Skkn một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số độ tuổi 5 6 tuổi tại lớp lá 4 trường mầm non ea na - Pdf 42

I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Từ xưa ông cha ta đã có câu ‘‘Trẻ lên ba cả nhà học nói ’’, vì vậy học nói là vấn
đề vô cùng quan trọng đối với trẻ nhỏ nói chung và các cháu là dân tộc thiểu số nói
riêng. Ở trường tôi các cháu là dân tộc thiểu số chiếm 42,5%, tổng số học sinh toàn
trường. Lớp tôi đang trực tiếp giảng dạy 100% các cháu đều là dân tộc thiểu số nên
bản thân tôi là giáo viên đứng lớp, luôn mong muốn các cháu được tiếp cận với tiếng
Việt một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất trong công tác giảng dạy tiếng Việt cho trẻ,
để từ đó các cháu có một nền tảng ngôn ngữ vững vàng cho hành trang tiếp theo của
các cấp học.
Nhiệm vụ của giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục Quốc
dân. Giáo viên Mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào
tạo nhân cách con người. Ở độ tuổi mầm non, trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói,
vì vậy mà cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ, đặc biệt trẻ dân tộc thiểu số là vô cùng
quan trọng. Bởi vì các cháu thường dùng tiếng mẹ đẻ hàng ngày do tiếp xúc những
người thân trong gia đình nên gặp khó khăn trong việc tiếp thu tiếng Việt, dẫn đến
cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Chính vì vậy việc cung
cấp vốn tiếng Việt cho trẻ Dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình
thành và phát triển những kỹ năng nghe, hiểu, và giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ ở
các bậc học tiếp theo và trong cuộc sống hàng ngày.
Vì thực tế trong cuộc sống, chúng ta sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại,
thảo luận, trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, giải thích một vấn đề nào đó trong cuộc
sống như: Kể lại được sự việc, câu chuyện đã được nghe, được chứng kiến, hay tự
mình nghĩ ra, sáng tạo ra. Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của cô của những người xung
quanh. Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo ngôn ngữ tiếng
Việt. Để trẻ hiểu và nói được tiếng Việt một cách thành thạo là cả một quá trình học
tập và rèn luyện cho cả cô và trẻ ở bậc học Mầm non, nhằm phát triển ở trẻ các kỹ
năng, hiểu, nói, trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, một cách thành thạo nhất. Chính vì
Trang 1




quan tới việc lựa chọn nội dung, phương pháp cho trẻ dân tộc thiểu số tiếp cận, làm
quen dần với Tiếng việt. Từ đó tôi mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp tăng cường
tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số độ tuổi 5- 6 tuổi tại lớp lá 4 trường Mầm non Ea Na ”.
nhằm giúp trẻ nắm những kiến thức cơ bản của bậc học Mầm non như sau: Đưa ra một
số kinh nghiệm trong việc vận dụng phương pháp và các hình thức tổ chức tăng
cường tiếng Việt cho. Nhằm tạo điều kiện giúp trẻ nghe và hiểu được lời hướng dẫn
các hoạt động của giáo viên, thông qua việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc
thiểu số.
Người giáo viên tổ chức các hoạt động trong lớp đạt kết quả như: Trò chuyện với
trẻ bằng tiếng Việt, trẻ nghe, hiểu, giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt và thể hiện các
hành động tương ứng với lời nói, giúp trẻ dần thích ứng với ngôn ngữ thứ hai.
* Nhiệm vụ của đề tài
Là đưa ra một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non nói chung và
trẻ dân tộc thiểu số ở trường Mầm non Ea Na, phân hiệu Buôn Tơ Lơ nói riêng.
Bản thân cần nắm được tâm lý và nguyện vọng của trẻ để từ đó xây dựng các
phương pháp, hình thức, biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số ngay
ở độ tuổi 5- 6 tuổi.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5- 6 tuổi.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
“Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số độ tuổi 5- 6
tuổi tại lớp Lá 4 trường Mầm non Ea Na ”
Thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 2 năm 2017.
5. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sáng kiến này được tôi thực hiện với những phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu: Phương pháp này giúp cho sự định
hướng của sáng kiến.
Trang 3

Trang 4


chơi như chơi ở các góc, hay các giờ chơi tự do. Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không
phải là một phương tiện sử dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở đây học
sinh chỉ dùng tiếng Việt nói với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn thường
xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình để nói chuyện với nhau. Chính vì
vậy, dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong
muốn. Vì vậy là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp Lá 4 phân hiệu buôn Tơ Lơ trường
Mầm non Ea Na với 100% các cháu là dân tộc Êđê. Tôi nhận thấy cần có những biện
pháp bổ xung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ tuổi Mầm non 5- 6 tuổi. Với
khẩu ngữ “Học ăn, học nói, học gói, học mở ”.
Là giáo viên chủ nhiệm trực tiếp giảng dạy các cháu, tôi đã tích cực tham mưu
với Nhà trường kịp thời, có hiệu quả, tập trung chỉ đạo sâu sát phân hiệu, kịp thời tháo
gỡ vướng mắc, giải quyết khó khăn, đảm bảo kết quả dù rất nhỏ nhưng nhìn thấy rõ,
đo kiểm minh bạch, khách quan để cha mẹ học sinh và cộng đồng tin tưởng, đồng
thuận ủng hộ.
Nhà trường cần tranh thủ sự hỗ trợ về mọi mặt của nhiều tổ chức, trong quá trình
triển khai tổ chức thực hiện tăng cường tiếng Việt cho trẻ, đó là nhiệm vụ quan trọng
của ngành giáo dục nói chung, và trường Mầm non nói riêng.
Từ đó sẽ đáp ứng việc nâng cao được chất lượng giáo dục cho trẻ em vùng sâu,
vùng sa, vùng dân tộc thiểu số.
Dạy tiếng Việt cho trẻ nói chung, dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc nói riêng đều bắt
đầu bằng việc dạy và phát triển vốn từ cho trẻ. Trước hết, dạy trẻ tập nói các từ gần
gũi, sau đó các câu nói đơn giản, rồi mới đến câu phức tạp. Tùy theo khả năng của trẻ,
cô giáo dạy trẻ ở các mức độ khác nhau. Khi trẻ mới bắt đầu học tiếng Việt, cô giáo
dạy một vài từ trong một ngày. Khi trẻ đã có một số vốn từ nhất định, mức độ tiếp thu
ngôn ngữ của trẻ nhanh hơn thì cô giáo có thể dạy trẻ số từ nhiều hơn. Các từ được ôn
luyện thường xuyên trong các hoạt động khác nhau, ngữ cảnh, ngôn ngữ khác nhau,
trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi có khả năng học thông thạo được từ 600 đến 800 từ tiếng Việt

Lớp lá 4 phân hiệu Buôn Tơ Lơ thuộc trường Mầm non Ea Na là vùng sâu,
vùng xa và đặc biệt khó khăn của xa Ea Na. Một số trẻ chưa học qua lớp mầm, chồi,
Trang 6


đã học thẳng lên lớp lá như cháu Y- Hur Ayun, Y – Thum Niê, Y- Quy Bkrông chính
vì vậy việc nghe và hiểu tiếng Việt của trẻ là rất khó khăn.
Dân cư sống không tập chung, 100% là đồng bào dân tộc Êđê, việc bất đồng
ngôn ngữ giữa cô và trẻ, do vậy làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục trẻ. Địa
hình phức tạp việc đi đến lớp học của trẻ mầm non còn gặp nhiều khó khăn.
Mặt bằng kinh tế của người dân còn thấp, chủ yếu làm ruộng, làm rẫy, một số
phụ huynh chưa nhận thức được rõ về tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho con
em mình nó có tác dụng cần thiết như thế nào đối với việc nhận thức và hình thành
nhân cách của trẻ.
Mặt khác, một số phụ huynh không biết chữ, không được học qua trường lớp
nào nên khả năng nhận thức của phụ huynh rất hạn chế dẫn đến không quan tâm đến
việc học của con em mình. Phụ huynh không kết hợp với giáo viên để chăm lo việc
học cho con em mình đạt kết quả tốt hơn
Chính từ những khó khăn đó vào đầu năm học khi tôi chưa áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm trong công tác dạy học ở lớp Lá 4, chưa có kế hoạch đưa các biện pháp
dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì chúng ta thấy kết quả thông qua các lĩnh vực
thể hiện qua bảng kiểm tra đầu vào như sau:
Lĩnh vực GD trẻ

Trẻ không hiểu

Trẻ hiểu

Trẻ rất hiểu


5/27 = 18,5%

Phát triển thẩm mỹ

14/27 = 51,8%

10/27 = 37,0%

3/27 = 11,1%

Trang 7


Nguyên nhân chủ quan dẫn đến kết quả trên: Do đầu năm cô vẫn chưa có
phương hướng về công tác dạy trẻ làm quen tiếng Việt cho trẻ.
Nguyên nhân khách quan: Do môi trường sống tạo ra, trẻ sống trong gia đình,
thôn buôn 100% người dân dùng tiếng mẹ đẻ.
Từ những ưu điểm, khuyết điểm, và nguyên nhân trên đã thôi thúc tôi cần có
“Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số độ tuổi 5- 6 tuổi tại
lớp Lá 4 trường Mầm non Ea Na”.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
a. Mục tiêu của giải pháp
- Hiểu được ngôn ngữ phổ thông.
- Biết lắng nghe và phát âm đúng tiếng Việt.
- Trẻ mạnh dạn tự tin giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ tiếng Việt
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động cho trẻ
làm quen tăng cường tiếng Việt.
Khi lên kế hoạch dạy trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt, trước hết tôi bám sát
kế hoạch hoạt động của Nhà trường, trên cơ sở đó tôi xây dựng kế hoạch phù hợp với

năm vào tháng một, có năm vào tháng hai nên phải lựa chọn thời gian diễn ra lễ hội đó
để trẻ hòa vào không khí phấn khởi, sây mê tìm hiểu và hứng thú với các hoạt động
học, từ đó trẻ lĩnh hội các kiến thức một cách nhẹ nhàng không bị gò bó hay gượng
ép, như vậy khả năng tiếp thu bài sẽ nhanh hơn.
Biện pháp 2: Tổ chức các tiết học làm quen tăng cường tiếng Việt nhẹ nhàng lôi
cuốn trẻ.
Giáo viên truyền thụ những kiến thức tăng cường tiếng Việt thông qua các tiết
học. Ví dụ cô cho trẻ làm quen với câu “Khai giảng năm học mới ” của chủ đề trường
Mầm non. Trước tiên, cô xếp trẻ ngồi sao cho hợp lí với quy trình của phòng học, sau
đó cô đưa tranh Ngày Khai giảng năm học mới, trẻ quan sát và cô gợi hỏi: Tranh gì?
Từ những câu hỏi gợi mở, cô nhẹ nhàng dẫn dắt trẻ vào hoạt động. Cô cho quan sát từ
“Khai giảng năm học mới ”, cô phát âm câu “Khai giảng năm học mới ”, sau đó cả
Trang 9


lớp phát âm lại, sau đó đến tổ rồi cá nhân phát âm lại càng nhiều càng tốt. Bên cạnh
đó, cô tổ chức một vài trò chơi nhỏ để tiết học không nhàm chán nhưng phải chú ý
sửa sai cho trẻ.
Mặt khác để góp phần đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ mầm non, giáo
viên trực tiếp giảng dạy các cháu, tôi đã tổ chức họp tuyên truyền phụ huynh tích cực
hợp tác với giáo viên, cùng thống nhất dạy tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi. Đặc
biệt khi trẻ ở nhà các thành viên trong gia đình cần dùng tiếng Việt giao lưu với trẻ
thường xuyên. Giáo viên cần phải có trách nhiệm gần gũi trò chuyện với trẻ kết hợp
với cử chỉ, hành động để trẻ dần được làm quen với tiếng Việt một cách tự nhiên
không gò bó.
Ví dụ: Thông qua biện pháp trực quan hành động giúp cho người học tiếp thu có
hiệu quả và học ngôn ngữ mới một cách tự nhiên hứng thú. Mục đích của phương
pháp này nhằm giúp cho người học đạt được các mục đích như: hiểu và sử dụng ngôn
ngữ mới trong giao tiếp, hình thành và rèn luyện kỹ năng nghe, nói một ngôn ngữ
mới. Không cho trẻ nói khi chưa thực hiện thành thạo được các hành động, để có thể

Có một số ít trẻ nói được tiếng Việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ ngữ của
tiếng Việt. Vì vậy việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết chính xác cấu
tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được chữ cái tương
ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái.
Ví dụ: Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ s –x chẳng hạn:
Cô cho trẻ xem tranh " Hoa Sen xanh " cho trẻ đọc từ: Hoa sen xanh
Trẻ nhận biết trong từ Hoa sen xanh có bao nhiêu tiếng ? Có mấy chữ cái ?
Rồi cô ghép thẻ chữ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát âm
lại những chữ đó. Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen s- x, tôi phân tích các nét cơ
bản cấu tạo nên chữ cái s- x, cho trẻ phát âm chữ s- x nhiều lần giúp trẻ khắc sâu cấu
tạo của chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng chữ cái.
Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua việc làm quen với chữ cái:
Sau khi giúp trẻ làm quen và nắm được 29 chữ cái trong tiếng Việt tôi tiến hành
cho trẻ tham gia các trò chơi với chữ cái, cho trẻ tập tô chữ cái giúp trẻ dần dần nắm
Trang 11


được toàn bộ hệ thống chữ cái qui định trong chương trình, đồng thời chính xác hoá
cách phát âm. Do đặc điểm của lứa tuổi nên việc giáo dục trẻ mẫu giáo được tiến hành
theo phương châm học mà chơi, chơi mà học. Từ đó tôi luôn nghĩ cần phải phát huy
hết tác dụng của các trò chơi để dạy trẻ. Điều đáng chú ý là trẻ mầm non xã Ea Na rất
ham thích được học qua hình ảnh trực quan, tổ chức hoạt động học thông qua các trò
chơi. Mỗi khi được nhìn thấy đồ dùng, đồ chơi trẻ rất vui, thích tìm hiểu sờ mó và
cùng nhau khám phá. nắm bắt được đặc điểm này chúng tôi đã không ngừng học và
sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để đưa vào dạy
trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ đề.
Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái s- x trong từ “Hoa sen ” Tôi viết bài thơ lên giấy Rô
ki (mỗi tờ tranh đã được viết nôi nội dung một bài ), chia lớp thành 2 đội, mời đại
diện của 2 đội lên dùng bút tìm và gạch chân chữ s- x có trong các từ trong mỗi câu
thơ và đọc chữ cái gạch chân. Đội nào tìm và gạch chân được nhiều chữ s- x thì chiến

màu sắc, sống động … Vì thế, việc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế và sử
dụng giáo án điện từ, cài đặt và sử dụng một số phần mềm vui chơi, học tập đa dạng
và phong phú. Sẽ kích thích hứng thú, sự tập trung chú ý và ghi nhớ có chủ định của
trẻ vào bài giảng.
Ví dụ: Cô cho tổ cho trẻ làm quen với từ “con vật sống trong rừng ” qua chủ để
thế giới động, cụ thể ở đây cô cho trẻ quan sát hình ảnh con “con voi, con sư tư, con
nai… ” dưới hình ảnh cô có từ “con vật sống trong rừng ”, cô sẽ tải hình ảnh video và
dạy trẻ thông qua máy tính, từ hình ảnh trong đoạn video trẻ sẽ được lôi cuốn bởi
những con vật mới lạ, ngộ nghĩnh, kích thích sự tò mò của trẻ, từ đó giúp tập trung
trong giờ học, trẻ tiếp thu bài tốt hơn và có hiệu quả hơn, mặt khác thông qua đó trẻ
không cảm thấy chán nản và mệt mỏi, mà giúp trẻ chú ý vào giờ học lâu hơn khả năng
tiếp thu bài nhanh mà những đồ dùng dạy học khác không thể nào mang lại được.
Ngoài việc sử dụng công nghệ thông tin cho việc minh họa cho một số bài dạy ở
trên lớp, giáo viên còn thiết kế các bài dạy để có thể đàm thoại về nội dung tác phẩm
hoặc cho trẻ thể hiện từng đoạn trong tác đề tài dạy tăng cường tiếng Việt.

Trang 14


Biện pháp 4: Tích hợp tăng cường tiếng Việt vào các hoạt động khác trong
ngày.
Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau
quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với
vốn tiếng Việt bằng phương châm “Mưa dầm thấm lâu ” cho nên việc cung cấp ngôn
ngữ tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả, ví dụ: Giáo viên luôn vui vẻ,
thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chải tóc cho trẻ và không quên kèm theo một số câu
hỏi giao lưu như: Con mặc quần áo đẹp quá. Con ăn cơm chưa ? Ăn bao nhiêu cơm ?
Ăn với thức ăn gì ? Con ăn có ngon không ? Hay tôi hỏi về gia đình trẻ: Nhà con có
bao nhiêu người ? Con có em bé không ? Mẹ con làm nghề gì ?... Qua trò chuyện với
trẻ như vậy. Giáo viên sẽ nắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ để có biện pháp và

kèm cặp con em nhiều hơn trong môn học chữ cái, trẻ nắm được chữ cái, thuộc chữ
cái, viết được chữ cái, phát âm đúng chữ cái và nhất là nói thạo tiếng Việt nhất định
con của phụ huynh tiếp thu bài một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm
non và nhất là trong các cấp học sau này. Từ những lời nói ấy đã thúc đẩy phụ huynh
quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng Việt ở nhà cho trẻ nhiều
hơn.
Tôi tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ. Bên cạnh đó, tôi phối hợp cùng phụ huynh
tạo dựng cảnh quan môi trường đẹp và hấp dẫn tại lớp nhằm tạo động lực, sức hút đối
với trẻ trong tiết học. Qua đó công tác tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu
số được tổ chức dễ dàng thực hiện và đạt kết quả tốt.
Đề tài này giúp giáo viên nhận thức đúng đắn hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ
dân tộc thiểu số bậc học mầm non. Trẻ biết thêm được một ngôn ngữ mới, nhằm giúp
trẻ tự tin khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Từ đó trẻ tham gia vào các hoạt
động một cách hứng thú, tạo cơ hội mở rộng được tầm nhìn và kiến thức cho trẻ
bước vào bậc học tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.
Kết hợp với cha mẹ học sinh tận dụng nguồn nguyên vật liệu sẵn có của địa
phương như: vỏ trứng gà hoặc vịt, nan tre hoặc nứa, vỏ hộp xốp, chai nước giải khát,
vỏ hộp thuốc, vỏ hộp dầu rửa bát… làm đồ dùng có ghi tên đồ vật tương ứng giúp trẻ
Trang 16


phát triển tiếng Việt.
Nhờ vậy học sinh lớp Lá 4 phân hiệu buôn Tơ Lơ trường mầm non Ea Na hiện
nay nói thành thạo, lưu loát ngôn ngữ tiếng Việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ
muốn nói, không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, mạnh dạn
giao lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các biện pháp có mối quan hệ chặt chẽ bổ xung cho nhau thì cần có những biện
pháp then chốt và hỗ trợ. Biện pháp xây dựng kế hoạch phù hợp với tình hình của lớp,
của trẻ là biện pháp cốt lõi của đề tài cùng với những biện pháp hỗ trợ như tích hợp


11/27 = 40,7%

15/27 = 55,5%

Phát triển TC-XH

1/27 = 3,7%

10/27 = 37,0%

16/27 = 59,2%

Phát triển thể chất

0/27 = 0%

9/27 = 33,3%

18/27 = 66,6%

Phát triển thẩm mỹ

1/27 = 3,7%

7/27 = 25,9%

19/27 = 70,3%

Trang 17

dục trẻ. Từ những vốn kinh nghiệm tích luỹ ít ỏi về việc tăng cường tiếng Việt ấy tôi
đã áp dụng và có hiệu quả cao, ở tại trường mình. Cuối năm học này trẻ 95% trẻ dân
tộc thiểu số nói được tiếng Việt lưu loát, đủ câu, đủ ý.
Chỉ còn 0,5% số trẻ nói chưa được thành thạo nhưng cũng đã nghe hiểu được
tiếng Việt. Qua việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp tăng cường
tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số độ tuổi 5- 6 tuổi tại lớp lá 4 trường mầm non Ea Na
” vào trường chúng tôi, tuy là một lớp 100% trẻ dân tộc thiểu số.
Phụ huynh rất nhiệt tình trong công việc quyên góp phế liệu cho cô giáo làm đồ
dùng đồ chơi. Một số phụ huynh rất thích con mình hiểu biết nhiều về ngôn ngữ tiếng
Việt đã tích cực hợp tác với giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc dạy tiếng Việt cho con
em mình đạt kết quả. Bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn. Cháu thường dùng
tiếng mẹ đẻ, ít hiểu tiếng Việt nên dẫn đến cháu khó tiếp thu lời hướng dẫn, chỉ bảo
của cô giáo bằng tiếng việt. Cha mẹ các cháu có một số không biết chữ, ít quan tâm
đến việc học hành của con cái.
Trang 19


Trên đây là một vài kinh nghiệm áp dụng trong quá trình dạy trẻ dân tộc thiểu số
được thực hiện và đạt hiệu quả cao, những biện pháp trên tuy không có gì mới lạ đối
với các bạn nhưng đối với trẻ dân tộc thiểu số thì vô cùng mới mẽ và có tác dụng. Tuy
nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý bổ sung của
chuyên môn mầm non, Ban Thi đua Phòng Giáo dục và Đào tạo Krông Ana. Để sáng
kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện và được vận dụng vào thực tế. Nhằm ngày
một nâng cao tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ mầm
non nghe hiểu và thực hiện tốt các hoạt động ở trường, tự tin khi bước vào bậc học
tiếp theo.
2. Kiến nghị
Tôi mong nhà trường đầu tư thêm trang thiết bị đồ chơi, tài liệu về tăng cường
tiếng Việt, hình ảnh, sách báo, đồ dùng theo thông tư để giáo viên dạy học hiệu quả
hơn và đồng thời giúp học sinh tiến bộ nhiều hơn nữa trong việc học tiếng Việt.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:..............................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu............................................................................3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài..............................................3
5. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................3
a, Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận................................................3
b, Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.............................................4
c, Phương pháp thống kê toán học............................................................4
II. Phần nội dung......................................................................................4
1. Cơ sở lý luận.........................................................................................4
2. Thực trạng.............................................................................................6
3. Nội dung và hình thức của giải pháp ..................................................8
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.........................................................6
b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp..........................................8
c. Mối quan hệ giữa các biện pháp ..........................................................17
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứ...............17
III. Kết luận, kiến nghị..............................................................................19
1- Kết luận.................................................................................................19
2 - Kiến nghị .............................................................................................20
* Danh mục tài liệu tham khảo.................................................................21
* Mục lục
*Nhận xét của hội đồng sang kiến kinh nghiệm
* Hội đồng thẩm định các cấp nhận xét

Trang 22


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status