Những vấn đề cơ bản về hoạt động tư vấn đầu tư - Pdf 64

Những vấn đề cơ bản về hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán của công ty
chứng khoán

1.Các hoạt động cơ bản của công ty:
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công ty chứng khoán:
1.1.1.Khái niệm công ty chứng khoán:
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của
nền kinh tế hiện đại. Chúng ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế
qua diễn biến trên thị trường chứng khoán. Cùng với sự phát triển của thị trường
chứng khoán trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đang phát triển
theo quy luật này. Cho đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua 6
năm đầu tiên trong lịch sử phát triển của mình, 6 năm làm quen với hoạt động thị
trường chứng khoán, 6 năm vượt qua bao thăng trầm, bao khó khăn thử thách để
từng bước phát triển và bước đầu chúng ta đã thu được những thành tựu đáng kể.
Chỉ số VN-INDEX đã vượt qua ngưỡng 1000 điểm, đã thu hút được rất nhiều
công chúng tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán các công ty chứng
khoán cũng phát triển song song thực hiện các chức năng của mình. Vậy khái
niệm về công ty chứng khoán là gì?
Theo Giáo trình Thị trường chứng khoán xuất bản năm 2002 của Đại học
Kinh tế quốc dân Hà Nội “Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung
gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”. Ở Việt Nam. Theo
quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10 năm 1998 của UBCKNN,
công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập
hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép thực
hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán.
1.1.2. Phân loại công ty chứng khoán:
 Phân loại theo loại hình tổ chức: Có ba loại hình tổ chức cơ bản:
 Công ty hợp danh:
- Là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên
- Thành viên của công ty chứng khoán hợp danh bao gồm: Thành viên góp

Theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách
rời với kinh doanh tiền tệ.
 Đa năng hoàn toàn:
Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh
bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác.
Ưu điểm của mô hình này:
- Các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm
bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư.
- Tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị
trường tài chính. Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là
kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về khách
hàng cũng như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài
trợ dự án.
Hạn chế của mô hình này:
- Vừa là tổ chức tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán, do đó
khả năng chuyên môn không sâu như các công ty chứng khoán chuyên doanh.
1.1.3. Đặc điểm của công ty chứng khoán:
 Về tính chuyên môn hoá và phân cấp quản lý:
Công ty chứng khoán chuyên môn hoá ở mức độ cao trong từng bộ phận
phòng ban. Toàn bộ các nghiệp vụ của công ty chứng khoán đều phục vụ cho các
giao dịch chứng khoán, mỗi một nghiệp vụ lại liên quan đến một lĩnh vực riêng,
các phòng ban khác nhau đảm nhiệm các công việc khác nhau. Giữa các phòng
ban có một sự độc lập tương đối, mối liên kết không phải mật thiết hữu cơ như
các doanh nghiệp sản xuất khác. Chính vì vậy hoạt động hay cơ cấu của phòng
ban này không ảnh hưởng nhiều đến phòng ban khác.
 Về nhân tố con người:
Công ty chứng khoán dựa vào chất lượng chuyên môn đạo đức nghề nghiệp
của đội ngũ nhân viên và cán bộ quản lý trong công ty. Do đó ở bất kỳ thời điểm
nào công ty chứng khoán cũng thực sự chú trọng đến nhân tố con người, thể hiện

 Phòng phân tích và thông tin thị trường
 Phòng kế hoạch công ty
 Phòng phát triển sản phẩm mới
 Phòng công nghệ thông tin
 Phòng pháp chế
 Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
 Phòng ngân quỹ
 Phòng tổng hợp hành chính nhân sự
1.1.4.Vai trò của công ty chứng khoán:
- Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty
chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông buôn bán tấp nập trên thị
trường chứng khoán, qua đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ
việc hình thành những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng.
 Vai trò của các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán:
 Vai trò huy động vốn:
- Công ty chứng khoán có vai trò là chiếc cầu nối và đồng thời là kênh dẫn
vốn cho vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa
vốn đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn.
- Các công ty chứng khoán thường đảm nhận vai trò này qua các hoạt động
bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.
 Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả:
- Ngành công nghiệp chứng khoán nói chung, công ty chứng khoán nói riêng,
thông qua các sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, có chức năng cung
cấp một cơ chế giá cả nhằm giứp các nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực
tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình.
- Công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệp trên thị
trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán.
 Vai trò cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt:
- Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng

 Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức (điển hình là sự sợ hãi và tham
lam), để giúp khách hàng có những quyết định tỉnh táo.
 Đề xuất thời điểm bán hàng.
 Những đặc trưng cơ bản của nghề môi giới chứng khoán:
 Lao động cật lực, thù lao xứng đáng.
 Những phẩm chất cần có: kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý và ứng xử.
 Nỗ lực cá nhân là quyết định, đồng thời không thể thiếu sự hỗ trợ của
công ty trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân tích cũng như việc thực
hiện các lệnh của khách hàng.
 Nghề môi chứng khoán cần các kỹ năng:
 Kỹ năng truyền đạt thông tin.
 Kỹ năng tìm kiếm khách hàng:
 Kỹ năng khai thác thông tin.
1.2.2. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán:
 Khái niệm:
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bán các
chứng khoán cho chính mình bằng nguồn vốn của mình.
 Mục đích của hoạt động tự doanh:
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên các
thị trường giao dịch tập trung hoặc trên thị trường OTC,…với mục đích nhằm thu
lợi cho chính mình
 Những yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh:
-Tách biệt quản lý.
-Ưu tiên khách hàng.
-Bình ổn thị trường.
 Quy trình nghiệp vụ trong hoạt động tự doanh:
-Xây dựng chiến lược đầu tư.
-Khai thác,tìm kiếm các cơ hội đầu tư.
-Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư.
-Thực hiện đầu tư.

 Khái niệm:
Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán cho khách hàng
thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán.
Việc lưu ký chứng khoán này ngoài mục đích giữ hộ chứng khoán còn thực
hiện hộ quyền của khách hàng đó là:
Khi sở hữu chứng khoán nhà đầu tư có một số quyền nhất định (quyền bỏ
phiếu bầu HĐQT; bỏ phiếu quyết định các vấn đề có ảnh hưởng đến toàn bộ
công ty; quyền nhận thu nhập, quyền kiểm tra sổ sách của công ty; quyền được
phân chia tài sản, quyền chuyển đổi cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu…) và được
gọi chung là quyền sở hữu chứng khoán. Người sở hữu có thể thực hiện trực
tiếp hay gián tiếp. Trong nhiều trường hợp, thực hiện quyền trực tiếp rất bất lợi,
thủ tục phức tạp nên người sở hữu chứng khoán có thể ủy quyền qua hệ thống
lưu ký. Với những chứng khoán được lưu ký tại trung tâm lưu ký thì việc thực
hiện quyền gián tiếp hết sức đơn giản vì trung tâm lưu ký biết thông tin về
người sở hữu chứng khoán, thực hiện đăng ký sở hữu chứng khoán cho người
nắm giữ.
2. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán của công ty chứng khoán:
2.1.Khái niệm và vai trò của hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status