GIẢI PHÁP
TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC VÂN KIỀU LỚP 5C+1C
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TIỂU HỌC TX
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn Giải pháp:
Như chúng ta biết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất
của loài người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ là công cụ của
sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc và là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc.
Các dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt,
đồng thời họ cũng sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người Việt. Có thể nói
rằng “cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ” - tiếng
mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh.
Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, có nhiệm vụ
hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh về các kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết; là
phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học, nhất là học sinh lớp
Một và đặc biệt với học sinh dân tộc thiểu số.
Từ vị trí đó của môn Tiếng Việt trong dạy học nên việc tăng cường tiếng Việt cho
học sinh dân tộc Vân Kiều là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, do đó tôi chọn Giải pháp “Một
số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc Vân Kiều ở trường Phổ thông dân
tộc bán trú tiểu học TX - điểm trường KN” để nghiên cứu và thực hiện.
2. Điểm mới của Giải pháp:
Điểm mới của Giải pháp là: Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc Vân Kiều ở
trường PTDTBT tiểu học TX với nhiều hoạt động giáo dục, nhiều đối tượng, lực lượng tham
gia, chứ không chỉ riêng giáo viên giảng dạy và được thực hiện xuyên suốt cấp học để phù
hợp với việc tổ chức dạy học lớp ghép hai trình độ.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG VỀ TIẾNG VIỆT VÀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆT ĐỐI VỚI
HỌC SINH DÂN TỘC VÂN KIỀU - NGUYÊN NHÂN.
1. Đối với học sinh:
Khi mới vào trường Tiểu học vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế, đặc biệt là học
sinh lớp Một, các kỹ năng nghe, nói tiếng Việt; khả năng đọc, viết, chú ý và tiếp thu bài
chưa đẹp. Khả năng sử dụng từ còn nhiều hạn chế, vốn từ còn nghèo, câu văn lủng củng tối
nghĩa, nhiều học sinh nói như thế nào thì viết thế đó.....
- Ngại tiếp xúc, ngại giao tiếp, ít bộc lộ tính cách, sự hiểu biết của mình trước tập thể
và trước người chưa quen biết; do bản năng sống nên các em thích thì đọc, thì viết, thì nói,
không thích thì im lặng.
- Các điều kiện phục vụ học tập còn nhiều thiếu thốn. Do thiếu sự chuẩn bị của cha
mẹ học sinh, thậm chí có phụ huynh còn phó mặc cho giáo viên.
2. Đối với giáo viên:
- Hiểu biết chưa nhiều về đặc điểm tâm sinh lý học sinh dân tộc, phong tục tập quán,
nếp sống văn hóa của đồng bào Vân Kiều.
- Là lớp ghép hai nhóm trình độ đầu cấp và cuối cấp ( Lớp 1 và lớp 5) nên cũng khó
cho bản thân tôi trong việc truyền tải nội dung cho cả hai nhóm trình độ trong một tiết học.
- Phương pháp dạy học với đối tượng học sinh Vân Kiều đang còn hạn chế, đặc biệt
là những năm học đầu dạy học đối tượng này.
Đây là vấn đề gây khó khăn trong giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, với phụ
huynh; ảnh hưởng không nhỏ trong việc tiếp cận, dạy học và giáo dục của giáo viên.
Từ tìm hiểu, phân tích thực trạng trên, tôi đề xuất một số biện pháp đã thực hiện
thành công về tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc Vân Kiều nhằm góp phần nâng cao
chất lượng Tiếng Việt cho học sinh ở trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học TX và lớp tôi
dạy.
II. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
1. Thực hiện dạy học, rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Vân Kiều
trong tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục của lớp, trường. Để làm được điều
này giáo viên nắm được đặc điểm của học sinh dân tộc Vân Kiều về khả năng tiếp
thu, khả năng học Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết, ngôn ngữ); dạy nghe, nói, đọc, viết
trong các môn học khác nhưng phải đảm bảo và hoàn thành mục tiêu của môn học
đó, bài học đó, ở đây chỉ tích hợp để rèn luyện thêm cho học sinh.
1.1. Xây dựng và sắp xếp chỗ ngồi phù hợp cho hai nhóm trình độ để giáo viên có
thể dạy nhóm này nhưng cũng có thể quan sát được những hoạt động của nhóm kia trong
một tiết học.
Thứ
Buổi
Sáng
2
Chiều
Sáng
3
Chiều
4
Sáng
Sáng
5
Chiều
Sáng
6
Chiều
Tiết
1
2
3
4
5
C. cờ
TĐ
Ôn TV
Đạo đức
Chính tả
ÂN
Toán
Tự luyện
LT&C
Toán
Khoa
Ôn TV
Ôn Toán
KC
Khoa học
Kĩ thuật
Mĩ thuật
Thể dục
Thể dục
ÔTV
Toán
Ôn Toán
TLV
Toán
Tập đọc
Địa lý
ÔTV
LT&C
Lịch sử
Toán
ÔTV
TV
TV
TV
TV
TNXH
ĐĐ
Toán
Ô Toán
SH lớp
Tên bài dạy
1.3. Tổ chức dạy học Tiếng Việt lớp Một cho học sinh dân tộc Vân Kiều theo hướng
điều chỉnh kế hoạch dạy học 500 tiết/năm (phương án tăng thời lượng Tiếng Việt): Thực
hiện trước khai giảng và trong suốt năm học theo chỉ đạo của trường và các cấp. Đầu cấp
học, năm học ở những tuần đầu sử dụng hình thức dạy học song ngữ: ngoài giáo viên còn
có thêm người hỗ trợ ngôn ngữ để giúp giáo viên hiểu ý kiến, câu trả lời của học sinh bằng
tiếng mẹ đẻ hoặc có lúc phải chuyển từ tiếng Việt sang tiếng dân tộc để các em hiểu thực
hiện nhiệm vụ học tập do giáo viên giao. Người hỗ trợ ngôn ngữ cho giáo viên là phụ
huynh Vân Kiều có trình độ học vấn, có hiểu biết về giáo dục, đã từng dạy học các lớp phổ
cập, học tập ở trường Phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh...
1.4. Thường xuyên tăng cường khả năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt cho học sinh
thông qua việc dạy tốt môn Tiếng Việt.
- Kịp thời giúp học sinh khắc phục những lỗ hỏng về kiến thức, kỹ năng đọc viết;
không dạy kiến thức mới, bài mới khi học sinh chưa nắm được kiến thức đã học, thường
xuyên tạo điều kiện, cơ hội cho các em học tập với khả năng của mình.
- Thực hiện dạy học vừa bám chuẩn kiến thức-kỹ năng vừa bám sát đối tượng học
em bằng cách cung cấp thêm từ ngữ mới, thông qua việc luyện nói câu hỏi, luyện nói câu
trả lời, luyện đối thoại. Qua đó, giúp cho các em làm quen với việc sử dụng nhiều từ ngữ
khác nhau của tiếng Việt, góp phần làm phong phú thêm vốn từ cho học sinh. Việc này
phải tiến hành đồng thời cung cấp từ mới với hướng dẫn phát âm đúng và giải nghĩa từ để
học sinh hiểu.
Một tồn tại cố hữu khó sửa nhất về kỹ năng nói của học sinh Vân Kiều là nói thừa
hoặc thiếu dấu thanh. Do vậy, khi giảng từ, giải nghĩa, hướng dẫn phát âm đòi hỏi giáo
viên phải hướng dẫn kỹ, phát âm mẫu nhiều lần, sửa sai cụ thể cho các em từng trường hợp
tránh qua loa. Việc hướng dẫn cho học sinh nhanh hay chậm; học sinh được tham gia trả
lời, giao tiếp nhiều hay ít tuỳ thuộc vào khả năng của từng đối tượng, không nhất thiết phải
như nhau cho tất cả học sinh, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc học sinh ở lớp càng nhỏ thì
thời gian tập nói càng nhiều, hướng dẫn càng kỹ. Mặt khác, việc tập nói tiếng Việt cho học
sinh phải được thực hiện dưới nhiều hình thức và phương pháp dạy học khác nhau như:
trong tiết dạy tăng cường tập nói tiếng Việt, tích hợp vào các tiết học khác, thông qua các
tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp, thông qua trò chơi, nói chuyện... bằng các phương pháp
trực quan, thực hành luyện tập theo mẫu, phương pháp đàm thoại và phương pháp giao
tiếp. Việc phối hợp hệ thống các phương pháp dạy tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc
Vân Kiều giúp các em dễ hiểu, dễ nhớ về nghĩa của từ thông qua các hình ảnh trực quan,
nói đúng cấu trúc câu theo mẫu, hạn chế cách nói ngược theo tiếng địa phương. Tập cho
học sinh khả năng diễn đạt theo tình huống, giao tiếp với bạn bè với thầy cô giáo bằng
tiếng Việt.
Việc tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc Vân Kiều cần có sự linh hoạt, không rập
khuôn máy móc, mà phải tuỳ theo từng mức độ của đối tượng để lựa chọn nội dung và
phương pháp cho phù hợp và có hiệu quả theo các việc sau đây:
- Việc 1: Lựa chọn tiếng, từ để tập nói cho phù hợp. Đối với lớp Một, đọc đánh vần
từng tiếng, từ để các em nhớ mặt chữ, sau mỗi bài học cần cho các em ôn luyện lại bảng
chữ cái để đọc tốt hơn.
- Việc 2: Luyện nói theo câu hỏi, câu trả lời có chứa các tiếng, từ mới cung cấp.
cho học sinh viết câu văn, đoạn văn, bài văn có hình ảnh và hay.
Bài viết mẫu để học sinh tham khảo khi luyện viết
Học sinh luyện đọc, viết trong tiết ôn luyện Tiếng Việt của lớp ghép
* Rèn viết cho học sinh trong các môn học khác.
- Phối hợp với giáo viên dạy các môn ngoài môn Tiếng Việt để tăng cường kỹ năng
viết và qua đó tạo cho các em thói quen viết đúng, viết đẹp và có bài viết hay hơn.
- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nội dung này của học sinh và phối hợp với
giáo viên bộ môn để điều chỉnh, bổ sung và xây dựng kế hoạch tiếp nối.
1.7. Tổ chức dạy nghe, nói, đọc, viết cho học sinh ở các môn học khác:
- Cho học sinh đọc nội dung bài đó (tên đầu bài, kiến thức của bài học ở bảng lớp,
sách giáo khoa, vở; kết hợp đọc để nghe, qua đọc để nói nội dung, qua trả lời câu hỏi...) để
luyện đọc, luyện nói.
- Cho học sinh viết, chép vào vở tên bài học, nội dung bài học.
- Cho học sinh nêu lại nội dung đã đọc, đã nêu, đã được nghe.
- Trong dạy học chú trọng rèn luyện, sửa chữa cho học sinh cách phát âm khi phát
biểu ý kiến, trong giao tiếp, nói chuyện, trao đổi... đúng tiếng Việt.
2. Đa dạng hoá các hình thức dạy học đặc thù trên lớp.
2.1. Tổ chức các hình thức truyền đạt:
- Tổ chức dạy theo nhóm đặc thù, lập nhóm để các em tâm sự; sinh hoạt nhóm.
- Tổ chức trò chơi; tổ chức văn nghệ, đóng tiểu phẩm với các tình huống phù hợp
thực tế; các hoạt động có đóng vai trong phân môn Kể chuyện.
- Luyện nói thông qua phần trả lời các câu hỏi của bài Tiếng Việt hoặc Kể chuyện;
sử dụng đồ dùng trực quan, sinh động, gần gũi với đời sống của học sinh.
Kể chuyện Bác Hồ với quân đội
- Bản thân tôi cũng luôn tổ chức cho học sinh thi Viết chữ đẹp trong lớp mỗi tháng
một lần, qua đó tạo thêm nguồn động viên khích lệ để các em có ý thức vươn lên trong học
tập hơn. Nhiều em đã có nhiều bài viết chữ đẹp, đúng chính tả, đặc biệt là các em học sinh
lớp Một, các em đã có tự tin hơn khi thực hiện các hoạt động học tập của mình.
Bài dự thi “ Nét chữ nết người” trong lớp
Học sinh tham gia múa hát sân trường cùng chị Tổng phụ trách Đội
4. Tổ chức trang trí không gian lớp học, để cho học sinh tự chủ động tham gia
trưng bày và sắp đặt nội dung theo ý tưởng của mình với các chủ đề như: “Em yêu
Tiếng Việt”, “Em yêu Toán”, “Sản phẩm của em”...
- Việc trang trí lớp học thân thiện là một hoạt động góp phần tăng cường tiếng Việt
cho học sinh dân tộc Vân Kiều. Vì thế, cần phải khuyến khích động viên để các em tham
gia trang trí lớp học một cách tích cực và chủ động. Cho các em sắp xếp, trang trí theo ý
tưởng của mình ở các góc sáng tạo và nói lên nội dung, ý nghĩa của góc.
- Động viên, đánh giá cao sản phẩm của các em và tạo điều kiện để các em chủ động
nói được điều mình muốn nói với bạn bè, với thầy cô, với gia đình qua góc “Điều em
muốn nói” về các chủ đề tương ứng theo kế hoạch. Với góc “ Em yêu Tiếng Việt”, các em
ghi lại được các nội dung đã học qua các phân môn Tiếng Việt: Cảm nghĩ của bản thân khi
đọc một bài văn, một câu chuyện; những hiểu biết về vốn từ ngữ trong cuộc sống; những
đoạn văn cảm xúc viết về mái trường, gia đình, thầy cô, bạn bè... Qua đó, nhằm phát triển
khả năng ngôn ngữ Tiếng Việt cho các em ngày càng nhiều hơn.
Góc “Em yêu Tiếng Việt”
Đối với các góc Sản phẩm của em, các em đã dùng ngôn ngữ kí hiệu, ngôn ngữ
đường nét, hội họa để nói lên ước mơ của mình. Như vậy, nhờ phát triển ngôn ngữ Tiếng
Việt, các em có thể cảm nhận được tình cảm, trí tuệ của mình qua từng sản phẩm mình làm
ra, giúp cho các em có hứng thú hơn trong học tập. Nhờ vào vốn tiếng Việt học được, các
Đối với bản thân luôn tự học tiếng Bru Vân Kiều để phục vụ tốt cho công tác dạy
học, giao tiếp cũng như công tác xã hội hóa giáo dục.
7. Phối hợp có hiệu quả với các già làng, trưởng bản, các tổ chức thiện nguyện
trong việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc Vân Kiều.
- Phối hợp với Trưởng bản, Đoàn xã, Chi đoàn và Ban Plan của các bản để tổ chức
hoạt động văn nghệ, nhóm vui chơi đọc sách (đọc cho nhau nghe, kể chuyện theo sách…),
giao tiếp, nói chuyện bằng tiếng Việt.
- Tranh thủ chương trình “Mùa hè xanh”, “Hè tình nguyện” của sinh viên trường Đại
học Công nghệ Hà Nội, nhóm “Thiện nguyện Trường Xuân”… tổ chức gặp gỡ các em
trong dịp hè để thực hiện các chương trình hỗ trợ nâng cao khả năng nói, giao tiếp bằng
tiếng Việt cho học sinh ở các bản NL, HC, KD, KN và LN.
Niềm vui của các em khi được đón Tết Trung do tổ chức Thiện nguyện TX và Hội
người Khuyết tật QN tổ chức
C. PHẦN KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của Giải pháp:
Thực hiện Giải pháp này có ý nghĩa vô cùng quan trọng góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục dân tộc, đặc biệt là chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh Vân Kiều.
Giáo viên có nhiều hiểu biết về phong tục tập quán, nếp sinh hoạt, nếp sống văn hóa,
đặc điểm của đồng bào và học sinh dân tộc Vân Kiều, nên thuận lợi hơn trong giao tiếp,
tuyên truyền vận động, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp dạy học phù hợp đối tượng
học sinh. Giúp cho giáo viên tự tin, mạnh dạn áp dụng các hình thức dạy học một cách chủ
động; sự lo âu về chất lượng học sinh được giải tỏa, niềm tin được nhân lên.
Các kỹ năng của học sinh được nâng cao, tạo cho các em có ý thức làm việc nhóm,
hợp tác, chia sẻ tự nhiên hơn.
Học sinh có khả năng vượt trội hàng năm tăng dần, số học sinh chậm tiến giảm. Chất
lượng học tập môn Tiếng Việt của học sinh được nâng lên và bền vững.
Trong những năm qua, học sinh các lớp do tôi phụ trách tham gia các Hội thi, các
Đạt
%
53.8
61.6
61.5
SL
6
5
5
%
61.6
61.6
61.6
SL
5
5
5
69.2
4
%
46.2
38.5
38.5
0
0
0
- Về phẩm chất:
Các Phẩm chất
Chăm học, chăm làm
Tự tin, trách nhiệm
Trung thực, kỷ luật
Đoàn kết, yêu thương
TSHS
đánh giá
13
13
13
13
Tốt
SL
8
8
8
9
Đạt
HSKT
0
Bốn là, giáo viên chủ nhiệm cần quan tâm và chú ý đến từng đối tượng học sinh
trong lớp về cuộc sống, môi trường, dụng cụ, phương tiện học tập; tạo điều kiện để các em
học tập và phát huy năng lực sở trường của mình.
Năm là, vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp để thu hút học sinh
tham gia tích cực hoạt động học tập; sử dụng hiệu quả đồ dùng, thiết bị dạy học.
Sáu là, tập trung vào sự phát triển và biểu hiện của học sinh qua kết quả học tập như
là một phần của quá trình học tập, coi kết quả đánh giá là một nguồn thông tin hữu ích để
phản hồi cho việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh, công nhận sự chuyển biến,
vươn lên trong học tập và rèn luyện của học sinh hơn là điểm số.
Bảy là, tăng cường công tác tham mưu cho lãnh đạo nhà trường, phối hợp với Đội
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, giáo viên bộ môn, nhân viên thư viện và các tổ chức
đoàn thể xã hội trong quá trình thực hiện. Hay nói cách khác, việc tăng cường tiếng Việt
cho học sinh dân tộc Vân Kiều cần có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều lực lượng
trong xã hội, không chỉ riêng giáo viên giảng dạy và mở rộng phạm vi.
3. Đề xuất, kiến nghị:
- Đối với các cấp: Quan tâm đúng mức công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,
năng lực dạy học và phong tục tập quán, tiếng Bru Vân Kiều cho đội ngũ.
- Đối với giáo viên: Ngoài năng lực chuyên môn, cần phát huy lương tâm, tình yêu
thương các em, cần mẫn, kiên trì, chịu khó và thực hiện tốt công tác phối hợp...
Trên đây là “Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh lớp ghép 5C+1C dân
tộc Vân Kiều ở trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học TX” - điểm trường LN. Kính mong
Hội đồng khoa học, đồng nghiệp và bạn đọc góp ý kiến để Giải pháp hoàn thiện và vận
dụng có hiệu quả vào thực tế. Xin trân trọng cám ơn!
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD&ĐT QUẢNG NINH
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
HỌC TX
Năm học: 2018 - 2019
Họ và tên: Trương Thị Hân
Chức vụ: Tổ trưởng – Giáo viên chủ nhiệm lớp 5C+1C
Đơn vị công tác: Trường PTDTBT TH Trường Xuân
Quảng Ninh, tháng 10 năm 2018