LUẬT HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH
Có được xóa tên trong hộ khẩu sau ly hôn?
Tình Huống: Khi kết hôn, người vợ nhập hộ
khẩu về gia đình nhà chồng. Sau khi nhận
bản án ly hôn, người vợ chuyển về nhà cha
mẹ đẻ sống. Người chồng có đến công an xã
nơi gia đình mình đăng ký hộ khẩu yêu cầu
xóa tên người vợ trong hộ khẩu nhưng công
an xã từ chối giải quyết và trả lời là không thể
được, như vậy có đúng không?
Trả lời: Theo điểm đ, khoản 1 và khoản 2 điều 22;
khoản 1 điều 23 Luật cư trú, vợ chồng ly hôn
không thuộc trường hợp bị xóa đăng ký thường
trú. Do đó, người chồng không thể yêu cầu xóa
tên người vợ trong hộ khẩu gia đình được với lý
do đã ly hôn. Tuy nhiên, do vợ cũ của người
chồng đã thay đổi chỗ ở nên trong thời hạn 24
tháng, kể từ ngày chuyển về nhà cha mẹ đẻ,
người vợ cũ phải làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký
thường trú. Sau khi người vợ cũ đã đăng ký
thường trú ở nơi cư trú mới, cơ quan làm thủ tục
đăng ký thường trú có trách nhiệm thông báo cho
cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xóa đăng
ký thường trú ở nơi cư trú cũ.
Tình huống : Người chồng làm đơn xin ly hôn nhưng
người vợ không muốn hai con mình bị tổn thương
nên không ký vào đơn. Sau mấy lần hòa giải không
chồng. Như vậy, người vợ và hai con được
hưởng toàn bộ di sản của người chồng.
Tình huống:
Người vợ làm đơn xin ly hôn trong khi
đang mang thai. 5 tháng sau khi tòa
án giải quyết cho ly hôn, người vợ
sinh con nhưng người chồng không
thừa nhận đứa trẻ là con mình. Vậy,
cháu bé sinh ra có được coi là con
chung của vợ chồng không?
Trả lời:
Việc xác định con chung của vợ chồng được quy định tại Điều
21 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính
phủ. Theo đó, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do
người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con
chung của vợ chồng. Ngoài ra, con được sinh ra trong vòng
300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản
án, quyết định của toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực
pháp luật cũng được xác định là con chung của hai người.
Theo quy định nói trên, nếu thời điểm cháu bé sinh ra chỉ sau 5
tháng (150 ngày) kể từ ngày bản án, quyết định của toà án xử
cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật thì được xác định là
con chung của hai người.
Trong trường hợp người chồng không nhận đứa trẻ là con
chung của hai người thì phải có chứng cứ và phải được toà án
xác định. Người chồng có thể tự mình (hoặc đề nghị tòa án)
cho tiến hành giám định AND của đứa trẻ hoặc đưa ra các
chứng cứ khác để chứng minh đứa trẻ không phải là con mình.
mình.Như vậy, trường hợp trên người mẹ hoàn toàn có
quyền yêu cầu người cha phải cấp dưỡng nuôi con, nếu
không thỏa thuận được chị yêu cầu tòa án giải quyết. Chắc
chắn yêu cầu của người mẹ sẽ được tòa án chấp nhận. Tình huống:
Năm 2004, tôi chung sống với một người, tuy
không đăng ký kết hôn nhưng được cha mẹ, họ
hàng hai bên công nhận là vợ chồng. Cùng năm
đó, tôi sinh được 1 đứa con. Sau khi sinh con tôi
có đến UBND phường để làm khai sinh cho con
thì nơi đây chỉ ghi họ tên mẹ và bỏ trống phần
khai về cha. Đến năm 2006, chồng tôi đột ngột
qua đời. Hiện nay gia đình chồng tôi đang tiến
hành phân chia thừa kế mà không cho con tôi và
tôi được hưởng gì cả. Tôi muốn biết theo quy
định của pháp luật con tôi có được chia thừa kế
không ? Nếu được thì phải làm các thủ tục nào?