BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
NGUYỄN QUỐC GIANG
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DỰA TRÊN NỀN
TẢNG
KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG (STRESS
TESTING)
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
1
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
NGUYỄN QUỐC GIANG
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DỰA TRÊN NỀN
TẢNG
KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG (STRESS TESTING)
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT
NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
EAD
EL
GHTD
IMF
KHLQ
NHCT
NHNN
NHTM
NHTW
PD
PDTD
QTRRTD
ST
DPRR
6
: Dư nợ gặp rủi ro khi xảy ra vỡ nợ (exposure at default)
: Tổn thất ước tính được (expected loss)
: Giới hạn tín dụng
: Quỹ tiền tệ quốc tế
: Khách hàng liên quan
: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
: Ngân hàng Nhà nước
: Ngân hàng thương mại
: Ngân hàng trung ương
: Xác suất vỡ nợ (probability of default )
: Hạn mức rủi ro
VBCS
: Văn bản chính sách
KVRR
: Khẩu vị rủi ro
HMKSRR
: Hạn mức kiểm soát rủi ro
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
7
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Trang
8
9
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu ở các quốc gia về kiểm tra sức
chịu đựng của hệ thống ngân hàng trước những biến động vĩ mô. Các nghiên
cứu đều hướng đến việc đo lường tổn thất của danh mục cấp tín dụng/ngân
hàng khi có những biến động bất lợi trong tình huống kinh tế vĩ mô có những
diễn biến xấu hoặc khi các sự kiện, các cú sốc ngoại lệ có thể xảy ra, nhằm
giúp các cơ quan quản lý, các tổ chức tài chính chủ động đối phó với những
tình huống xấu nhất có thể xảy ra.
Tại Việt Nam, có nhiều các đề tài nghiên cứu hoặc hội thảo khoa học về
Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng được tiếp cận từ các
phương pháp hoặc các lý luận truyền thống dựa trên những số liệu và những
tổn thất đã xảy ra chưa áp dụng các phương pháp tính toán dự báo cho những
tổn thất trong tương lai đối với hoạt động quản trị rủi ro tín dụng.
Thời gian vừa qua, có một số công trình nghiên cứu áp dụng kiểm tra
sức chịu đựng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng như:
Đề tài “Xây dựng mô hình thử sức chịu đựng rủi ro tín dụng – từ lý
thuyết đến thực tiễn tại Việt Nam” của nhóm tác giả Vũ Thị Kim Oanh, Vũ
Hải Yến, Nguyễn Thị Thu Trang, Bùi Huy Trung. Đề tài đã hệ thống hóa lý
luận về mô hình kiểm tra sức chịu đựng trước những rủi ro tín dụng, trên cơ
sở đó tiến hành đánh giá sức chịu đựng rủi ro tín dụng của các Ngân hàng
thương mại tại Việt Nam, đồng thời đưa ra những gợi ý chính sách cho việc
triển khai đánh giá sức chịu đựng rủi ro tín dụng theo cách tiếp cận Top-down.
Đề tài “Kiểm định rủi ro tín dụng cho các Ngân hàng thương mại niêm
yết tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hoàng Thụy Bích Trâm. Đề tài nghiên
cứu thực hiện thử nghiệm Stress testing để xem xét tác động vĩ mô lên rủi ro
10
11
tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam dựa trên phân tích viễn
cảnh. Kết quả cho thấy tồn tại mối tương quan âm giữa tỷ lệ nợ xấu (NPL) và
nhau của các ngân hàng dẫn đến việc so sánh kết quả giữa các ngân hàng sẽ
có những hạn chế nhất định. Tại Luận án này, tác giả thực hiện kiểm tra sức
chịu đựng thông qua phương pháp Bottom-up dựa trên những dữ liệu đầy đủ,
hiểu rõ về rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại
từ đó có thể đưa ra những kết quả thử nghiệm và dự báo phù hợp nhất cho
Ngân hàng.
Thứ ba, kết quả các đề tài nghiên cứu chủ yếu được dùng để hỗ trợ
ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát đưa ra các chính sách tài chính tiền
tệ ở tầm vĩ mô. Ít có đề tài nghiên cứu chi tiết cụ thể dùng cái tài liệu con số
thực trạng của ngân hàng cụ thể kết hợp dự báo các kịch bản bất lợi thực hiện
kiểm tra sức chịu đựng của Ngân hàng từ đó giúp nhà quản lý Ngân hàng
thương mại có thể sự báo được rủi ro, chủ động hoạch định các chính sách
quản trị rủi ro tín dụng và chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh tương
lai an toàn, bền vững cho Ngân hàng thương mại, chứ không phải xây dựng
chính sách quản trị rủi ro dựng trên những rủi ro đã xảy ra và đã gây tổn thất
cho Ngân hàng thương mại.
3. Những câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Dựa trên những căn cứ lý luận nào để đánh giá và hoàn thiện hoạt
động Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
thương mại?
Câu 2: Thực trạng Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công
Thương VN còn có những tồn tại gì?
Câu 3: Xây dựng và thử nghiệm kiểm tra sức chịu đựng trong quản trị rủi ro
tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương VN có đo lường, đánh giá được
mức tổn thất thực tế nhất khi xảy ra các cú sốc dẫn đến rủi ro tín dụng hay
12
13
không? Có mang lại kết quả hỗ trợ cao nhất cho hoạt động Quản trị rủi ro tín
Rất nhiều kỹ thuật phân tích dự báo rủi ro tín dụng đã được phát triển
và áp dụng tại các NHTM của các quốc gia trên thế giới, trong đó Stress
testing (ST) được áp dụng khá rộng rãi để đo lường sức chịu đựng rủi ro tín
dụng của hệ thống Ngân hàng. Thực tế ở Hoa kỳ, JP Morgan Chase là một
trong những ngân hàng lớn nhất đã áp dụng kỹ thuật này kiểm tra sức chịu
đựng thường xuyên để phục vụ cho mục đích quản trị rủi ro của các danh mục
hiện có, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch kinh doanh. Là một thị trường đang
phát triển, các ngân hàng Việt Nam đã bộc lộ một số bất cập, yếu kém như tỷ
lệ nợ xấu gia tăng, trình độ quản trị còn yếu, nguồn nhân lực chưa đáp ứng
yêu cầu của tốc độ phát triển đa dạng, phức tạp của nền kinh tế thị trường.
14
15
Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu về phương pháp kiểm tra sức chịu đựng
đối với rủi ro trong hoạt động cho vay của các NHTM là rất cần thiết.
Tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (NHCT), việc quản trị rủi
ro trong hoạt động cho vay luôn được Ban lãnh đạo quan tâm và chỉ đạo sát
sao. Hệ thống quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) tương đối đầy đủ và đồng bộ,
bao gồm: Chiến lược QTRRTD, khẩu vị rủi ro tín dụng, chính sách QTRRTD,
bộ máy QTRRTD, các quy trình và quy định về quản lý rủi ro tín dụng, các nội
dung về giám sát và kiểm tra quá trình QTRRTD và điều chỉnh sau giám sát.
Tuy nhiên, để hoàn thiện hơn nữa chính sách quản trị rủi ro trong hoạt động
cho vay cũng như xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thời kỳ,
tác giả đi sâu nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng dựa trên nền tảng kiểm tra
sức chịu đựng (Stress testing) tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam”,
từ đó kiến nghị triển khai thực hiện Stress testing trong quản trị rủi ro hoạt
động cho vay nhằm phát triển NHCT an toàn hiệu quả hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tập trung nghiên cứu xác
trong hoạt động cho vay của NHCT. Các thuật ngữ Rủi ro tín dụng, Quản trị rủi
ro tín dụng, khẩu vị rủi ro tín dụng, chính sách quản trị rủi ro tín dụng…sử
dụng trong luận án được hiểu là các thuật ngữ sử dụng trong hoạt động cho vay
của NHCT, không bao gồm hoạt động huy động vốn và các hình thức cấp tín
dụng khác như phát hành LC và bảo lãnh, bao thanh toán…
Đối tượng khảo sát là các thông tin báo cáo tài chính, tình hình hoạt
động kinh doanh của NHCT và Hệ thống QTRRTD hiện hành tại NHCT, bao
gồm: Chiến lược QTRRTD, Khẩu vị rủi ro tín dụng, Chính sách QTRRTD,
Bộ máy QTRRTD, Các quy trình và quy định về QTRRTD, Các nội dung về
giám sát và kiểm tra quá trình QTRRTD và Điều chỉnh sau giám sát. Từ đó
hiểu thêm về khung quản trị rủi ro, mô hình quản trị rủi ro hiện tại mà NHCT
đang áp dụng, thực hiện nghiên cứu triển khai thực hiện Stress testing trong
QTRRTD nhằm phát triển NHCT an toàn hiêu quả hơn.
16
17
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: tại luận án này tác giả thực hiện nghiên
cứu đánh giá sức chịu đựng trước những rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP
Công Thương Việt Nam, đánh giá khả năng chịu đựng của NHCT trước
những kịch bản bất lợi từ đó đưa ra các chính sách quản trị rủi ro tín dụng và
chiến lược phát triển kinh doanh phù hợp.
Không gian nghiên cứu: tại luận án này tác giả chỉ thực hiện nghiên
cứu những thực hiện đánh giá kiểm tra sức chịu đựng trước những rủi ro tín
dụng (rủi ro trong hoạt động cho vay) tác động đến hoạt động kinh doanh
chính của NHCT, không bao gồm hoạt động của các công ty con, công ty liên
kết của NHCT.
Thời gian nghiên cứu: Các tài liệu, số liệu phục nghiên cứu luận án
được tổng hợp thu thập từ giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018 của NHCT và
nhập kinh tế quốc tế.
Về phương pháp nghiên cứu: tác giả đã xây dựng công trình nghiên cứu
của mình một cách logic từ lý luận đến thực tế áp dụng tại NHCT. Dẫn dắt vấn
đề một cách khoa học, dễ hiểu, dễ tiếp cận. Dùng phương pháp thống kê và mô
hình hồi quy để đo lường con số tổn thất cụ thể cho sự tác động của những cú
sốc đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Chỉ ra những tác động đến tài
sản và vốn của Ngân hàng và đánh giá con số cụ thể về sức chịu đựng của
Ngân hàng trước những cú sốc thay đổi đó.
Từ thực trạng phân tích QTRRTD của NHCT và kiểm tra sức chịu đựng
trong QTRRTD tại NHCT, giúp các nhà quản lý NHCT có thể dự báo trước
được rủi ro, từ đó chủ động hoạch định các chính sách QTRRTD và chiến
lược phát triển hoạt động kinh doanh tương lai an toàn, bền vững cho NHCT,
chứ không phải xây dựng chính sách quản trị rủi ro dựa trên những rủi ro đã
xảy ra và đã gây tổn thất cho Ngân hàng.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng dựa trên nền tảng
kiểm tra sức chịu đựng (Stress testing) tại các Ngân hàng thương mại.
18
19
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng và thử nghiệm quản trị
rủi ro tín dụng dựa trên nền tảng kiểm tra sức chịu đựng (Stress testing) tại
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp thực hiện quản trị rủi ro tín dụng trên nền tảng
kiểm tra sức chịu đựng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
19
21
với rủi ro tín dụng, trong đó các định chế tài chính cho vay dài hạn hoặc mua
trái phiếu dài hạn thường đối mặt với rủi ro tín dụng cao hơn so với các định
chế tài chính cho vay ngắn hạn hoặc mua trái phiếu ngắn hạn.
Biểu đồ 1.1 dưới đây thể hiện phân bố xác suất trả nợ đối với một
khoản vay mà một ngân hàng cấp cho một khách hàng riêng lẻ. Theo đó, xác
suất người đi vay trả được cả gốc và lãi là khá cao, nhưng thấp hơn 1 (tương
ứng với điểm A trên đồ thị). Người đi vay có thể không trả được nợ do những
vấn đề trong dòng tiền, tuy nhiên xác suất người đi vay không trả được cả gốc
lẫn lãi thường không cao (tương ứng với điểm C trên đồ thị). Dù xác suất này
không cao, vẫn luôn tồn tại khả năng xảy ra tình huống khách hàng vay không
trả được một phần hoặc hoàn toàn không trả được gốc và lãi. Do đó tổ chức
tài chính luôn phải ước lượng rủi ro không trả được nợ đối với các tài sản này
và đặt ra một mức bù rủi ro tương xứng với phần rủi ro phải gánh chịu.
Biểu đồ 1.1. Phân bố xác suất trả nợ của khoản vay
(Nguồn: Saunders, A., & Cornett, M. M. (2007). Financial Institutions Management A
Risk Management Approach, 6th edition. Boston: Mcgraw-Hill Irwin)[21]
21
22
Khi tổ chức tài chính đa dạng hoá danh mục đầu tư, tổng mức rủi ro tín
dụng trên toàn danh mục tài sản sẽ giảm xuống. Đa dạng hoá danh mục đầu tư
làm giảm mức rủi ro tín dụng của tổ chức tài chính đối với từng khách hàng
riêng lẻ (individual firm-specific credit risk) nhưng không làm giảm được rủi
ro tín dụng hệ thống (systematic credit risk) – là những rủi ro thường đi cùng
với tình hình kinh tế chung tác động đến tất cả người đi vay, ví dụ như rủi ro
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng được định nghĩa “là khả năng xảy ra tổn thất
trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực
hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Theo PGS.TS. Phan Thị Thu Hà tại Giáo trình Ngân hàng thương mại
(2013), Trường đại học kinh tế quốc dân, viện Ngân hàng – Tài chính,
NXB Đại học Kinh tế quốc dân[26], rủi ro tín dụng bao gồm (i) rủi ro tín
dụng đối với một khoản tín dụng - là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng
không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa
ngân hàng và khách hàng; và (ii) rủi ro tín dụng trên cơ sở danh mục tín dụng
của ngân hàng - là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả
hoặc hoàn trả không đầy đủ số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký
giữa Ngân hàng và khách hàng xét theo danh mục tín dụng (ví dụ như đối với
một lĩnh vực kinh doanh cụ thể, một nhóm khách hàng hàng liên quan, một
phân khúc khách hàng cụ thể….). Tương tự, theo PGS. TS. Nguyễn Minh
Kiều tại Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại (2012), Đại học Mở TP
Hồ Chí Minh & chương trình Giảng dạy kinh tế Fullbright, NXB Lao
Động[27], rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách nợ không còn khả
năng chi trả. Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách
hàng vay nợ có thể mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Rủi ro tín
dụng phát sinh khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và tất cả các hình
thức cấp tín dụng của ngân hàng như cho vay ngắn hạn, trung dài hạn, cho
thuê tài chính, chiết khấu chứng từ có giá, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự
án, bao thanh toán và bảo lãnh đều chứa đựng rủi ro tín dụng. Như vậy, theo
23
24
hai định nghĩa đưa ra bởi PGS. TS. Phan Thị Thu Hà và PGS. TS. Nguyễn
Minh Kiều, rủi ro tín dụng chỉ liên quan đến các hoạt động cấp tín dụng của
25
sản (ở đây là giá trị khoản vay) và làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận ròng và
giảm vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Tuy nhiên, Tổn thất ước tính được về bản chất chỉ là con số mang tính
chất dự kiến, ước lượng của ngân hàng. Trên thực tế, mức tổn thất thực sự xảy ra
có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với Tổn thất ước tính được. Khi mức độ tổn thất
thực tế cao hơn với mức độ tổn thất đã ước tính, ngân hàng phải chịu tổn thất
vượt quá mức ước tính. Tổn thất vượt quá mức ước tính này được gọi là Tổn thất
không ước tính được (Unexpected losses – UL). Các tổn thất không ước tính
được không thường xuyên xảy ra, nhưng khi xảy ra thì mức độ tổn thất có thể là
rất lớn. Các ngân hàng biết rằng có thể xảy ra các tổn thất không ước tính được
này, nhưng rất khó để biết trước thời điểm hoặc mức độ nghiêm trọng của các
tổn thất không ước tính được. Khi tổn thất không ước tính được xảy ra, ngân
hàng phải sử dụng vốn chủ sở hữu của mình để bù đắp, do đó ngân hàng cần
phải nắm giữ đủ vốn để bù đắp cho tổn thất không ước tính được.
Tổn thất ước tính được và Tổn thất không ước tính được được minh
hoạ trên đồ thị 1.2 dưới đây.
Biểu đồ 1.2. Tổn thất ước tính được, Tổn thất không ước tính được và tần
suất xảy ra tổn thất
(Nguồn: Basel, 2005)
25