VAI TRÒ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG VIỆC CHO VAY ĐỐI VỚI
ĐOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG.
1.Một số khái niệm về NH thương mại
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NH.
- Tại Mỹ : NH thương mại là một công ty chuyên cung cấp dịch vụ tài chính
và hoạt động trong ngành công nghiệp tài chính.
- Tại ấn Độ, NH thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay
tài trợ đầu tư.
- Tại Việt Nam NH thương mại là một tổ chức tài chính trung gian có chức
năng kinh doanh tiền tệ với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận
tiền gửi của khách hàng bằng các hình thức huy động vốn với trách nhiệm
hoàn trả cả gốc và lãi cho khách hàng với một thời gian thoả thuận. Đồng
thời NH sẽ sử dụng đồng tiền huy động cộng với vốn tự có của bản thân
NH để cho vay chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
2. Chức năng của NH thương mại :
2.1. Chức năng tạo tiền :
Dựa vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc hay dư thừa, các NH thương mại khi cho
vay sẽ giữ lại một phần (khoảng 10%), có khi là dự trữ bắt buộc ER (tuỳ
thuộc vào khoản vay) và mối quan hệ của NH với khách hàng. Với một ví dụ
đơn giản như sau :
Với 10.000 đơn vị tiền tệ NH cho vay và giữ lại tỉ lệ dự trữ RR bằng 10%,
khi đó NH cho vay 9.000. Tại NH thứ 2 nhận 9,000 tiền gửi để xuất chứng
thư, NH thứ 2 giữ lại khoản dự trữ là 900 và cho vay 8,100. Cứ tiếp tục như
thế, NH thứ 3 sẽ cho vay 7 290. Ngày nay, với hệ thống NH, việc cho vay và
nhận gửi liên tiếp tổng dự trữ sé là 10 000 và cho vay là 90 000.
1
Lượng tiền gửi (D) khi đó = .R (R : tỉ lệ dự trữ).
RR
Khi đó số tiền NH tạo ra gấp 1/RR lần so với dự trữ ban đầu
lý.
2.6 Chức năng bảo quản vật có giá :
NH nhận bảo quản các loại tài sản, cung cấp cho khách hàng giấy chứng
nhận và giấy chứng nhận này có thể lưu hành như tiền.
2.7 Môi giới và mua bán chứng khoán :
Thị trường tài chính ngày càng phát triển và mở rộng, NH luôn muốn trở
thành một Bách hoá tài chính, cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính, giúp
khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. NH cung cấp các dịch vụ chứng khoán như
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu mà không cần nhờ đến người kinh doanh
chứng khoán.
2.8. Chức năng tín dụng :
Có 2 vấn đề mà mọi NH đều phải quan tâm.
- Thứ nhất là : NH có thể huy động vốn ở đâu với chi phí thấp
- Thứ hai là : nhà quản lý NH phải làm gì để đảm bảo NH luôn có đủ tiền để đáp
ứng nhu cầu xin vay của khách hàng.
NH thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội từ mọi
thành phần trong nền kinh tế đồng thời nó dùng chính số tiền đó để cho vay đối
với các thành phần kinh tế trong xã hội khi chúng có nhu cầu bổ sung vốn.
Huy động vốn :
- Tiền gửi giao dịch : đây là loại tiền gửi của các doanh nghiệp, đơn vị cá nhân,
tổ chức… tiền gửi vào nhằm phục vụ cho mục đích thanh toán khi họ có nhu
cầu rút tiền.
- Tiền gửi kỳ hạn của các tổ chức kinh tế : Đó là những nguồn tiền không luân
chuyển thường xuyên nhưng chi phí trả lãi cao, lãi suất có thể xác định trước
hoặc thoả thuận, quy mô không có giới hạn. Đối với những nước có NH phát
triển, tiền gửi có kì hạn chủ yếu là các chứng chỉ tiền gửi (CDs) với kì hạn xác
định. Tuy nhiên ngày nay, để bảo vệ NH và những người gửi tiền khỏi rủi ro lãi
suất CDs thả nổi và lãi suất điều chỉnh 3 đén 6 tháng một lần.
- Tiền gửi tiết kiệm lãi suất áp dụng cao hơn so với tiền gửi giao dịch, tuy nhiên
chi phí duy trì và quản lý nói chung thấp. Đây là loại tiền gửi đa dạng và phổ
thiết đó.
Trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cạnh tranh
lẫn nhau, sự cạnh tranh này không chỉ diễn ra với các doanh nghiệp trong
nước mà cả với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong điều kiện như vậy đòi hỏi
các doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô sản xuất cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu để làm sao hàng hoá sản xuất ra có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá
rẻ, phù hợp với thị hiếu. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đó giúp cho các
doanh nghiệp có những sản phẩm phù hợp có thể cạnh tranh với những sản
phẩm cùng loại trên thị trường, đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn lớn để
đầu tư cải tạo thiết bị công nghiệp lạc hậu nhằm giảm chi phí sản xuất. Hơn
nữa trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng cần
phải có vốn để dự trữ nguyên nhiên vật liệu để cho quá trình hoạt động sản
xuất diễn ra liên tục, nếu không, với bất kì một lý do nào mà làm cho doanh
nghiệp trì trệ trong sản xuất sẽ gây ra tổn thất nghiêm trong cho doanh nghiệp
ở hiện tại cũng như trong tương lai.
Khi đã có những máy móc thiết bị công nghiệp hiện đại thì đòi hỏi doanh
nghiệp phải có đội ngũ cán bộ lành nghề để có thể vận hành những máy móc
thiết bị hiện đại đó, nâng cao hiệu quả sản xuất và tránh những sai lầm đáng
tiếc do không hiểu biết gây ra. Để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận thì
sản xuất của doanh nghiệp được sản xuất ra mới chỉ là một phần trong toàn
bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà điều quan
trọng là sản phẩm của doanh nghiệp được sản xuất ra có được thị trường
chấp nhận hay không. Do vậy trong cơ chế kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp
phải thực hiện tốt công tác Maketing để sao cho sản phẩm của doanh nghiệp
sản xuất ra khi tung ra thị trường được khách hàng chấp nhận ngay, nhưng
sản phẩm sản xuất ra không chỉ để phục vụ cho khách hàng quen thuộc mà còn
phải thu hút được khách hàng tiềm năng. Qua đó để doanh nghiệp có thể nắm
bắt được nhu cầu thị trường mà đưa ra những chiến lược phù hợp với trình độ
và năng lực sản xuất của mình và trả lời 3 câu hỏi : sản xuất cái gì ? sản xuất
sản phẩm đó cho ai ? sản xuất như thế nào ?
không ngừng tăng lên. Khi lạm phát ở mức độ cao sẽ làm cho nền kinh tế bị suy
sụp một cách nhanh chóng làm mất thăng bằng trong cán cân thanh toán, giá
cả hàng hoá tăng nhanh theo tốc độ lạm phát, trong khi thu nhập của người
lao động tăng chậm dẫn đến mức sống bị giảm xuống nghiêm trọng. Từ đó làm
cho việc tiêu thụ sản phẩm ngày càng trở nên khó khăn hơn sản xuất không
phát triển… dẫn đến kìm hãm của sự phát triển của nền kinh tế, các quan hệ xã
hội bị đảo lộn, tệ nạn xã hội bị gia tăng, thất nghiệp hàng loạt… Trước những
vấn đề như vậy, Nhà nước sử dụng NH như một công cụ điều chỉnh lạm phát
thông qua việc điều hoà lượng tiền lưu thông trên thị trường bằng các nghiệp
vụ NH.
- NH thương mại giúp cho việc phân bổ hợp lí các nguồn lực giữa các vùng
trong quốc gia tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế. Các doanh nghiệp
hoạt động trong nền kinh tế thị trường với mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi
nhuận, khi đó các doanh nghiệp sẽ tìm kiếm cho mình một môi trường và lĩnh
vực đầu tư thuận lợi mang lại hiệu quả kinh tế cao, tất yếu nhiều khu vực đầu
tư sẽ bị lãng quên do khu vực này bị hạn chế về nguồn lực tài nguyên, vị trí địa
lý, môi trường hoạt động… từ đó tạo nên sự phát triển mất cân đối về kinh tế
giữa các vùng, sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng ngày càng lớn.
Việc phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi
Nhà nước phải trực tiếp tham gia điều tiết nền kinh tế bằng những công cụ
hữu hiệu của mình. Để điều tiết sự mất cân đối này, Nhà nước cũng thông qua
NH để điều chỉnh, các NH sẽ đứng ra để điều hoà vốn, tìm nơi có lượng vốn
nhàn rỗi được huy động đến những nơi thiếu hụt đảm bảo thuận lợi cho phát
triển kinh tế vùng và xoá dần sự khác biệt giữa các vùng lãnh thổ về kinh tế xã
hội
- NH góp phần khích lệ sự tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh của thành
phần kinh tế và tầng lớp dân cư thông qua lãi suất. Các nhà sản xuất kinh
doanh muốn có lợi nhuận cao yêu cầu phải tiết kiệm tối đa những chi phí trong
sản xuất từ đó giảm các khoản tiền vay NH và có số tiền gửi vào NH. Số lượng
tiền gửi đóng vai trò quan trọng trong việc tiết kiệm đầu tư trong sản xuất.
còn nhiều hạn hẹp, việc cấp vốn bổ sung cho các DNNN còn nhiều hạn chế, do
đó đòi hỏi các DNNN phải tự lo vốn cho bản thân, phần vốn thiếu hụt còn lại
phải đi vay NH.
- Đặc điểm về trình độ kỹ thuật công nghệ : máy móc thiết bị dây truyền sản xuất
ở các DNNN đa số là lạc hậu, hiệu quả sản xuất không cao, công suất thấp. Các
máy móc đã khấu hao hết nhưng vẫn được sử dụng. Do không đồng bộ trong
các bộ phận cấu thành của máy cũng như thời hạn sử dụng quá lâu, nay vẫn
đưa vào khai thác sử dụng nên công suất thấp, chi phí sửa chữa lớn gây lãng
phí và tất yếu sẽ làm giá thành sản phẩm cao gây khó khăn trong tiêu thụ.
Về trình độ quản lý :
Do tồn tại trong một thời gian tương đối dài trong nền kinh tế tập trung
quan niêm bao cấp nên các DNNN vẫn có xu thế ỷ lại, không tự chủ trong sản
xuất, làm cho hoạt động sản xuất của các DNNN bị trì trệ, hàng hoá sản xuất ứ
đọng không tiêu thụ được làm nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ, mất khả năng
thanh toán, nợ NH ngày càng nhiều. Bên cạnh đó các doanh nghiệp còn vay vốn
lẫn nhau nhưng không trả chiếm dụng vốn của nhau gây ảnh hưởng tới sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Về đội ngũ cán bộ :
Đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn chiếm tỉ lệ thấp, cho nên việc áp
dụng và sử dụng các dây truyền hiện đại khó khăn, có khi còn mang lại tổn thất
cho doanh nghiệp.
2. Vị trí của kinh tế Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Trong thời kỳ bao cấp, hoạt động của các DNNN kém hiệu quả, làm ăn thua
lỗ kéo dài, do việc nhận thức về cơ chế kinh tế “hoạt động có hiệu quả thì tốt,
nếu kinh doanh thua lỗ sẽ được Nhà nước trợ cấp”. Khi đó làm cho các DNNN
thời kỳ này luôn có su thế ỷ lại, không chủ động sáng tạo mà hoạt động như
một cỗ máy sản xuất theo số lượng củ thể đã được giao. Những máy móc thiết
bị, nguyên nhiên vật liệu đều được cấp không biết chất lượng tốt xấu ra sao,
nhưng miễn là sản xuất ra sản phẩm và việc tiêu thụ cũng được bao cấp từ
đầu đến cuối, chỉ cần giao nộp đầy đủ với số lượng sản phẩm sản xuất được
giải pháp để thu được lợi nhuận cao nhất, họ sẽ tiến hành kinh doanh vào
những ngành có lợi nhuận cao, môi trường điều kiện thuận lợi và thời gian thu
hồi vốn nhanh bởi vì họ bỏ một đồng vốn không biết trong tương lai giá trị
đồng tiền đó như thế nào, họ có thể thu về được số tiền có giá trị lớn hơn
không. Như vậy làm cho nền kinh tế phát triển không lành mạnh, mất cân đối
giữa các ngành, làm cho nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế bị lãng quên.Trong
khi đó mục tiêu phát triển kinh tế của nước ta là phát triển theo định hướng
CNH – HDH đất nước, phát triển cân đối nền kinh tế thì không thể thiếu được
các DNNN.
Các DNNN được thành lập trên cơ sở được Nhà nước cấp vốn cho nên sẽ
thực hiện các mục tiêu chiến lược của Nhà nước. Đối với vấn đề phát triển kinh
tế ở mỗi quốc gia, việc giữ cân bằng trong cơ cấu kinh tế là rất quan trọng, mỗi
một ngành lĩnh vực có đặc diểm chức năng riêng của nó, sự vận hành của các
nganh cũng giống như các bộ phận trong cùng một cơ thể tạo nên một tổng
thể hài hoà, mỗi bộ phận có chức năng nhiệm vụ riêng không thể thay thế được
cho nhau. Do vậy Nhà nước là người có trách nhiệm điều hành một tổng thể
phù hợp giữa các ngành trong nền kinh tế.
- DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nều kinh tế quốc dân. Vai trò này vẫn tiếp
tục đươc khẳng định trong quá trình đổi mới DNNN ở nước ta, DNNN là một
trong những công cụ chủ yếu để Nhà nước điều tiết chi phối toàn bộ nền kinh
tế quốc dân theo định hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh, Nhà nước nắm độc quyền sản xuất một số ngành như
điện lực, thuốc chữa bệnh… và những sản phẩm đem lại nguồn thu lớn cho
ngân sách Nhà nước như : rượu bia, thuốc lá.
- DNNN đóng vai trò trong việc cung cấp và ổn định giá cả các lâọi hàng hoá