MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………… 2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài……………………………………… 3
3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………… 4
4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………… 4
5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………… 4
II. PHẦN NỘI DUNG
1.Cơ sở lí luận ………………………………………………………………………….5.
2. Thực trạng ……………………………………………………………………………6.
2.1. Phân tích, đánh giá các vấn đề về th ực trạng mà đề tài đã đ ặt ra…7
3. Nôi dung và hinh thức của giai pháp………………………………..8
3.1. Mục tiêu của giai pháp…………………………………………… 8
3.2. Nôi dung và cách thức thực hiện giai pháp………………………. 8
mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Ch ỉ
thị số 03 của Bô Chính trị.
Tập trung chỉ đạo việc quan lí, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến th ức, kĩ
năng. Điều chỉnh nôi dung dạy học và đánh giá, xếp loại theo TT
30/BGD&ĐT phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học. Tăng c ường
giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống. Đổi mới phương pháp dạy học.
Tăng cường cơ hôi tiếp cận giáo dục cho trẻ em có hoàn canh khó khăn.
Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tôc thiểu số. Đổi mới mạnh mẽ
công tác quan lí chỉ đạo, bồi dưỡng giáo viên, đề cao trách nhi ệm, khuy ến
khích sự sáng tạo cũng như đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học và quan lí.
Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của năm học, cũng nh ư góp
phần
từng bước nâng cao chất lượng giáo dục tại địa bàn mà dân tôc Ê đê chi ếm
phần lớn dân số của Buôn Dlung 1A và 1B , đặc biệt trường Tiểu h ọc Y
Nuê thi học sinh dân tôc Ê đê chiếm 100% . Do vậy các em g ặp không ít
khó khăn khi phai học tập và tiếp nhận sự giáo dục bằng tiếng Vi ệt, b ởi
vi:
+ Hầu hết các em còn rất hạn chế về ngôn ngữ nói, nh ư : Nói ch ưa
chuẩn,chưa đúng về môt số hoặc nhiều tiếng, từ tiếng Việt, tuỳ theo khu
vực khác nhau
(buôn ở gần với người Kinh thi trẻ em nói được nhiều tiếng Việt chuẩn
hơn buôn ở xa người Kinh).
+ Kỹ năng giao tiếp, diễn đạt bằng ngôn ngữ tiếng Việt còn h ạn ch ế. Các
em chỉ giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt trong các tiết học hoặc khi ti ếp
xúc với thầy, cô giáo. Mà chủ yếu giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ.
Mặt khác do ban tính rụt rè, ít nói chuyện, ít giao tiếp v ới ng ười khác, đ ặc
biệt là người Kinh nên vốn từ tiếp thu được rất hạn chế. Chính vi v ậy mà
quan đến vấn đề dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tôc thi ểu s ố
lớp 2. Đánh giá đúng thực trạng học tập của học sinh và công tác d ạy h ọc
của giáo viên.
3. Đối tượng nghiên cứu
Môt số biện pháp dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tôc
thiểu số lớp 2, nhằm nâng cao chất lượng dạy- học và giáo dục tại tr ường
Tiểu học Y Nuê – Phường Thống Nhất – Thị xã Buôn Hồ – Tỉnh Đăk Lăk.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu đề cập tới vấn đề tim hiểu môt số biện pháp dạy tăng
cường tiếng Việt cho học sinh dân tôc thiểu số lớp 2 tại trường Tiểu học Y
Nuê – Phường Thống Nhất – Thị xã Buôn Hồ – Tỉnh Đăk Lăk. T ừ năm h ọc :
2017- 2018 đến Cuối học ki I năm học 2018 – 2019.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên tôi dùng môt số phương pháp sau:
– Nghiên cứu tài liệu.Đọc các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục, tài li ệu
hướng dẫn về tăng cường tiếng Việt của dự án PEDC, Bổ tr ợ tiếng Việt
cho học sinh dân tôc thiểu số lớp 2 … có liên quan đến n ôi dung đ ề tài.
– Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sách tham kh ao.
– Nghiên cứu thực tế
– Dự giờ, thao giang trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về n ôi dung cần đ ạt
đối với học sinh lớp 2.
– Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trinh dạy học.
– Khao sát, thống kê chất lượng học tập của học sinh dân tôc thi ểu s ố.
– Phương pháp vấn đáp, gợi mở.
– Phương pháp trực quan.
– Phương pháp luyện tập, thao luận theo nhóm.
– Phương pháp trắc nghiệm.
6,7 SL
2%
13,3 SL
5%
33,3 SL
7%
46,7
Kha năng học tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế. Đa số các em có kĩ
năng đọc, viết, nghe – nói rất yếu. Nói và viết sai dấu thanh, cụ th ể các
tiếng có dấu thanh khi đọc và viết các em bỏ dấu đi, nh ững tiếng không có
dấu thanh khi đọc và viết lại thêm dấu vào ( ví dụ : hinh dáng các em đọc
là hinh dang hoặc nhà danh học kiệt xuất các em đọc là nha dành học kiết
xuật, nói câu cụt không có chủ ngữ…
2.1. Phân tích, đánh giá các vấn đề về th ực trạng mà đề tài đã đ ặt ra
+ Về kỹ năng nghe
Kha năng nghe của hầu hết học sinh là chậm bởi những lý do sau đây: Kh a
năng phan ứng của học sinh khi nghe tiếng Việt rất chậm. Đặc biệt h ọc
sinh ít có kha năng nghe rõ và ít phát hiện được âm sắc khi nghe ng ười
khác đọc và nói là do không được thường xuyên giao tiếp bằng ti ếng Vi ệt.
Kha năng nghe chậm còn do học sinh còn lạ và chưa hiểu môt số từ của
tiếng Việt. Bởi vậy trong các giờ học, tôi thường xuyên tổ ch ức cho các em
hoạt đông nhóm đôi, nhóm bốn để các em nghe bạn trao đổi đóng góp ý
kiến tạo thói quen nghe – nói cho các em. Mặt khác, ngay từ đầu năm h ọc,
tôi ra quy định khi đến trường các em không nên giao tiếp bằng ti ếng m ẹ
đẻ mà phai giao tiếp bằng tiếng Việt và giao nhiệm vụ cho các tổ theo dõi
phát hiện những bạn hay giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ cuối tuần x ếp loại
thi đua.
thiếu, thừa các dấu thanh. Đa số học sinh viết chữ chưa đều, ch ữ viết ch ưa
đúng đô cao, cách trinh bày chưa đẹp (môt phần do sử dụng bút bi để
viết). Kha năng sử dụng từ còn nhiều hạn chế, vốn từ còn nghèo, câu văn
lủng củng, nhiều học sinh nói như thế nào thi viết như vậy và chỉ vi ết bắt
chước người khác cho nên hiệu qua trong viết văn rất th ấp.
Muốn lồng ghép tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tôc thiểu số lớp 2
có hiệu qua giáo viên cần phai nghiên cứu kỹ mục tiêu bài. Xem nh ững n ôi
dung nào quan trọng trong giờ dạy để từ đó lồng ghép tăng c ường tiếng
Việt để củng cố cho học sinh cách đọc – nói – nghe – viết cho chuẩn. Nên
tập trung vào những tiếng, từ các em đọc, viết chưa chuẩn mà lồng ghép,
tránh lồng ghép môt cách tràn lan và không phù hợp. Giáo viên cũng c ần
chọn lọc cô đọng các tiếng, từ mà các em th ường xuyên đọc, viết hay sai
tiếng, dấu thanh, hạn chế tối đa các sai sót khi lồng ghép tăng c ường ti ếng
Việt. Khi làm tốt điều này giáo viên sẽ thu về đ ược m ôt kết qu a t ốt, giúp
các em tự tin, hòa đồng, cố gắng phấn đấu, nhất là tinh th ần giúp đ ỡ nhau
trong học tập.
Các tiết dạy được lồng ghép tăng cường tiếng Việt các em h ưởng ứng r ất
nhiệt tinh, hứng thú và tiếp thu bài tốt, không khí lớp học sôi n ổi, h ọc sinh
chủ
đông hợp tác. Kết qua học tập được nâng lên.
Giáo viên chủ đông tiếp xúc, gần gũi, thực sự yêu ngh ề, mến tr ẻ ph ai là
môt “Tấm gương sáng cho học sinh noi theo”, tôn trọng, đối xử công bằng
với học sinh, tích cực đi thực tế gia đinh học sinh đ ể n ắm bắt đ ược tâm t ư,
nguyện vọng, điều kiện kinh tế, hoàn canh gia đinh của từng h ọc sinh
nhiều hơn nữa thi
hiệu qua rèn cho các em học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tôc
thiểu số
ngày càng đạt kết qua cao hơn.
Các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính ta, T ập làm văn
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tích hợp lẫn nhau, góp ph ần hinh thành
nên các kỹ năng Nghe – Nói – Đọc -Viết của môn Tiếng Việt. Vi v ậy tôi đã
vận dụng môt số biện pháp sau nhằm nâng cao hiệu qua trong giang d ạy
cho các em:
Biện pháp 1: Thường xuyên tăng cường kha năng nghe và nói tiếng Việt
cho học sinh thông qua dạy Tập đọc.
Nghe và nói tiếng Việt có liên quan mật thiết với nhau. Có nghe được m ới
nói được, nghe đúng mới nói đúng. Do vậy, tôi phai nói rõ ràng, nói đúng,
đồng
thời phai nói chậm rãi để học sinh dễ tiếp thu và hướng dẫn cách phát âm,
cách
nói để học sinh nói theo. Kha năng nói tiếng Việt của học sinh được xác
định là
kha năng phát âm chuẩn, kha năng sử dụng tiếng từ đúng và phong phú
trong khi nói, khi tham gia giao tiếp với người khác. Kh a năng nói ti ếng
Việt là nền tang ban đầu quan trọng nhất để hinh thành các kỹ năng khác
của môn Tiếng
Việt. Đặc biệt đối với học sinh dân tôc Ê đê các em nói th ế nào viết th ế ấy
thi
việc tập cho các em nói đúng lại càng có ý nghĩa vô cùng quan tr ọng. Th ực
tế
trong giang dạy tôi thấy kha năng nói tiếng Việt của các em là r ất y ếu, nói
lẫ n
lôn giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt. Đó là do vốn từ về tiếng Vi ệt của các
em còn
quá ít, các em không diễn đạt được khi nói, khi giao tiếp. H ọc sinh phát âm
không chuẩn, phát âm không đúng; còn rụt rè trong giao tiếp… Để giúp cho
cho các em nhắc lại nghĩa của từ đó. Phần tim hiểu bài, tôi đ ưa ra câu h ỏi
và yêu cầu các em suy nghĩ tra lời đầy đủ câu. Nếu em nào tra lời ch ưa đủ
câu, tôi cho các em tra lời lại hay gọi em khác tra lời đầy đủ h ơn và yêu
cầu em đó nhắc lại câu tra lời của bạn. Cứ như thế môt th ời gian sau các
em dần sửa được cách nói câu cụt.
Trong giờ dạy, tôi chú ý tạo điều kiện cho tất ca các em đều được tham gia
tra lời, giao tiếp tuỳ thuôc vào kha năng của từng đối tượng và dành nhiều
thời gian tập và hướng dẫn thật kĩ nên hiệu qua nâng cao. Mặt khác, việc
tập nói tiếng Việt cho học sinh phai được thực hiện dưới nhiều hinh th ức
và phương pháp dạy học khác nhau như: dạy trong tiết dạy tăng c ường
tập nói tiếng Việt, dạy tích hợp vào các tiết học khác, thông qua các ti ết
hoạt đông ngoài giờ lên lớp, thông qua trò chơi, nói chuyện…..v ới các
phương pháp trực quan, phương pháp thực hành luyện tập theo m ẫu,
phương pháp giao tiếp, phương pháp đàm thoại. Việc ph ối h ợp h ệ th ống
các phương pháp dạy tập nói tiếng Việt giúp các em dễ hiểu dễ nh ớ về
nghĩa của từ thông qua các hinh anh trực quan, nói đúng cấu trúc câu theo
mẫu, hạn chế cách nói ngược theo tiếng địa phương. Tập cho học sinh kh a
năng diễn đạt theo tinh huống, tự tin trong học tập, giao tiếp v ới bạn bè
với thầy cô giáo bằng tiếng Việt. Tuy vậy, cần ph ai có s ự linh hoạt sáng
tạo, không rập khuôn máy móc, mà phai tuỳ theo t ừng m ức đ ô c ủa đ ối
tượng để lựa chọn nôi dung và phương pháp cho phù h ợp nhằm nâng cao
hiệu qua theo các việc sau đây:
Lựa chọn tiếng, từ để tập nói cho phù hợp.
Luyện nói theo câu hỏi, câu tra lời có chứa các tiếng, từ m ới cung cấp cho
học sinh.
Tạo tinh huống cho học sinh đối thoại, được giao tiếp trong đó chú ý t ạo
Thanh điệu: thanh hỏi, thanh ngã…
VD: cửa sổ – cưa sô; vôi vã – vôi va…
Tôi cho học sinh đọc nôi dung đoạn viết sau đó cho các em tim nh ững
tiếng, từ khó: chiều, lạc đường, nhòa, rưng rưng, rồi hướng dẫn phân tích
cấu tạo
,.., đọc, viết các từ đó trên bang lớp và giấy nháp ( viết cá nhân ). Sau đó
sửa sai
và viết mẫu cho các em quan sát. Trước khi cho các em viết vào v ở, tôi
hướng
dẫn cách trinh bày bài viết và yêu cầu các em nhắc lại tư th ế ngồi viết.
Trong quá trinh dạy học, tôi còn hướng dẫn thêm những quy tắc thông
thường về viết chính ta như cách sử dụng dấu hỏi, ngã trong t ừ láy. Ngoài
ra, tôi
chọn nôi dung phù hợp với thực tiễn các dạng bài tập nh ư phân bi ệt gi ữa
các vần
an / anh, âng / ân, …, các chữ có dấu hỏi / ngã, sắc / huy ền,… giúp cho các
em
hiểu nghĩa của từ môt cách chắc chắn từ đó viết đúng chính ta.
Môt điều không kém phần quan trọng giúp cho học sinh viết đúng chính t a
thi tôi phai phát âm chuẩn, đọc vừa đủ to, rõ. Đối với học sinh dân t ôc thi
phai chẻ nhỏ câu theo từ hoặc cụm từ để đọc tránh đọc c a câu dài, đ ồng
thời phai đọc nhắc lại nhiều lần. Tuy vậy, việc đọc chính ta phai đam b ao
đúng quy định về cách đọc.
Ví dụ: Đọc lần 1, lần 2 thi chẻ nhỏ theo t ừ, ngữ nh ưng lần 3(có th ể l ần 4)
thi phai đọc liền mạch ít nhất đến dấu phẩy. Nếu viết chính ta đối v ới bài
thơ thi
việc đọc theo từ, ngữ đều phai tuân thủ theo nhịp của bài thơ.
Tóm lại muốn học sinh viết đúng, viết đẹp tôi phai biết tác đông m ôt cách
Kha năng viết văn của các em hiện nay còn hạn chế b ởi vi vốn hi ểu bi ết
của các em còn hạn hẹp. Câu văn còn cụt, ch ưa có hinh anh. Cách di ễn đ ạt
chủ yếu mang tính liệt kê. Các tiết luyện nói hầu hết các em ch ưa phát huy
được kha năng của minh còn bắt chước vào việc làm mẫu của bạn và c ủa
cô. Chính vi vậy
mà không phát huy kha năng sáng tạo, tiếp thu bài th ụ đông ch ỉ nói l ại l ời
của
giáo viên. Vậy làm thế nào để hạn chế điều đó ? Tôi đã d ạy kỹ t ập cho h ọc
sinh
chủ đông tim câu từ để tra lời câu hỏi. Đối với những câu h ỏi dài, tôi ph ai
chẻ
nhỏ để cho học sinh dễ tra lời, đặc biệt là tạo cơ hôi để học sinh khó khăn
về học
tập tham gia phát biểu, hướng dẫn kĩ, cụ thể hơn, chi tiết h ơn, m ở r ông
các cách
diễn đạt khác nhau của cùng môt nôi dung để các học sinh khác nhau có
cách
diễn đạt khác nhau. Tôi không làm bài mẫu mà để học sinh tự vi ết, sau đó
chữa
lỗi kỹ cho học sinh từ bố cục đến cách dùng từ, đ ặt câu và n ôi dung còn
mắc phai của bài văn. Sau khi chữa xong tôi yêu cầu h ọc sinh viết l ại .
Với cách làm như trên, sau môt thời gian học sinh đã phát huy tính t ự l ập,
kha năng sử dụng từ ngữ, đặt câu, diễn đạt của học sinh sẽ có tiến bô
nhất định,
hạn chế dần sự phụ thuôc vào lời văn của người khác.
Biện pháp 3: Tăng cường Luyện từ và câu
Luyện từ và câu là môt phân môn của môn Tiếng Việt. Luyện từ và câu
giúp cho học sinh:
Bài tập 3: Tim các bô phận của câu:
+ Gạch 1 gạch dưới bô phận tra lời cho câu hỏi Ai ?
+ Gạch 2 gạch dưới bô phận tra lời cho câu hỏi làm gi?
Chi đến tim bông cúc màu xanh.
Cây xòa cành ôm cậu bé.
Em đọc thuôc đoạn thơ.
Em làm ba bài tập toán.
Hoặc do vốn tiếng Việt còn hạn chế nên học sinh thường mắc m ôt số lỗi
câu như: dùng từ không đúng, từ xưng hô không phù h ợp do không hi ểu
nghĩa của từ. Học sinh thường nói trống không, nói câu không có ch ủ ng ữ
câu không đầy đủ, câu không đúng trật tự ….
Để khắc phục những lỗi trên tôi cung cấp cho học sinh môt số đặc đi ểm
về cấu tạo từ, hệ thống từ xưng hô… Tôi chọn môt số mẫu câu chuẩn cho
học sinh luyện tập nói theo mẫu câu chuẩn. Có thể tổ ch ức cho học sinh
luyện nói theo trinh tự : Tôi nêu tinh huống câu cần nói:
Ví dụ: Khi gia đinh có khách đến thăm và cho em quà em cần ph ai làm gi?
Tôi giới thiệu câu – nói mẫu lần 1
Ví dụ: – Cháu chào bác ạ !
– Cháu xin. Cháu cam ơn Bác!
Tôi nói mẫu lần 2 – học sinh nói theo.
Học sinh luyện nói (cá nhân, trong nhóm)
Lưu ý: Tôi nói mẫu cần chuẩn, chậm, nói rõ từ, nh ấn vào t ừ ngữ đánh d ấu
dạng câu :
Ví dụ: ai, cái gi?, làm gi?, ở đâu?, nh ư th ế nào? (đối v ới câu h ỏi), ngoài ra
cần lưu ý tới ngữ điệu, nét mặt khi nói.
Để giúp học sinh nắm chắc từ loại, cấu trúc câu, ngoài việc phai ch ốt ch ặt,
khắc sâu kiến thức thông qua dạy bài mới, luyện tập, th ực hành thi tôi c ần
Tham gia lễ hôi. Các hoạt đông cai tạo môi trường sống như trồng hoa,
trồng và chăm sóc cây, dọn dẹp vệ sinh môi trường trong tr ường,… Các
buổi sinh hoạt tập thể theo chủ đề, chủ điểm.
Thông qua các hoạt đông trên mà tạo ra các tinh huống th ực cho học sinh
được giao tiếp bằng tiếng Việt với nhiều người, học sinh với học sinh, của
nhóm này với nhóm khác hoặc tập thể của lớp này với lớp khác d ưới s ự
hướng dẫn tích cực của giáo viên phụ trách và thầy Tổng phụ trách Đ ôi.
Từ các hoạt đông này làm cho học sinh tự tin trong giao tiếp.
*. Tạo môi trường tiếng Việt thông qua các phương tiện hổ trợ nh ư:
Tranh anh, sách báo ở thư viện. .
Thông qua đồ dùng dạy học, trang trí lớp học.
Thông qua ti vi, đài phát thanh.
Làm tốt những giai pháp hỗ trợ nêu ở trên vừa góp phần tăng cường kha
năng Tiếng Việt của học sinh đồng thời góp phần tích cực vào thực hiện
cuôc
vận đông “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích c ực” mà Bô
GD&ĐT
đã phát đông.
4. Mối quan hệ giữa giai pháp, biện pháp
Các giai pháp, biện pháp trên có quan hệ chặt chẽ với nhau chúng đ ược
thực hiện đồng bô, chúng là cầu nối tạo nên thành công trong gi ang d ạy
tiếng Việt cho học sinh dân tôc thiểu số lớp 2 trường tiểu học Y Nuê. Vi
các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính ta, T ập làm văn
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tích hợp lẫn nhau, góp ph ần hinh thành
nên các kỹ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết của môn Tiếng Việt.
5. Kết qua khao nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên c ứu
* Kết qua khao nghiệm
Trong năm học 2017 – 2018 và học ki I năm học 2018- 2019 tôi đã áp d ụng