thống đầu mối kinh doanh dịch vụ của Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Hà Tây từng bước phát triển cả
bề rộng lẫn chiều sâu, góp phần ngăn chặn tình trạng cho vay nặng lãi, trở thành
người bạn tin cậy, gần gũi của nông dân và nông thôn, cùng nhiều thành phần
kinh tế khác.
I.1. Các năm 1988 - 1991
Thực hiện nghị định số 53 của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 26 - 03 - 1988,
Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra Quyết định số 43 thành lập
Ngân hàng phát triển Nông nghiệp tỉnh Hà Sơn Bình. Ngân hàng ra đời trong
bối cảnh nền kinh tế của đất nước bước vào thời kỳ thực hiện nhiệm vụ đổi mới
theo đường lối của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Ngành kinh tế nông
nghiệp bắt đầu triển khai thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về khoán
sản phẩm đến nhóm và ngươì lao động. Thuận lợi cơ bản là, đội ngũ cán bộ,
nhân viên trong cơ quan Ngân hàng có tinh thần và trách nhiệm cao, vinh dự là
lực lượng đi đầu trong công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nước
trên lĩnh vực kinh doanh về tín dụng – tiền tệ.
Song, đội ngũ cán bộ, nhân viên Ngân hàng phát triển Nông nghiệp tỉnh
đứng trước nhiều khó khăn thử thách. Nền kinh tế của đất nước đang ở vào giai
đoạn lạm phát ở mức cao 3 con số (896%). Kinh tế khủng hoảng, đời sống nhân
dân rất khó khăn. Sản xuất lương thực không đủ ăn. Giá cả hàng hoá tăng
nhanh. Tình trạng “cả nước đi buôn” kể cả các đơn vị hành chính dẫn đến tình
rộng để có kinh nghiệm. Đây là hai mặt chỉ đạo quan trọng của Ban giám đốc
trong thời kỳ đầu. Ngoài ra Ngân hàng phát triển Nông nghiệp tỉnh còn nhanh
chóng tiếp nhận việc bàn giao tài sản, hồ sơ tài liệu và cán bộ của các ngân
hàng, tiến hàng xây dựng quy chế làm việc của Ban giám đốc, chế độ chức
trách, nhiệm vụ quy trình nghiệp vụ của các phòng và mối quan hệ trong quản
lý và điều hành của Ban giám đốc với các phòng, các ngân hàng huyện, quan hệ
với khách hàng nhằm tạo ra sự thống nhất cao trong hoạt động kinh doanh.
Trong công tác ổ định tổ chức, chi nhánh Ngân hàng phát triển Nông
nghiệp tỉnh thành lập một Đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Dân chính Đảng tỉnh Hà
Sơn Bình Ngân hàng Ban chấp hành có 7 uỷ viên, do đồng chí Lê Văn Sở là phó
bí thư. Toàn Đảng bộ có 31 đảng viên, tổ chức thành ba chi bộ. Về đoàn thể,
Ngân hàng phát triển Nông nghiệp tỉnh thành lập tổ chức công đoàn, chi đoàn
Thanh niên và trung đội tự vệ cơ quan. Tổ chức Công đoàn Ngân hàng Nông
nghiệp tỉnh do đồng chí Trần Văn Lợi làm Chủ tịch.
Về mặt chính quyền, để sớm ổn định tổ chức bộ máy mới, Ban giám đốc
chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh căn cứ vào công văn số 87/CV – NHNN
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kết hợp với việc xem xét năng lực cán bộ,
tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm. Kết quả đã lựa chọn, bổ nhiệm được 11 đồng chí là
trưởng phó phòng ngân hàng tỉnh; 6 đồng chí là giám đốc, phó giám đốc, trưởng
phó phòng các chi nhánh ngân hàng huyện. Bộ máy tổ chức, cán bộ các ngân
hàng huyện cơ bản đã ổn định.
Dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh, ngân hàng huyện đã
đúc rút được nhiều kinh nghiệm, suy nghĩ tìm tòi về phương pháp công tác
nhằm đáp ứng nhu cầu củanhiệm vụ mới. Một số huyện đã tiếp thu tốt sự chỉ
đạo của ngân hàng tỉnh, đã kịp thời phân tích công tác tài chính trong 6 tháng
đầu năm để có biện pháp cho tháng sau, quý sau. Nhiều ngân hàng huyện đã coi
trọng tăng thu, đúng chế độ, chính sách, tiết kiệm giảm chi phí không cần thiết.
Điêù đó chứng tỏ, ngay trong tháng đầu tiên khai trương, trong khi Ngân hàng
Trung ương chưa ban hành chế độ tài chính, Ngân hàng phát triển Nông nghiệp
Hà Sơn Bình đã sớm có ý thức coi trọng hiệu quả kinh tế. Chống bao cấp trong
nông dân không có tài sản thế chấp theo quy định.
Từ đánh giá trên, các ngành cùng Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Phú
Xuyên và dư luận xã hội tán thành và hoan nghêng chủ trưng của Ngân hàng về
cho vay trực tiếp hộ nông dân. Bước đầu Ngân hàng đã cho vay trực tiếp được
44 hộ, với số tiền 37, 7 trệu đồng, cho vay qua hợp tác xã nông nghiệp bảo lãnh
là 3.923 hộ, với số tiền 183.483 ngàn đồng. Việc cho vay trực tiếp hộ nông dân
là đúng hướng, phù hợp với khoán 10, mở ra bước đi trong hoạt động kh của
Ngân hàng.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, kỳ họp thứ 9 (Quốc hội khoá
VIII) diễn ra từ ngày 27/07 – 12/08/1991 đã ra quyết định tách tỉnh Hà Sơn
Bình trở về hai tỉnh cũ: Hà Tây và Hoà Bình, chuyển các huyện, thị như: Ba Vì,
thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn Tây từ Hà Nội trở
lại Hà Tây. Hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình sẽ chính thức làm việc theo đơn vị
hành chính mới từ ngày 01/10/1991.
Thực hiện chủ trương trên, ngày 30/08/1991, Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã ra Quyết định số 126/NH-QĐ quyết định giải thể chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Hà Sơn Bình để thành lập chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp tỉnh Hà Tây.
Tóm lại, thành tựu nổi bật của Ngân hàng trong giai đoạn này là sớm định
rõ phương châm “Đi vay để cho vay”, “vừa làm vừa học”, coi nguyên tắc tập
trung dân chủ trong chỉ đạo cũng như trong kinh daonh là khâu then chốt. Ngân
hàng Nông nghiệp Hà Sơn Bình đã vượt qua những khó khăn, bỡ nhỡ ban đầu,
dám nghĩ dám làm để tiến vào kinh doanh thương mại do Ngân hàng Trung
ương, Tinh uỷ và Uỷ ban nhân dân Tỉnh giao cho.
Thời gian hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp Hà Sơn Bình tuy ngắn,
nhưng cũng đủ để rút ra những bài hoạc kinh nghiệm ban đầu là:
- Sự ra đời và hoạt động của Ngân hàng chuyên doanh là đúng nhưng
phải gắn với hành lang pháp lý và cơ chế hoạt động kinh doanh, thông
qua thực tiễn kinh doanh mà bổ sung hoàn chỉnh cơ chế, hoàn chỉnh
về những định mức các loại công việc và quy trình nghiệp vụ tiền tệ –
hợp với tình hình để vươn tới cơ chế lãi suất dương.
Về huy động vốn, Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh đã quán triệt bình diện
toàn cục không bó hẹp ở một địa phương. Bên cạnh các hình thức huy động vốn
truyền thống như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi các tổ chức kinh tế, để giảm bớt
khoảng cách giữa tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, đầu năm 1992, Ban giám
đốc triển khai hình thức huy động vốn theo kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích, kỳ
phiếu đảm bảo giá trị theo vàng. Những hình thức này đã thể hiện tính đa dạng
về huy động, đồng thời cải tiến và nâng cao chất lượng hoạt động màng lưới
huy động.
Đi đôi với huy động vốn là vấn đề sử dụng vốn đảm bảo hiệu quả. Trong
cho vay vốn, chỉ đạo nổi bật của Ban giám đốc là, sau những tháng tổ chức thực
hiện Chỉ thị 202 của Hội đồng Bộ trưởng và Quyết định số 499 của Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam về việc cho vay hộ sản xuất, đã kịp thời xây dựng những
quy định cụ thể hơn trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định về vấn đề này.
Ngày 24/03/1992, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ra quyết định số 70/QĐ - UB quy
định tạm thời về đảm bảo an toàn vốn cho vay hộ sản xuất nông – lâm – ngư
nghiệp. Quy định tạm thời của Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ rõ: “Việc vay vốn của
Ngân hàng để phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cần được chuyển
hướng sang hình thức cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất tạo điều kiện cho các hộ
sản xuất thực sự là “đơn vị kinh tế tự chủ” trong sản xuất. Việc cho vay trực
tiếp đến hộ sản xuất chủ yếu là cho vay ngắn hạn, đáp nhu cầu chi phí theo thời
vụ và khi có điều kiện sẽ từng bước cho vay trung hạn và dài hạn để phát triển
cây dài ngày, mua sắm thiết bị máy móc, áp dụng tiên bộ kỹ thuật về trồng trọt,
chăn nuôi ngành nghề ở nông thôn. Mức cho vay, thời hạn cho vay; phương
thức cho vay và trả nợ, lãi suất cho vay đối với từng loại hộ phải căn cứ vào đặc
điểm và hiệu quả sản xuất từng loại cây con, ngành nghề của từng hộ nhằm giúp
các hộ sản xuất sử dụng vốn có hiệu quả, trả nợ đúng hạn.
Khảo sát cho thấy, đến ngày 31/03/1992, tổng nguồn vốn huy động của
Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Hà Tây đạt 85, 7 tỷ đồng, trong đó tiền gửi tiết
kiệm và kỳ phiếu có mục đích là 68 tỷ. Từ nguồn vốn huy động trên, các chi
đến khi hết nợ. Đối với kinh tế tập thể, Ngân hàng chỉ đầu tư vào khâu dịck
vụvf chỉ đưa vốn vào những đơn vị còn có khả năng quản lý tốt và chỉ đầu tư
vốn lưu động. Đối với hộ sản xuất, vốn được tập trung chủ yếu vào khâu sản
xuất và chế biến nông sản, những hộ kinh doanh có hiệu quả.
Chỉ đạo “ Đi vay để cho vay” là mắt xích quan trọng nhất trong toàn bộ
hệ thống điều hành kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Hà Tây. Từ
cấp uỷ Đảng, sơ quan, Ban chấp hành Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Nữ công
của ngành đều tập trung vào việc giáo dục, động viên tổ chức cho cán bộ, đảng
viên, công nhân viên, đoàn viên trong cơ quan thi đua phấn đấu cho hoạt động
chủ yếu này.
Về hoạt động tín dụng, chỉ tính trong 9 tháng đầu năm 1993, tổng doanh
số cho vay là 217 tỷ, trong đó hộ sản xuất là 144 tỷ, gấp 2 lần so với năm 1992.
Dư nợ cho vay hộ sản xuất lên 135 tỷ, bình quan đầu người là 153 triệu đồng,
tăng 62 triệu so với đầu năm.
Phát huy công tác chỉ đạo hoạt động kinh doanh trong hai năm 1992 –
1993, bước sang năm 1994, Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Hà Tây tiếp tục nâng
cao hiệu quả trong việc thực hện nhiệm vụ “đi vay để cho vay”. Ngày
21/01/1994, Ban giám đốc Ngân hàng ra công văn số 62/NHNo-KH về vệc quy
định tạm thời khoán tài chính đến từng nh Nông nghiệp huyện, thị, Phòng giao
dịch, Bàn tiết kiệm, cửa hàng kinh doanh dịch vụ và người lao động. Nội dung
và phương pháp khoán, bản quy định tạm thời chỉ rõ 3 vấn đề:
- Khoán các chỉ tiêu hạch toán nội bảng để tính thu nhập và chi phí.
- Khoán các chỉ tiêu tính toán ngoại bảng.
- Xác định quỹ tiền lương được hưởng.
Năm 1994, kết quả tín dụng khá nổi bật: Dư nợ tăng trưởng đều đặn,
vững chắc ổn định. Cơ cấu dư nợ chuyển đổi mạnh mẽ, thể hiện rõ khối lượng
vốn tập trung vào thị trường chính của Ngân hàng Nông nghiệp mà trực tiếp là
đầu tư cho hộ sản xuất. Việc đầu tư phát triển ngầnh nghề truyền thống được coi
trọng và tập trung vào các chương trình phát triển kinh tế của tỉnh. Phương
hướng đầu tư của Ngân hàng đã chuyển cơ bản từ trực tiếp (nhỏ) tăng dần đầu
ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Có biện pháp đồng
bộ để giảm dần lãi suất, tạo điều kiện cho đầu tư phát triển”.
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Hà Tây
thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lànn thứ VIII trong tình hình hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng trong những năm 1993 – 1996 luôn đạt hiệu
quả cao, là lá cờ đầu của ngành Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Cán bộ
nhân viên toàn chi nhánh đã tích luỹ được những kinh nghiệm quan trọng về các
mặt kinh doanh dịch vụ, phục vụ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh tế nông
nghiệp, xây dựng nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo để dân giầu nước
mạnh. Đội ngũ cán bộ, nhân viên Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông
thôn Hà Tây phần lớn là lao động nữ (526/842), có tới 235 đồng chí có trình độ
đại học, 565 đồng chí có trình độ trung học. Từ năm 1997, Công đoàn chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp được tách ra từ Công đoàn các Ngân hàng trên địa bàn
tỉnh, để trực thuộc hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Việt Nam.
Ngay từ đầu năm 1997, Ban giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn tỉnh đã chỉ đạo toàn chi nhánh chuyển mạnh hơn sang kinh
doanh thương mại phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục tổ chức sắp xếp lại lao động gắn với củng cố hoàn
thiện hệ thống mạnh lưới nh ở các vùng trong tỉnh; Thực hiện từng bước trẻ hoá
đội ngũ cán bộ trên những khâu chủ yếu của quá trình kinh doanh; Tích cực đào
tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng cao yêu cầu hoạt động kinh doanh trong
cơ chế thị trường; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học và hiện đại hoà hoạt
động ngân hàng; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát; Tiếp tục hoàn thiện
cơ chế khoán tài chính tới nhóm và người lao động; Phối hợp và tranh thủ sự
giúp đỡ của các cấp, phát động phong trào thi đua nhằm hoàn thành các mục
tiêu, kế hoạch năm 1997.
Những giải pháp trên, mỗi giải pháp có bước đi cụ thể. Trong việc sắp
xếp lại lao động Ban giám đốc đã gắn củng cố bộ máy, hoàn thiệ mạng lưới kinh
doanh ở các vùng nông thôn. Trong củng cố bộ máy, cùng với các phòng:
nữ, Hội Cựu chiến binh hỗ trợ, cùng với việc tăng cường đầu tư ứng dụng công
nghệ tin học hiện đại vào các hoạt động Ngân hàng, đồng thời khai thác được
nguồn uỷ thác của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng người nghèo Trung ương nên
hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông
thôn tỉnh Hà Tây vẫn đạt hiệu quả cao. Toàn chi nhánh có 150 máy vi tính đã
áp dụng tốt chương trình mạng LAN (đến Ngân hàng loại 4) giao dịch trực tiếp
với khách hàng khi họ đến giao dịch về tiền vay, tiền gửi, thanh toán chuyển
tiền nội ngoại tỉnh, thực hiện sao kê tính lãi và làm các loại báo cáo thống kê
đếu đảm bảo kịp thời. Chính vì vậy năng suất lao động cao, giải phóng khách
hàng nhanh, hạch toán chính xác luân chuyển vốn nhanh, nâng cao khả năng
quản lý, góp phần chuyển 70 cán bộ gián tiếp sang lao động trực tiếp, tạo được
uy tín cao đối với khách hàng.
Tình hình kinh doanh trong hai năm 1998 – 1999 có những khó khăn
mới. Lĩnh vực tài chính tiền tệ không ổn định. Giá đồng đô la Mỹ trên thị
trường quốc tế diễn biến phức tạp. Chỉ số lạm phát 1998 lên 9.2% cao hơn mức
của hai năm 1996 – 1997. Nền kinh tế đất nước đang có sự chuyển đổi, sắp xếp
lại doanh nghiệp, cổ phần hoá một số doanh nghiệp Nhà nước. Năng lực về vốn
công nghệ trình độ quản lý, sản xuất kinh doanh của các tổ chức, các xí nghiệp
và tư nhân còn kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế. Bên cạnh
đó sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại quốc doanh và quỹ tín dụng
nhân dân đang hoạt động đan xen trên khắp địa bàn tỉnh trong lĩnh vực huy
động vốn và mở rộng cho vay. Do tốc đọ tăng trưởng kinh tế giảm sút trên thị
trường xuất hiện hiện tượng giảm phát, sức mua giảm, hàng hoá tiêu thụ chậm
và ứ đọng cao. Tình trạng lao động thiếu việc làm, nạn cờ bạc, số đề, hui họ…
hoạt động ngày càng tinh vi hơn. Tất cả những điều đo đã ảnh hưởng đến quá
trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Từ những khó khăn trên, cấp uỷ, Ban giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển Nông thôn tỉnh Hà Tây đã có sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành nhạy
bén, kịp thời để tiếp tục nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ngay từ đầu năm 1998,
Ban giám đốc đề ra phương châm chỉ đạo của toàn chi nhánh là: “chất lượng,
đồng, đạt 104,3% kế hoạch, tăng 229, 5 tỷ so với đầu năm, tốc độ tăng trưởng là
18%, bình quân nguồn vốn đạt 1.740 triệu /cán bộ. Tổng dư nợ cho vay là
1.031tỷ, đạt 106% kế hoạch, tăng 221 tỷ so với đầu năm, tốc độ tăng trưởng là
27,3%, bình quân dư nợ 1.186 triệu /cán bộ. Dư nợ cho vay hộ nghèo là 138 tỷ
đồng, tăng 21 tỷ so với đầu năm. Tổng doanh số cho vay cả năm là 1.053 tỷ,
tăng 268 tỷ so với năm 1999. Doanh số thu nợ 932 tỷ, đã đầu tư cho 102.269
lượt hộ và 139 doanh nghiệp được vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh.
Số hộ còn dư nợ chiếm 39% số hộ trong toàn tỉnh.