biện pháp chỉ đạo dạy tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc. - Pdf 19


1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO DẠY TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH DÂN TỘC

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Năm học 2012 - 2013 có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Là năm học tiếp tục
thực hiện Nghị Quyết XI của Đảng; Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ Lai Châu lần thứ
XII và Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu về tiếp tục phát
triển và nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn mới.
Với nhiệm vụ chung của năm học: Tiếp tục thực hiện cuộc vận động
"Mỗi thầy giáo cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và
phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Đẩy
mạnh việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" theo Chỉ
thị số 03 của Bộ Chính trị.
Tập trung chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ
năng. Điều chỉnh nội dung dạy học và đánh giá, xếp loại phù hợp đặc điểm
tâm sinh lí học sinh tiểu học. Tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng
sống. Đổi mới phương pháp dạy học. Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục
cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân
tộc thiểu số. Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lí chỉ đạo, bồi dưỡng giáo viên,
đề cao trách nhiệm, khuyến khích sự sáng tạo cũng như đẩy mạnh việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí.
Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của năm học, cũng như góp
phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục tại địa bàn xã mà 100% học sinh
là người dân tộc thiểu số. Với trình độ dân trí tương đối thấp, khả năng giao tiếp
bằng tiếng phổ thông còn nhiều hạn chế nhất là với các em học sinh trong độ
tuổi tiểu học. Học sinh muốn tiếp thu bài giảng một cách chủ động và có khả

dụng. Khi bắt đầu vào học lớp 1 các em mới bắt đầu học Tiếng Việt và giao tiếp
chủ yếu bằng Tiếng Việt do đó Việc dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh
dân tộc ở các trường vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn mà 100% số học
sinh trong nhà trường là người dân tộc thiểu số là việc làm cần thiết.
Vậy làm thế nào để dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc, làm
giàu thêm vốn Tiếng Việt cho các em, giúp các em lĩnh hội và chiếm lĩnh tri
thức một cách chủ động và đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học theo
yêu cầu. Là một cán bộ quản lý công tác nhiều năm trên địa bàn xã khó khăn.
100% học sinh toàn trường là người dân tộc Mông, trăn trở với suy nghĩ làm thế
nào để có thể làm phong phú hơn vốn từ Tiếng Việt cho các em cũng như giúp
các em mạnh dạn, tự tin hơn trong quá trình giao tiếp bằng tiếng phổ thông tôi
đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Biện pháp chỉ đạo dạy tăng cường Tiếng Việt
cho học sinh dân tộc.
II. Phạm vi đối tượng nghiên cứu:
Học sinh dân tộc trường tiểu học Nậm Loỏng.
Giáo viên trường tiểu học Nậm Loỏng.
Biện pháp chỉ đạo công tác dạy học tăng cường Tiếng Việt cho học sinh
dân tộc, nhằm nâng cao chất lượng dạy - học và giáo dục tại trường Tiểu học
Nậm Loỏng.
III. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng khả năng sử dụng Tiếng Việt, những hạn chế,
nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó.
Nghiên cứu, đưa ra một số phương pháp, hình thức tổ chức dạy tăng cường
Tiếng việt cho học sinh dân tộc phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường
nhằm nâng cao chất lượng dạy - học.

3

Hỗ trợ cho giáo viên trong công tác dạy học tăng cường Tiếng Việt cho
học sinh dân tộc.

4

PHẦN NỘI DUNG
I . Cơ sở lý luận.
1. Một số khái niệm:
1.1. Biện pháp chỉ đạo.
Biện pháp: Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa
năm 2012: " Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể".
Chỉ đạo: Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa
năm 2012: " Chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể theo một đường lối chủ trương nhất
định".
Để thực hiện tốt biện pháp chỉ đạo người quản lý cần phải thực hiện tốt
biện pháp tâm lý cũng như biện pháp hành chính - tổ chức, biện pháp kinh tế để
đạt được hiệu quả công việc ở mức độ cao.
Biện pháp tâm lý: Là biện pháp tác động vào nhận thức con người làm cho
con người nhận thức đúng nhiệm vụ, tự nguyện thực hiện yêu cầu của nhà quản
lý từ đó có thái độ hành vi phù hợp.
Biện pháp hành chính - tổ chức: Là biện pháp tác động đến đối tượng
quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính trong hệ thống quản
lý do nhà nước đặt ra. Đó là mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa bộ phận
và tập thể. Đặc trương của biện pháp này là sự cưỡng bức đơn phương của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý.
Biện pháp kinh tế: Là biện pháp tác động đến đối tượng quản lý thông qua
các lợi ích kinh tế. Thực hiện biện pháp này đòi hỏi người quản lý phải có kiến
thức và kinh nghiệm sâu rộng để có thể định hướng cho đối tượng quản lý bằng
các nhiệm vụ, kế hoạch với những chỉ tiêu, số lượng chất lượng rõ ràng, chế độ
thưởng phạt nghiêm minh đảm bảo kỷ cương theo pháp luật trong mọi trường

học tập tri thức khoa học Đối với người Việt Nam, Tiếng Việt là ngôn ngữ
chính. Vì vậy việc giúp học sinh vùng dân tộc thiểu số sử dụng thành thạo
Tiếng Việt là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên.
Trên cơ sở biết, hiểu Tiếng Việt sẽ tạo điều kiện cho các em lĩnh hội các tri
thức khoa học một cách thường xuyên. Trong học tập, học sinh được củng cố và
khắc sâu thêm những tri thức và kỹ năng về Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt ở tiểu
học được dạy theo quan điểm giao tiếp nhằm thực hiện mục tiêu của chương
trình “hình thành và phát triển” ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt đó
là: Nghe, nói, đọc, viết.
Học sinh học Tiếng Việt bằng tư duy trực tiếp, thông qua sự tiếp cận ngôn
ngữ tự nhiên từ việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày một cách tự phát đến việc
nắm ngôn ngữ một cách hệ thống qua các bài học. Từ đó học sinh có tâm lý tự
tin trong học tập.
Bằng hiểu biết qua nghe, nói khi học đọc và viết học sinh có thể dễ dàng
nhận ra mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa, ngữ
pháp qua đó các em có thể học đọc, học viết dễ dàng.
Đối với học sinh dân tộc khi đến trường các em học Tiếng Việt với tư cách
là ngôn ngữ thứ hai. Học sinh dân tộc sử dụng ngôn ngữ học tập một cách khó
khăn vì học sinh chưa biết hoặc biết rất ít Tiếng Việt qua nghe, nói ở lớp mẫu
giáo, kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Việt hầu như không có. Mặt khác học sinh
dân tộc hầu như không thể có nhiều cơ hội giao tiếp bằng Tiếng Việt vì ở trường
học, học sinh dân tộc chỉ tiếp xúc với thầy cô giáo, do lớp học có số lượng học
sinh tương đối đông mà chỉ có duy nhất một giáo viên nên cơ hội giao lưu bằng
Tiếng Việt giữa giáo viên và học sinh rất hạn chế. Khi về gia đình các em không
có cơ hội giao tiếp bằng Tiếng Việt do gia đình luôn giao tiếp bằng tiếng của
dân tộc mình vì thế khả năng giao tiếp, lĩnh hội kiến thức thông qua ngôn ngữ
Tiếng Việt của học sinh còn rất nhiều hạn chế.
Vì vậy Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc là hoạt động nhằm
giúp học sinh chưa biết hoặc biết ít Tiếng Việt có thể học tập các môn học trong


trong đó có 06 lớp ở điểm trung tâm, 02 lớp ở điểm Gia Khâu II, 05 lớp ở điểm
Gia khâu I. Tổng số học sinh toàn trường 188 em trong đó 100% là người dân
tộc thiểu số.
Một bộ phận nhỏ cha mẹ học sinh đã có sự quan tâm tới việc học của con
em mình, tạo điều kiện cho con em mình đến trường học tập.
Qua quá trình công tác nhiều năm trên địa bàn xã mà 100% học sinh là
người dân tộc thiểu số tôi nhận thấy:
1. Về phía học sinh:
Học sinh vào lớp 1 đã qua lớp mẫu giáo vì vậy các em không còn bỡ ngỡ
khi đến trường đến lớp cũng như tham gia vào các hoạt động học tập và vui
chơi. Tuy nhiên, vốn Tiếng Việt của các em còn nghèo nên giao tiếp của các em
còn nhiều hạn chế. Mặt khác qua 3 tháng nghỉ hè các em không có cơ hội giao
tiếp bằng tiếng phổ thông. Những kiến thức về Tiếng Việt các em học được qua

7

lớp mẫu giáo hầu như đã quên hết. Do đó khi bước vào lớp 1 kiến thức về Tiếng
Việt của các em như một trang giấy trắng. Giáo viên rất vất vả trong quá trình
truyền thụ kiến thức cho các em vì người giáo viên vừa phải dạy tiếng kết hợp
dạy chữ.
Học sinh các khối lớp 2-5 tuy đã có khả năng giao tiếp cũng như học tập
bằng ngôn ngữ Tiếng Việt song vốn từ của các em cũng chưa được phong phú,
khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếng đôi khi chưa chính xác như cách
dùng từ, nói thành câu trong giao tiếp thông thường hay kỹ năng dùng từ, đặt
câu trong quá trình làm các bài Tập làm văn. Do vốn từ còn hạn chế nên các em
thường rất khó khăn trong việc diễn đạt một vấn đề một cách rõ ràng để người
đọc người nghe dễ hiểu.
Học sinh dân tộc phát âm thường không chuẩn nhất là tiếng có âm cuối là
các âm khép n; m; p và các tiếng có thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngã. Do cách
phát âm chưa chuẩn nên trong các bài viết Chính tả hay Tập làm văn thường

Là cán bộ quản lý phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường, cần làm
tốt công tác tham mưu với cấp ủy, Ban giám hiệu nhà trường. Để nhà trường
thực hiện công tác tham mưu với chính quyền địa phương trong công tác tuyên
truyền để toàn thể nhân dân trong xã cùng chung tay góp sức ủng hộ công tác
giáo dục. Thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, công
tác phổ cập giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi.
Thực hiện tốt công tác dân vận, động viên khuyến khích nhân dân trong xã
cũng như trong gia đình tăng cường kỹ năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông cho
các em trong độ tuổi đến trường.
Làm tốt công tác tuyên truyền tới toàn thể cán bộ giáo viên, phụ huynh và
học sinh trong công tác giáo dục trẻ. Tạo môi trường Tiếng Việt ở mọi nơi, mọi
lúc để trẻ có nhiều cơ hội tiếp xúc, làm quen và giao tiếp bằng Tiếng Việt.
Chủ động trong việc nghiên cứu, triển khai kịp thời, nghiêm túc tinh thần
chỉ đạo của các cấp: Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học; Giảng dạy theo đối
tượng vùng miền; Giảng dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc tới
toàn thể CBGV trong đơn vị.
1.2. Công tác chỉ đạo.
Thực hiện xây dựng kế hoạch, triển khai, tổ chức thực hiện việc dạy tăng
cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc như:
* Đối với tổ khối:
Chỉ đạo cho các tổ khối thảo luận đưa ra các biện pháp giải quyết đồng bộ
các vấn đề, các tình huống cụ thể của từng khối lớp trong công tác giảng dạy.
Phân công Tổ trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm việc tăng cường Tiếng
Việt cho học sinh tại khối lớp mình
Tổ chức dạy học 2 buổi/ngày với 13/13 lớp để học sinh có nhiều cơ hội
cũng như thời gian giao tiếp bằng tiếng phổ thông với cô giáo và bạn bè.
Tăng cường công tác dự giờ, rút kinh nghiệm các tiết dạy, đổi mới công tác
đánh giá tiết dạy. Việc thanh kiểm tra công tác dạy - học chú trọng vào việc xem
xét khả năng tiếp thu bài của từng đối tượng học sinh để có những điều chỉnh về
phương pháp và hình thức dạy học phù hợp.

biện pháp chỉ đạo kịp thời.
Tăng cường công tác tự học tiếng dân tộc để phục vụ công tác dân vận,
công tác giảng dạy trên địa bàn mình phụ trách.
2. Chỉ đạo đội ngũ giáo viên trong trường thực hiện một số phương
pháp dạy học tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc trong quá trình
giảng dạy.
Do tất cả các trường tiểu học trên cả nước đều học chung một chương
trình, một bộ sách giáo khoa, đều được đánh giá kết quả học tập của học sinh
trên một chuẩn thống nhất về kiến thức và kỹ năng trong khi điều kiện dạy học
các vùng miền rất khác nhau. Học sinh dân tộc học ở các vùng miền theo
chương trình tiểu học cũng được dạy theo những phương pháp đặc trưng của
môn học, giáo viên dạy Tiếng Việt có trách nhiệm dạy theo các phương pháp bộ
môn đã được chương trình quy định.
Để giúp học sinh dân tộc tiếp thu một cách thuận lợi, ngoài việc vận dụng
các phương pháp dạy Tiếng Việt như chương trình đã quy định. Giáo viên dạy ở
vùng mà tỷ lệ học sinh dân tộc chiếm đại đa số cần sử dụng một cách linh hoạt,
sáng tạo một số phương pháp sau:
2.1 Phương pháp trực tiếp: (Biện pháp Dạy tăng cường Tiếng Việt trong
các phân môn của môn Tiếng Việt)

10

GV dạy HSDT bằng chính Tiếng Việt nghĩa là GV dùng Tiếng Việt để dạy
Tiếng Việt. Học sinh được tiếp nhận các từ, ngữ, hay câu trực tiếp bằng Tiếng
Việt. Việc giải thích nghĩa của từ được thực hiện bằng vật thật hoặc tranh ảnh
minh họa, sau khi nắm nghĩa của từ các em được thực hành luyện tập theo mẫu
câu trong các tình huống giao tiếp.
Trong quá trình giảng dạy giáo viên lưu ý cần tạo điều kiện cho các em
cùng một lúc vừa nhìn thấy vật thật hoặc mô hình vừa nghe phát âm tên gọi của
chúng.

chuẩn vẫn còn mang âm sắc của địa phương, phát âm còn lẫn ở một số phụ âm :
l/n; ch/tr; s/x, chưa phát được âm rung r - s.

11

Để có thể sửa được các lỗi phát âm cho học sinh người giáo viên cần:
Mỗi giáo viên phải tự có ý thức rèn luyện cho mình cách phát âm chuẩn vì
có phát âm chuẩn thì giáo viên mới có thể nhận ra được lỗi phát âm sai của học
sinh.
Giáo viên chỉ ra chỗ sai trong phát âm của học sinh có thể so sánh với phát
âm đúng.
Giáo viên phát âm mẫu thật chuẩn xác, chậm, rõ (có thể phát âm tới 2-3
lần) để học sinh theo dõi. GV phát âm chuẩn không để tiếng địa phương ảnh
hưởng tới phát âm mẫu của mình.
Hướng dẫn học sinh phát âm. Cho học sinh phát âm nhiều lần.
Để thay đổi hình thức học tập giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi
trò chơi học tập để rèn cách phát âm cho học sinh :
VD: Yêu cầu học sinh tìm tiếng chứa vần mà các em thường phát âm
không chuẩn có liên quan trong bài học để học sinh thi giữa các bạn trong nhóm,
qua hoạt động này học sinh vừa được luyện phát âm vừa được mở rộng thêm
vốn từ qua các từ ngữ mà các bạn tìm và giới thiệu trong nhóm.
Việc sửa lỗi phát âm không chỉ thực hiện trong các giờ Tiếng Việt mà còn
ở tất cả các môn học khác. Đối với những học sinh thường xuyên phát âm sai
giáo viên cần quan tâm và sửa lỗi kịp thời. Việc luyện tập thường xuyên sẽ tạo
kỹ năng bền vững cho học sinh. Mặt khác trong lớp học giáo viên nên khuyến
khích học sinh tự sửa lỗi cho nhau bằng hoạt động thi đua như đôi bạn cùng
tiến
* Để tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc mỗi giáo viên cần quan
tâm đến kỹ năng dạy phát triển lời nói trong các bài học âm vần cũng như kỹ
năng nghe, nói trong Tiếng Việt.

không hiểu nghĩa của từ. Học sinh thường nói trống không, nói câu không có
chủ ngữ câu không đầy đủ, câu không đúng trật tự
Để khắc phục những lỗi trên giáo viên cần cung cấp cho học sinh một số
đặc điểm về cấu tạo từ, hệ thống đại từ nhân xưng, từ xưng hô.
Giáo viên chọn một số mẫu câu chuẩn, tường minh cho học sinh luyện tập
nói theo mẫu câu chuẩn. Có thể tổ chức cho học sinh luyện nói theo trình tự :
Giáo viên nêu tình huống câu cần nói:
VD : Khi gia đình có khách đến thăm và cho em quà em cần phải làm gì?
Giáo viên giới thiệu câu - nói mẫu lần 1
VD: - Cháu chào bác ạ !
- Cháu xin ; Cháu cảm ơn Bác!
Giáo viên nói mẫu lần 2- học sinh nói theo
Học sinh luyện nói (cá nhân, trong nhóm)
Lưu ý: Giáo viên nói mẫu cần chuẩn, chậm, nói rõ từ, nhấn vào từ ngữ
đánh dấu dạng câu :
VD: ai, cái gì, làm gì, ở đâu, như thế nào (đối với câu hỏi); hãy, chớ, đừng,
(đối với câu cầu khiến), ngoài ra cần lưu ý tới ngữ điệu, nét mặt khi nói.
Khi học sinh đã nắm được cách sử dụng đúng từ, nói đúng câu các em sẽ
dễ dàng hơn trong việc nói và viết đúng câu trong diễn đạt bằng lời nói cũng như
vận dụng trong quá trình thực hành làm các bài tập làm văn.
VD: Nói lời cảm ơn, xin lỗi. Nên đưa các em vào trong các tình huống
khác nhau để học sinh có cơ hội sử dụng lời cảm ơn, xin lỗi. Trong các trò chơi
đóng kịch, tiểu phẩm, được sắm vai nhân vật các em được lặp đi lặp lại câu đối
thoại cũng như sử dụng các nghi thức lời nói nhờ vậy mà nắm được, sử dụng
được nghi thức lời nói.
Trong quá trình dạy các em về nghi thức lời nói giáo viên cần chú ý giới
thiệu các mẫu câu kèm theo ngữ điệu phù hợp để sử dụng trong giao tiếp với các

13


Trong viết chính tả giáo viên cần dự đoán các lỗi chính tả học sinh hay viết
sai của lớp để hướng dẫn chu đáo theo cách :
Cho học sinh phát âm, có thể giải nghĩa qua với những từ khó, giáo viên
phân tích cấu tạo tiếng, và yêu cầu học sinh viết vào bảng con các từ dễ mắc
trước khi viết bài chính tả vào vở.
Trong quá trình đọc bài chính tả cho học sinh viết với những tiếng khó mà
giáo viên không đủ thời gian để hướng dẫn luyện viết ở phần luyện viết, giáo
viên có thể đánh vần xuôi cho học sinh viết.

14

Trong quá trình chấm chữa bài cần đi liền với luyện tập chữa lỗi cho học
sinh. Giáo viên có thể soạn thêm một câu hoặc đoạn văn ngắn có chứa những lỗi
mà học sinh thường xuyên mắc phải để các em luyện tập thêm:
VD: - Buổi tối, bố em thường dùng đèn pin để bắt gà vào chuồng.
- Năm mới, em mong ước tất cả mọi người đều hạnh phúc, thế giới
không có chiến tranh.
Khi luyện tập chính tả âm vần, dấu thanh cần chọn những bài tập phù hợp
với học sinh dân tộc, giáo viên có thể không sử dụng bài tập trong sách giáo
khoa mà tự lựa chọn kiến thức sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp
mình.
2.2 Phương pháp thực hành:
Giáo viên tổ chức các hoạt động luyện tập thực hành thông qua các bài tập
thực hành để đảm bảo cho học sinh rèn được kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thường
xuyên. Khi thực hiện phương pháp này việc giảng giải, truyền thụ kiến thức của
giáo viên không chiếm nhiều thời gian trong giờ học. Phần lớn thời gian trong
giờ học được dành cho Học sinh thực hành. Việc thực hành ngôn ngữ được tiến
hành dưới các dạng khác nhau, dưới dạng chủ động như (nói, viết) dưới dạng
thụ động (nghe, đọc) dưới các hình thức lời nói khác nhau như (độc thoại, đối
thoại).

- Jur zưs - Giữ trật tự
- Trang tês - Giơ tay
-Thaor chuôv - xin phép
- Môngl kreir tưs - Đi đâu
- Cao ua nhangs ua? - Em bị làm sao?
Có thể sử dụng tiếng dân tộc trong công tác điều khiển lóp:
Trong quá trình tổ chức dạy học trên lớp, giáo viên thường hướng dẫn học
sinh ổn định lớp học, ổn định chỗ ngồi khi phải hoạt động nhóm, giao nhiệm vụ
học tập cho học sinh và yêu cầu để học sinh thực hiện các hoạt động học tập cần
thiết. Trong trường học ngôn ngữ dạy học là Tiếng Việt nên điều khiển lớp cũng
sử dụng Tiếng Việt là chủ yếu. Trong quá trình điều khiển lớp người giáo viên
cần chú ý:
Cần lựa chọn câu lệnh có cách diễn đạt dễ hiểu, biểu đạt được tình cảm của
giáo viên với học sinh. Với đối tượng là học sinh dân tộc, giáo viên cần thể hiện
được tình cảm thân thiện, gần gũi khuyên bảo và tôn trọng các em nhờ vậy mà
không khí lớp học thoải mái, cởi mở, tiết học diễn ra một cách tự nhiên nhẹ
nhàng.
Đối với học sinh lớp 1 đầu cấp giáo viên cần lựa chọn câu lệnh ngắn, gắn
với hoạt động cụ thể, dễ thực hiện.
Đối với những câu khó, nội dung gắn với nhiều hoạt động thì giáo viên có
thể sử dụng có mức độ tiếng dân tộc của học sinh để giúp các em hiểu chính xác
nội dung câu lệnh và thực hiện các hoạt động học tập đúng theo yêu cầu. Tuy
nhiên không nên nạm dụng tiếng dân tộc của học sinh để điều khiển lớp làm ảnh
hưởng đến tâm thế học Tiếng Việt của học sinh.
2.4 Phương pháp tạo môi trường học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc:
(Dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp)
Phương pháp tạo môi trường học TV cho học sinh dân tộc là những tác
động của con người nhằm tạo ra môi trường thuận lợi, tích cực giúp Học sinh
dân tộc học Tiếng Việt.


Hình ảnh hoạt động tập thể sân trường của học sinh trường tiểu học Nậm Loỏng

18

Tổ chức các hội thi (Thi giao lưu Tiếng Việt, Thi văn nghệ; Thi an toàn
giao thông)

Hội thi: Văn nghệ và Tiếng Việt của chúng em.
Tổ chức cho học sinh tìm hiểu và giới thiệu về lễ hội đặc sắc của dân tộc
mình như Lễ hội Gầu tào cha. Một số trò chơi dân gian của dân tộc qua việc tìm
hiểu và giới thiệu rèn cho các em về kỹ năng phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt. Lễ hội : Gầu tào cha của dân tộc Mông : "Gầu Tào" - Là lễ hội tiêu biểu
nhất của người Mông, lễ hội chơi núi mùa xuân với mục đích là cúng tạ trời đất
đã ban cho thôn bản, dòng họ, gia đình, sức khoẻ, mùa màng tốt tươi

19
Múa khèn điệu múa của dân tộc Mông Trò chơi: Đánh tu lu( Chơi cù) 20
nhóm, gợi ý học sinh trong nhóm nêu vấn đề, thắc mắc và thảo luận, giải quyết.
Luyện nói trong các trò chơi học tập: Khi tổ chức các trò chơi học tập giáo
viên cần thiết kế trò chơi phù hợp khả năng, trình độ Tiếng Việt và đối tượng
học sinh của lớp mình, động viên, khuyến khích mọi học sinh cùng tham gia.
VD : Dạy về Các thế hệ trong một gia đình - Môn TNXH lớp 3
Cho học sinh giới thiệu về các thành viên trong gia đình mình theo mẫu
câu mà giáo viên đã yêu cầu như:
Gia đình em có 5 người .
Ông nội em tên là: Tẩn A Sinh năm nay ông em 60 tuổi.
Bố em tên là Tẩn A Dơ năm nay bố em 35 tuổi bố em làm nghề nông
Trong các môn học khác nhau cần có các hoạt động phù hợp để giúp các
em hiểu bài
* Dạy tăng cường Tiếng Việt trong môn Toán:
Bước 1: Rèn luyện khả năng nghe nhìn, nhận biết
Để giúp học sinh nghe, hiểu, giáo viên cần dùng mẫu câu đơn giản, dễ hiểu
thông qua việc hướng dẫn bằng Tiếng Việt có thể kết hợp với tiếng mẹ đẻ (đối
với học sinh lớp 1 và với những giáo viên biết về tiếng dân tộc)

22

Để giúp học sinh quan sát có hiệu quả, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
cách quan sát. Những hình ảnh nào chưa rõ giáo viên có thể giải thích kết hợp
mô tả có thể dùng động tác, hình ảnh và cảnh tương tự ở địa phương. Trong quá
trình quan sát giáo viên hướng dẫn học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề.
Bước 2. Rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết ngôn ngữ Toán bằng TV.
GV tạo điều kiện cho học sinh nói thành tiếng những điều nghe thấy, nhìn
thấy. Gợi ý cho học sinh nêu thắc mắc hoặc phát hiện vấn đề thành lời bằng TV,
giúp học sinh nói được tên bài học, dùng lời trao đổi với bạn bè và GV.
Trong tiết Toán cần tổ chức cho học sinh thực hành như: Đọc thành tiếng
các số, quan hệ số, thao tác đếm, phép tính, biểu thức, bài toán có lời văn. Đọc

23

* Nội dung tăng cường Tiếng Việt trong tiết toán về cách cộng, trừ, hoặc
nhân, chia số tự nhiên hoặc số thập phân:
Khi giáo viên hướng dẫn học sinh cách đặt tính và thứ tự thực hiện, cách
thực hiện ở một ví dụ cụ thể. Giáo viên có thể cho nhiều học sinh nêu lại cách
thực hiện của phép tính. Khi một học sinh nhắc lại cách thực hiện học sinh
trong lớp được nhìn, nghe, đọc nhẩm theo bạn qua đó không chỉ khắc sâu kiến
thức bài học cho học sinh mà còn rèn cho học sinh kỹ năng đọc thầm, nghe
Tiếng Việt qua đó các em sẽ nắm chắc được cách thực hiện và vận dụng vào để
giải các bài tập thực hành.
* Dạy tăng cường Tiếng Việt trong môn Đạo đức.
Rèn luyện kỹ năng nói Tiếng Việt:
Thông qua các nội dung dạy học như: Tự giới thiệu về bản thân và gia
đình, trường, lớp; Nói lời chào hỏi, tạm biệt; nói lời cảm ơn xin lỗi, nói lời yêu
cầu, đề nghị, bày tỏ ý kiến của bản thân.
Thông qua phương pháp dạy học và hình thức dạy học như: Thảo luận
nhóm nhỏ (nhóm bàn, nhóm đôi) lớp, báo cáo kết quả thảo luận, trình bày giới
thiệu sản phẩm sưu tầm của cá nhân, nhóm. Nhận xét bổ sung ý kiến cho câu trả
lời của bạn. Đóng vai, kể chuyện tấm gương đạo đức.
Rèn kỹ năng đọc TV: Thông qua việc đọc các ngữ liệu trong sách: Truyện
đọc, các bài tập về chuẩn mực hành vi đạo đức, các tài liệu liên quan đến bài
học.
Rèn kỹ năng nghe Tiếng Việt: Thông qua các hoạt động trao đổi, giao tiếp
trong môi trường học tập và sinh hoạt hàng ngày có các chuẩn mực và hành vi
đạo đức.
Rèn kỹ năng viết Tiếng Việt: Thông qua các hoạt động ghi chép nội dung
học tập, ý kiến cá nhân hoặc ý kiến thảo luận trong nhóm.
2.6. Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh thông qua hoạt động của
phòng đọc và thư viện góc lớp.

Hoạt động của thư viện góc lớp tại điểm trường Gia Khâu I
Tổ chức trao đổi sách báo với các lớp khác để tất cả các lớp có cơ hội đọc
nhiều đầu sách.
Với cách làm như vậy, các hoạt động của thư viện sẽ diễn ra một cách nhẹ
nhàng, không bị chồng chéo và thực sự hiệu quả. Qua hoạt động thư viện các em
được cung cấp thêm kiến thức về tự nhiên và xã hội ngoài ra các em có nhiều
cơ hội để trao đổi, tranh luận cũng như giới thiệu cho nhau về những đầu sách
hay để cùng nhau đọc và tìm hiểu về thế giới xung quanh qua đó góp phần giáo
dục kỹ năng sống cho các em.
2.7. Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh thông qua hoạt động của
chương trình phát thanh măng non.
Chỉ đạo tổ chức đội TNTP Hồ Chí Minh trong nhà trường tổ chức chương
trình phát thanh măng non hàng tuần vào 1 ngày nhất định, giờ nhất định trong
ngày.
Nội dung chương trình phát thanh măng non có thể là đọc truyện, kể
chuyện, đọc thơ, hát, nêu gương tốt của học sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status