Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo a2 (5 6 tuổi) trường mầm non - Pdf 53

0


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ
DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI LỚP MẪU GIÁO
A2 (5-6 TUỔI), TRƯỜNG MẦM NON KỲ TÂN, BÁ THƯỚC
THANH HÓA

Người thực hiện: Lê Thị Quyết
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường mầm non Kỳ Tân
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA, NĂM 2018

1


Mục lục
STT
1.
1.1
1.2
1.3
1.4
2.

Biện pháp 4: Sử dụng các trò chơi để giúp trẻ hứng thú giao
tiếp bằng tiếng việt phổ thông
Biện pháp 5: Sử dụng biện pháp luyện tập theo mẫu và
luyện từ khó giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ
tiếng việt phổ thông.
Biện Pháp 6: Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội để giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ
tiếng việt phổ thông.
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kết luận, kiến nghị

Trang
1
1
2
2
2
3
3
4
6
6
8
11
12
14

14
16
17

sống hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người
một cách thực thụ. Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xung
quanh thì đứa trẻ phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn
ngữ trong môi trường nhất định
Việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ khi bắt đầu tới trường, lớp là vô cùng
quan trọng bởi ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư
tưởng, tình cảm ; công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội.
Thực tế cho thấy đối với những trẻ thành thạo tiếng phổ thông việc giao
tiếp và thu nhận tri thức và thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất
dễ dàng song đối với trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòi
hỏi nhà giáo dục cần phải có những biện pháp phù hợp.[1]
Đặc biệt ở trường mầm non Kỳ Tân chúng tôi các cháu 100% là dân tộc
Thái nghe và nói tiếng Việt rất kém mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình đến
mức nào chăng nữa thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng, mà chủ yếu là tiếng mẹ
đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học. Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là
3


một phương tiện sử dụng thường xuyên đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở đây
học sinh chỉ dùng tiếng Việt giao tiếp với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ
vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Chính vì vậy dẫn
đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong
muốn.
Bởi trong quá trình học ở các lớp dưới trẻ chưa thành thạo tiếng việt nên
việc nắm bắt kiến thức còn hạn chế, trẻ chưa hiểu hết những yêu cầu hay những
cuộc trò chuyện của cô nên chưa phát huy hết tính tích cực, chủ động của trẻ.
Trẻ nói không rõ ràng về ngôn ngữ và kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ tiếng Việt của
trẻ còn khó khăn.
Với tình hình thực tế của trẻ lớp tôi như vậy, bản thân tôi luôn trăn trở, suy
nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, không biết làm gì và làm như thế nào? bằng

- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm .
- Phương pháp tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Đối với sự phát triển nhân cách của trẻ mầm non nói riêng, của con người
và xã hội nói chung thì ngôn ngữ và giao tiếp có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng. Ngôn ngữ chỉ có ở con người và cũng chính từ lao động con người tiến
hóa từ vượn thành người và phát triển. V.I.Lênin nói: “Ngôn ngữ là phương tiện
giao tiếp quan trọng nhất của con người”. [ 2 ]
Ở lứa tuổi mầm non là thời kì phát cảm ngôn ngữ và giao tiếp, đây là giai
đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ và các kĩ năng
đọc viết ban đầu của trẻ. Ở lĩnh vực này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà
ở các giai đoạn sớm hay muộn hơn không thể có được, Trẻ học nghĩa và cấu trúc
của từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân,
hiểu mục đích và cách thức con người sử dụng chữ viết. Cùng với quá trình lĩnh
hội ngôn ngữ, trẻ còn lĩnh hội và phát triển các năng lực tư duy như xây dựng và
biểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông tin với người khác và tiếp nhận, đáplại ý tưởng,
thông tin của người khác.
Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát
triển khác của trẻ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa
quan trọng đối với sự phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tu
duy kí hiệu tượng trưng ở trẻ. Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp vì thế ngôn
ngữ cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển các năng lực và kĩ năng xã
hội của trẻ. Trẻ không chỉ sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ thái độ, suy nghĩ, tình
cảm của bản thân đối với mọi người xung quanh mà còn để tiếp nhận, hiểu thái
độ, suy nghĩ, tình cảm và giao tiếp của người khác. Trình độ phát triển ngôn ngữ
và làm quen với đọc viết ban đầu còn góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị
cho trẻ học tập ở trường phổ thông cũng như sự thành đạt trong cuộc sống sau
này của trẻ.
Việc phát triển ngôn ngữ và giao tiếp phải được tiến hành một cách tích

chính là phát triển một cách toàn diện. Như vậy giáo dục trẻ sẽ đạt được kết quả
như mong muốn.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1. Thuận lợi:
Lớp mẫu giáo A2 (5- 6 tuổi) bản thân phụ trách được đặt ở khu trung tâm
nên phạm vi giao tiếp của trẻ được mở rộng có nhiều thuận lợi trong việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ.
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của BGH nhà trường, nhiệt tình tâm
huyết bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên để từng bước nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên trong toàn trường.
Bản thân tôi là người dân tộc Thái nên khi giao tiếp với trẻ rất thuận lợi,
dễ gần gũi và trao đổi với phụ huynh người dân tộc.
Tổng số cháu là 26 cháu, phần lớn các cháu ở khu dân cư, thôn bản lân
cận.
Bản thân đã được tiếp thu chuyên đề tăng cường tiếng việt cho trẻ em vùng
dân tộc thiểu số từ năm 2012 và đến năm 2017 được tập huấn lại một lần nữa.[4]
Một số trẻ đã được đi học từ nhà trẻ nên cũng đã có một số vốn từ.
Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thích tham gia hoạt động.
2.2.2. Khó khăn:

6


Bên cạnh những thuận lợi trên thì bản thân còn gặp không ít những khó
khăn trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung và hoạt động phát triển
giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt của trẻ nói riêng cụ thể như:
- Lớp có 26/26 cháu là người dân tộc, ngôn ngữ giao tiếp của trẻ chủ yếu
là tiếng thái, kể cả khi ở trường.
- Giáo viên dạy ở các độ tuổi bé chưa tâm huyết với việc tăng cường tiếng
việt cho trẻ .

%
%
số
số
1
Trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc.
26 9/26
35
17/26 65
2
Nghe hiểu và làm theo 2-3 yêu 26
8/26
30
18/26
70
cầu liên tiếp bằng tiếng việt
3
Trẻ mạnh dạn tự tin diễn đạt suy 26 7/26
27
19/26
73
7


4
5

nghĩ, bằng ngôn ngữ của mình.
Trẻ hứng thú tham gia hoạt
động.

số biện pháp của mình, hy vọng rằng qua những biện pháp đó giúp trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt tốt để trẻ có thể
được phát triển một cách toàn diện, đặc biệt tạo cơ sở vững chắc để trẻ bước vào
bậc học tiếp theo.
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải
quyết vấn đề:
2.3.1.Biện pháp 1: Biện pháp xây dựng môi trường tiếng việt phong phú
giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt.
- Đây là biện pháp hữu hiệu và cũng khá quan trọng trong việc giúp trẻ
vùng dân tộc thiểu số giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt, bởi vì trong biện pháp
này giáo viên muốn làm tốt công tác xây dựng môi trường tiếng việt thì phải:
Tạo được môi trường giao tiếp bằng tiếng việt và tạo được môi trường chữ viết
trong lớp học. Đây là hai môi trường rất tốt giúp trẻ lĩnh hội được vốn từ vựng
tiếng việt, từ đó giúp trẻ biết giao tiếp bằng tiếng việt phổ thông một cách tốt
nhất. Cụ thể tôi đã sử dụng biện pháp này như sau;
* Tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng việt:
- Tôi thường xuyên trò chuyện với trẻ thông qua các hoạt động ở mọi lúc
mọi nơi về những chủ đề gần gũi trong cuộc sống. Khuyến khích trẻ tham gia trò
chuyện với cô và các bạn.
Ví dụ: Trong giờ điểm danh, ngoài thời gian điểm danh gọi tên trẻ tôi sẽ dành
thêm thời gian để trò chuyện với trẻ về các lĩnh vực trong cuộc sống như: Hôm
nay các con được ai đưa đi học? (mỗi trẻ trả lời bằng câu trả lời riêng: Bố, mẹ,
ông, bà…..), Bố, mẹ các con ở nhà làm gì? ( Làm ruộng, bán hàng,…). Hoặc
trong giờ hoạt động chơi ở các góc, khi phân vai cho trẻ thì tôi cũng đóng vai
chơi cùng với trẻ, tôi đến từng góc chơi và chơi cùng trẻ, giao tiếp với trẻ: Bác
mua cái gì? Cái này bao nhiêu tiền? Hôm nay bác nấu món gì?... giúp trẻ giao
8


tiếp với cô và các bạn bằng ngôn ngữ tiếng việt thường xuyên trong mọi hoạt

Góc học tập thì có tên là: Ai thông minh nhanh trí.
Góc nấu ăn tôi đặt tên là: Đầu bếp nhí.,…
Tất cả những tên của các góc đó tôi đều viết bằng chữ cái in thường để
cho các cháu dễ nhận biết chữ và đễ tiếp xúc hơn trong quá trình học tập.
- Tăng cường cho trẻ được tiếp xúc với chữ như “đọc” sách truyện tranh,
“đọc” họa báo, làm quen với các hoạt động “viết” như viết tên mình khi tập tô,

9


- Khi sử dụng biện pháp này tôi nhận thấy trẻ rất tiến bộ và thích giao tiếp
bằng ngôn ngữ tiếng việt hơn.
2.3.2.Biện pháp 2: Rèn kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt cho
trẻ ở mọi hoạt động, mọi lúc mọi nơi.[6]
Đây là biện pháp rất tốt để trẻ học được các từ tiếng việt. Trong chương
trình hoạt động một ngày trên lớp của trẻ thì đối với nơi có nhiều người dân tộc
thiểu số sinh sống thì chương trình hoạt động một ngày của trẻ ngoài các hoạt
động chính khác như: Đón trẻ, chơi tự chọn, thể dục sáng, hoạt động học, hoạt
động ở các góc chơi, …. Thì còn có một hoạt động nữa khá quan trong trong
việc cung cấp tiếng việt cho trẻ giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt tốt
hơn đó chính là hoạt động “làm quen tiếng việt” sau hoạt động chơi ngoài trời.
Đó là sự nghiên cứu rất sát thực với thực tế địa phương nên sở GD&ĐT đã đưa
vào chương trình hoạt động một ngày của trẻ nhằm mục đích giúp giáo viên
mầm non sẽ cung cấp cho học sinh vùng dân tộc thiểu số những từ vựng tiếng
việt cơ bản để giúp cho quá trình giao tiếp của trẻ vùng dân tộc thiểu số nhanh
chóng hòa nhập với ngôn ngữ tiếng việt phổ thông.
Dựa trên cơ sở đó và đây cũng là một cơ hội để tôi đưa ra biện pháp dạy
trẻ học từ vựng tiếng việt giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt tốt hơn.
Trong hoạt động chung:
Ví dụ:

Hoạt động đón, trả trẻ: Cô Luôn động viên và nhắc trẻ tràocô giáo, bố
mẹ và những người xung quanh, hỏi trẻ ai đưa con đi học, hôm nay ai đón con
( để kích thích trẻ nói tiếng phổ thông.)
Hoạt động góc: Khi trẻ chơi ở các nhánh như gia đình, bán hàng. Cô cho
trẻ chơi giao lưu các góc với nhau và luôn nhắc trẻ nói tiếng phổ thông, luôn chú
ý phiên tiếng cho trẻ.
Ví dụ : Cô hỏi đến bên trẻ hỏi con đang làm gì thế, cháu Dung trả lời con
đang ủm nọng cô nhắc lại tiếng phổ thông con nói lại là con đang bế em, cô cho
trẻ nhắc lại.
Hoạt động ngoài trời: Trẻ đang hứng thú tham gia qua sát ngôi nhà sàn
cô nhìn thấy cháu Loan đang không tập chung cô hỏi trẻ cháu sao vậy, cháu
Loan trả lời cháu nhớ nọng, cô nhắc trẻ nói lại là cháu nhớ em bằng tiếng phổ
thông .
Hoạt động chơi (chiều ) : Các trẻ đang tham gia chơi trong nhà bóng thì
cháu Anh, Nam, Quân, Bằng đã tung những quả bóng bị rơi ra ngoài ngay lúc đó
có em lớp bé đi qua các cháu liền gọi nọng ơi lấy quả bóng cho anh với. Tôi đến
bên va nhắc trẻ phải nói là em ơi lấy quả bóng cho anh với và cho trẻ nhắc lại.
Khi trẻ vào lớp cô nhắc trẻ từ tiếng thái chúng ta nói nọng nhưng các con nói
chuyện phải với nhau phải nói là em bằng tiếng phổ thông. Các con nhắc lại
- Đây là biện pháp yêu cầu giáo viên luôn luôn phải quan sát và để ý đến
trẻ. Nghĩa là trong mọi hoạt động của trẻ cô giáo đều phải chú ý quan tâm, nhắc
nhở trẻ thường xuyên và rèn cho trẻ có thói quen giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng
việt, tránh để trẻ giao tiếp lạm dụng bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ với nhau. Khi
đó giáo viên có thể sửa sai cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi và ở mọi hoạt động.
Ví dụ: Khi thấy các cháu giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ
tôi sẽ nhắc nhở trẻ để trẻ nhận thấy việc giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổ
thông là việc cần thiết: Các con phải nói chuyện với nhau bằng tiếng việt vì khi
các con đi ra ngoài xã hội các con phải nói bằng tiếng việt phổ thông thì tất cả
mọi người mới hiểu các con nói cái gì và muốn cái gì. Nếu các con nói chuyện
với nhau bằng tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ) thì chỉ có những người dân tộc của

sáng, nhưng trẻ lại rất thích được thể hiện mình trước các bạn và các cô, chính vì
thế tôi luôn tạo ra môi trường thi đua cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi để cho trẻ thể
hiện khả năng của mình. Trên yêu cầu của cô là phải giao tiếp bằng ngôn ngữ
tiếng việt.
Ví dụ: Giờ tập làm lớp trưởng: Tôi cho cả lớp thi đua nhau ai hô tốt, nhớ
trò chơi nhất thì được cắm cờ, thưởng kẹo, …. Các cháu rất hào hứng và ai cũng
muốn được thưởng nên các cháu lên thể hiện mình rất tốt. Ớ các giờ hoạt động
khác cũng vậy, như giờ học bài: Tôi khuyến khích trẻ giơ tay phát biểu ý kiến,
khi đúng lên phát biểu ý kiến thì phải nói to, rõ ràng và nói đầy đủ câu,… ai làm
được như vậy thì tôi sẽ thưởng cắm cờ, bánh, kẹo,… các cháu rất thích và thi
đua nhau phát biểu để nhận thưởng.

12


Ở bất cứ thời điểm nào tôi cũng đều tạo hình thức thi đua để cho trẻ thi
đua nhau, biện pháp này áp dụng rất tốt giúp trẻ có khả năng giao tiếp bằng ngôn
ngữ tiếng việt một cách có hiệu quả.
-> Khi sử dụng biện pháp này đối với các cháu lớp tôi, tôi nhận thấy nó có ý
nghĩa sát thực và các cháu có tiến bộ rõ rệt trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ
tiếng việt phổ thông.
2.3.3. Biện pháp 3: Dùng phương pháp sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng thái
) để dạy tiếng việt cho trẻ giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt tốt hơn.
Đây là biện pháp đầu tiên tạo sự mạnh dạn, tự tin cho trẻ khi đến lớp. Tôi
đã tạo cơ hội cho trẻ “nói,nói và nói”bằng tiếng mẹ đẻ(tiếng thái) với các bạn
trong lớp, với các bạn trong trường và mọi người xung quanh. Các chủ đề nói
chuyện là những công việc, hoạt động diễn ra hàng ngày xung quanh trẻ như:
Cách chào hỏi khi gặp người lớn, hàng ngày bố mẹ làm gì? Bản thân làm gì khi
ở nhà, ở nhà có những con vật gì, cây cối xung quanh, thời tiết thế nào,…. Trong
quá trình nhận thức, khi được sử dụng tiếng thái , trẻ sẽ biết nhanh và chính xác

lại nội dung câu chuyện, bài thơ, bài hát cho trẻ hiểu bằng tiếng mẹ đẻ sau đó tôi
nói lại cho trẻ nghe và kể lại bằng tiếng việt. (nếu giáo viên không biết tiếng dân
tộc thiểu số thì có thể nhờ giáo viên khác biết tiếng hoặc phụ huynh học sinh hỗ
trợ cho mình). Sau đó cho trẻ kể lại, đọc lại và hát lại bằng tiếng việt phổ thông,
tôi sẽ chú ý lắng nghe và sửa sai cho trẻ.
Ví dụ 3: Dạy cho trẻ hát bài hát “Cái mũi” trong chủ đề bản thân. Trước
tiên tôi hát cho trẻ nghe, sau đó thay vì việc giảng nội dung bằng ngôn ngữ tiếng
việt trước tôi tóm tắt nội dung bằng tiếng mẹ đẻ của các cháu cho các cháu hiểu
nội dung bài hát rồi mới tiếp tục hát và giảng nội dung để đàm thoại với các
cháu. Và khi đàm thoại về nội dung bài hát Cái mũi tôi cũng phải dùng tiếng mẹ
đẻ để giải thích câu hỏi trước cho trẻ nắm được sau đó trẻ sẽ trả lời và tôi chú ý
sửa sai cho trẻ.
-> Dùng biện pháp này tôi nhận thấy các cháu lĩnh hội được kiến thức rất nhanh
và giao tiếp bằng tiếng việt cũng được phát triển lên một cách rõ rệt.
2.3.4. Biện pháp 4: Sử dụng các trò chơi để giúp trẻ hứng thú giao tiếp
bằng tiếng việt phổ thông.[3]
Nắm được tâm lí của trẻ là học mà chơi và chơi mà học luôn mang lại
hứng thú cho trẻ, chính vì thế tôi dùng biện pháp sử dụng các trò chơi để giúp
trẻ giao tiếp bằng tiếng việt. Có rất nhiều các trò chơi trong chương trình được
tôi áp dụng như: Trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi âm nhạc, trò chơi
với chữ cái,… Cách phổ biến luật chơi và cách chơi mà cô đưa ra phải xúc tích
và dễ hiểu, không quá lan man khiến trẻ khó hiểu và không hiểu. Trong trường
hợp cách chơi và luật chơi quá khó khi tiếp thu bằng tiếng việt thì cô giáo phải
giải thích bằng tiếng dân tộc thiểu số giúp trẻ hiểu sau đó mới chuyển sang sử
dụng tiếng việt và cho trẻ chơi trên cơ sở hoàn toàn bằng ngôn ngữ tiếng việt.
Trong chương trình dành cho lứa tuổi 5- 6 tuổi có rất nhiều các trò chơi bổ ích ví
dụ như quyển “Tuyển tập những trò chơi, câu đố, thơ, truyện, hát theo chủ đề
dành cho trẻ 5- 6 tuổi” chẳng hạn, có khá nhiều trò chơi theo từng chủ đề là
những trò chơi học tập, trò chơi vận động.. Tất cả những trò chơi đó đều có thể
sử dụng để cung cấp ngôn ngữ tiếng việt cho các cháu. Ngoài ra tôi còn có thể

Quả bóng con con
Quả bóng con con
Quả bóng tròn tròn
Quả bóng tròn tròn
Em tung bạn đỡ
Bạn tung em đỡ
Tung cao cao nữa
Tung cao cao nữa
Bạn bắt rất tài
Em bắt rất tài
Cô bảo cả hai
Chúng em đều giỏi.
Ví dụ 3:
- Cho trẻ chơi trò chơi “Nghe tiếng hát đoán tên bạn hát”. Mục đích của
trò chơi là phát triển khả năng nghe và trí nhớ của trẻ. Qua đó giúp trẻ có cơ hội
phát triển ngôn ngữ, khả năng giao tiếp. Cách chơi là: Gọi từng trẻ lên chơi, cho
trẻ đội mũ chóp kín. Gọi một trẻ bất kì ngồi ở dưới hát một bài hát. Sau đó mời
trẻ chơi lấy mũ chóp kín ra và đoán tên bạn nào vừa hát.
-> Dùng biện pháp này trong việc giúp trẻ lớp tôi biết giao tiếp bằng ngôn ngữ
tiếng việt rất là tốt. Bởi trong mỗi trò chơi tôi đưa ra thì trẻ rất hứng thú tham gia
và đạt được yêu cầu của tôi. Các cháu rất thích và biết sử dụng bằng ngôn ngữ
tiếng việt trong giao tiếp.
15


2.3.5.Biện pháp 5: Sử dụng biện pháp luyện tập theo mẫu và luyện từ
khó giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổ thông.
Đây là biện pháp mà tôi cần luyện tập cho trẻ được thực hành theo mẫu.
Khi có mẫu trẻ dễ bắt chước và dần dần trở thành vốn kiến thức riêng trong nhận
thức của trẻ. Sau đó sẽ cho trẻ học những từ khó hơn để luyện từ khó cho trẻ.

2.3.6.Biện Pháp 6: Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã
hội để giúp trẻ giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổ thông.
- Đây là ba môi trường hoạt động của trẻ diễn ra hàng ngày. Khi ở trường
thì cô giáo quan tâm, rèn luyện, cung cấp cho trẻ những kiến thức, trẻ tiếp thu
16


lĩnh hội và phản ánh lại ở mọi hoạt động. Chính vì thế cô giáo phải phối hợp với
gia đình, với phụ huynh để phụ huynh nắm được những gì trẻ đã học được và
khi về nhà có thể củng cố lại cho trẻ, và cũng giúp gia đình hiểu rõ việc nâng
cao chất lượng giao tiếp cho trẻ bằng ngôn ngữ tiếng việt là rất cần thiết. Để khi
ra xã hội đây là một môi trường để trẻ trải nghiệm rõ rệt nhất kiến thức mà mình
được học.
- Muốn làm tốt biện pháp này mỗi giáo viên mầm non phải làm tốt được
công tác xã hội hóa giáo dục, phải thông qua nhiều hình thức như: Tôi xây góc
tuyên truyền với phụ huynh về những nội dung, kiến thức cần chăm sóc giáo dục
trẻ để dễ trao đổi và phối hợp một cách kịp thời giúp cho trẻ ngày càng phát
triển.
Ví dụ: Ở trên lớp tôi đã làm một góc “phụ huynh cần biết” trong đó tôi có
ghi mọi thông tin của trẻ, các chuyên đề cần trao đổi, thay đổi các chủ đề để phụ
huynh tiện thể nắm bắt được. Hàng ngày thông qua giờ đón trẻ, trả trẻ tôi cũng
thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình của trẻ, tuyên truyền với phụ
huynh về việc nâng cao chất lượng giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt cho trẻ.
Hạn chế việc trao đổi bằng tiếng mường khi đến trường, ra xã hội và ngay cả
trong sinh hoạt gia đình.
Ngoài ra tôi còn tổ chức các giờ dạy và mời phụ huynh đến dự để phụ
huynh có kiến thức về cách dạy trẻ giao tiếp bằng tiếng việt ở gia đình. Những
buổi hoạt động ngoại khóa của lớp, của trường như các ngày tổ chức văn nghệ,
tọa đàm tôi cũng đều mời phụ hynh đến dự.
Tôi luôn quan tâm đến vấn đề tuyên truyền với phụ huynh khi ở gia đình

Kết quả
T.Số
Đạt
Chưa đạt
TT
Nội dung
Tổng
trẻ Tổng
%
%
số
số
1
Trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc.
26
26/26 100
0/26
100
2
Nghe hiểu và làm theo 2-3 yêu 26
26/26 100
0/26
100
cầu liên tiếp bằng tiếng việt
3
Trẻ mạnh dạn tự tin diễn đạt suy 26
25/26
96
1/26
4

Giúp giáo viên nhận thức đúng đắn hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ dân
tộc thiểu số bậc học mầm non. Trẻ biết thêm được một ngôn ngữ mới, nhằm
giúp trẻ tự tin khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Từ đó trẻ tham gia vào
các hoạt động một cách hứng thú. Tạo cơ hội mở rộng được tầm nhìn và kiến
thức cho trẻ bước vào bậc học tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.
* Đối với nhà trường:
Việc áp dụng những biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi người dân tộc thiểu số
biết giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng việt phổ thông như trên làm cho chất lượng
chăm sóc – giáo dục được nâng lên rõ rệt, từ đó góp phần nâng cao chất lượng
đại trà của nhà trường.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ giữ một vai trò to lớn trong sự phát triển trí
thức của trẻ, nó là phương tiện phát triển tư duy, và là công cụ hoạt động trí tuệ.
Chính vì thế mọi đứa trẻ khi mới sinh ra và cho đến khi lớn lên, dù là dân tộc
nào, quốc tịch nào đi chăng nữa thì cũng phải được quan tâm chăm sóc giống
nhau, đặc biệt là đối với những trẻ em ở nơi đặc biệt khó khăn như ở các vùng
dân tộc thiểu số ít người, nơi mà xã hội chưa được quan tâm phát triển thì càng
phải chú ý tạo điều kiện cho các cháu có một điều kiện tốt nhất để cùng phát
triển. Với tầm quan trọng đó nên giáo viên mầm non phải là người chủ động
thường xuyên tiến hành việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Chính vì thế người giáo viên mầm non muốn đạt được những kết quả như
mong muốn thì cần: Phải phát âm thật chuẩn tiếng việt phổ thông, trang bị cho
mình những kiến thức về Tiếng việt thực hành, những lí luận cơ bản, hiện đại, hệ
thống và thiết thực về những thành tựu cơ bản, hiện đại về phát triển ngôn ngữ
của trẻ. Cô giáo cần có lòng nhiệt tình, thương yêu luôn quan tâm và gần gũi với
trẻ. Cần phát huy, sáng tạo các nội dung để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Luôn
học hỏi, nghiên cứu các tài liệu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ để có một kiến
thức thiết thực nhất nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, giao tiếp mạch lạc, tự tin.
Trong thời gian tới nhà trường sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền,

TÀI LIỆU THAM KHẢO

20


1.Trần Thị Hạnh.GV trường mầm non Nậm Loỏng, Lai châu"Một số biện pháp
phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm
Loỏng".SKKN Năm 2013-2014
2.“Lý luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em” Nhà xuất bản Đại
học Huế năm 2013
3.“Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 – 6 tuổi”. Đại học Sư phạm
Hà Nội 2008
4.“Nghiên cứu khoa học công nghệ giáo dục mầm non”. Bộ giáo dục và đào tạo
5.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên
6.Cổng thông tin điện tử: - mamnon.com.vn
- giao an violet.com.vn

DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC CÁC CẤP CÔNG NHẬN
21


Họ và tên tác giả: Lê Thị Quyết
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường mầm non Kỳ Tân.
Kết quả
Cấp đánh giá xếp
Năm đánh
TT Tên đề tài SKKN
đánh giá
loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status