skkn biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số - Pdf 35

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:

BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ


PHÂN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm.
1. Đặt vấn đề:
Trong thực tế chúng ta đã biết, nhiệm vụ giáo dục Mầm non là khâu đầu tiên của
hệ thống giáo dục Quốc dân. Giáo viên Mầm non được xem là người thầy đầu tiên
đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa, tuỳ
theo mỗi độ tuổi mà giáo dục khác nhau. Tuổi mầm non trẻ mới bắt đầu trong quá
trình học nói, chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ, đặc biệt là Dân tộc
thiểu số là vô cùng quan trọng. Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng
tiếng mẹ đẻ của trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng việt, dẫn đến cháu
khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng việt. Chính vì vậy việc cung cấp
vốn Tiếng việt cho trẻ Dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình
thành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng việt ở các bậc học
tiếp theo.
2. Lý luận:
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại,
thảo luận, trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, giải thích một vấn đề nào đó trong
cuộc sống như: Kể lại được sự việc, câu chuyện đã được nghe, được chứng kiến,
hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra. Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của cô của những
người xung quanh. Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo
ngôn ngữ Tiếng việt. Muốn phát triển ở trẻ kỷ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ
Tiếng việt theo cô, theo tôi trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát
triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, cho trẻ làm
quen với chữ cái và thông qua các môn học khác, hoặc ở mọi lúc mọi nơi... Là vô

tưởng chừng như rất dễ nhưng thực tế lại rất khó, mà nó đòi hỏi cả một quá trình,
phải có sự kiên trì của cả giáo viên và trẻ. Dạy trẻ làm quen với tiếng Việt là dạy
cái gì, dạy như thế nào? Trẻ làm quen với tiếng việt với tư cách là bộ môn khoa
học hay với tư cách là một công cụ, một phương tiện giao tiếp. Cách trả lời những
câu hỏi trên sẽ liên quan tới việc lựa chọn nội dung, phương pháp cho trẻ dân tộc
tiếp cận, làm quen dần với tiếng Việt. Từ đó tôi mạnh dạn đưa ra một số “Biện
pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số”. Để giúp cho giáo viên có kiến
thức và biện pháp về việc dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, nhằm giúp trẻ
nắm những kiến thức cơ bản của bậc học Mầm non như sau:
1. Trên cơ sở thực tế tổ chức tăng cường tiếng việt cho dân tộc thiểu số:


Đưa ra một số kinh nghiệm trong việc vận dụng phương pháp và các hình thức tổ
chức tăng cường tiếng Việt cho trẻ độ tuổi mầm non. Tại trường mầm non Thượng
Nung. Nhằm tạo điều kiện giúp trẻ nghe và hiểu được lời hướng dẫn các hoạt động
của giáo viên, thông qua việc tăng cường tiếng Việt dân tộc thiểu số.
2. Điều kiện giúp trẻ hiểu được thông tin của người dạy và học tiếng Việt tốt
nhất:. Người giáo viên tổ chức các hoạt động trong lớp đạt kết quả như: Trò
chuyện với trẻ bằng tiếng Việt và thể hiện các hành động tương ứng với lời nói,
giúp trẻ dần thích ứng với ngôn ngữ thứ hai.
III. Nhiệm vụ viết sáng kiến kinh nghiệm.
1. Nhiệm vụ cơ bản của sáng kiến: Là đưa ra một số biện pháp tăng cường tiếng
Việt cho trẻ mầm non nói chung và trẻ dân tộc thiểu số ở trường
mầm non Thượng Nung nói riêng.
2. Các biện pháp thực tiễn: Lãnh đạo nhà trường và giáo viên cần nắm được tâm lý
và nguyện vọng của trẻ. Để từ đó xây dựng các phương pháp, hình thức, biện pháp
tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số ngay ở độ tuổi mầm non.
VI. Phương pháp nghiên cứu.
Sáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau.
1. Phương pháp tham khảo tài liệu: Phương pháp này giúp cho sự định hướng của

mong muốn. Vì vậy là người quản lý một trường mầm non vùng sâu, vùng xa với
100% các cháu là dân tộc thiểu số. Tôi nhận thấy cần có những biện pháp bổ xung,
tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ tuổi mầm non.
Đó là người lãnh đạo nhà trường cần tích cực tham mưu với cấp uỷ chính quyền
địa phương, kịp thời và bài bản, có hiệu quả, tập chung chỉ đạo sâu sát cơ sở, kịp
thời tháo gỡ vướng mắc, giải quyết khó khăn, đảm bảo kết quả dù rất nhỏ nhưng
nhìn thấy rõ, đo kiểm minh bạch, khách quan để cha mẹ học sinh và cộng đồng tin
tưởng, đồng thuận ủng hộ. Thêm vào đó phải có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng để
xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ đạo và đội ngũ giáo viên, giáo dục song ngữ. Điều
kiện quyết định là triển khai thành công một mô hình thích hợp và khả thi về tăng
cường tiếng Việt cho trẻ.
2. Cơ sở thực tiễn:


Nhà trường cần tranh thủ sự hỗ trợ về mọi mặt của nhiều tổ chức, trong quá trình
triển khai tổ chức thực hiện tăng cường Tiếng việt cho trẻ, đó là nhiệm vụ quan
trọng của ngành giáo dục nói chung, mầm non nói riêng.
Từ đó xẽ đáp ứng việc nâng cao được chất lượng Giáo Dục cho trẻ em vùng miền
núi, vùng dân tộc thiểu số.
Dạy tiếng Việt cho trẻ nói chung, dạy tiếng dân tộc nói riêng đều bắt đầu bằng việc
dạy và phát triển vốn từ cho trẻ. trước hết dạy trẻ tập nói các từ gần gũi, sau đó các
câu nói đơn giản, rồi mới đến câu phức tạp. Tuỳ theo khả năng của trẻ, cô giáo dạy
trẻ ở các mức độ khác nhau. Khi trẻ mới bắt đầu học tiếng Việt, cô giáo dạy một
vài từ trong một ngày. Khi trẻ đã có một số vốn từ nhất định, mức độ tiếp thu ngôn
ngữ của trẻ nhanh hơn thì cô giáo có thể dạy trẻ số từ nhiều hơn. Các từ được ôn
luyện thường xuyên trong các hoạt động khác nhau, ngữ cảnh, ngôn ngữ khác
nhau, trẻ mẫu giáo 5 tuổi có khả năng học được từ 300 đến 500 từ Tiếng Việt trong
một năm.
* Tóm lại:
Việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, tuỳ theo điều kiện khả năng

Đặc biệt các lớp ở điểm lẻ còn rất khó khăn, lớp học chưa đúng quy cách, việc sử
dụng nguyên vật liệu sẵn có của địa phương để làm đồ dùng đồ chơi hoặc phương
tiện chuyển tải kiến thức tiếng Việt đến với trẻ còn hạn chế.
Chưa có tài liệu dạy dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số.
2. Thực trạng việc quá trình đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc
thiểu số ở trường Mầm non Thượng Nung:
Khi nhà trường chưa có kế hoạch đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc
thiểu số thì chúng ta thấy kết quả được thể hiện qua bảng kiểm tra đầu vào như
sau:

Lĩnh vực GD trẻ

Trẻ không hiểu Trẻ hiểu

Trẻ rất hiểu

Phát triển ngôn ngữ

80/165 = 48,5%

30/165 = 18,2%

55/165 = 33,3%


Phát triển nhận thức

85/165 = 51,5%

58/165 = 35,2%

mội nơi. Đặc biệt khi trẻ ở nhà các thành viên trong gia đình cần dùng tiếng Việt
giao lưu với trẻ thường xuyên. Mỗi giáo viên cần phải có trách nhiệm gần gũi trò
chuyện với trẻ kết hợp với cử chỉ, hành động để trẻ dần được làm quen với tiếng
Việt một cách tự nhiên không gò bó. Ví dụ: Thông qua biện pháp trực quan hành
động giúp cho người học tiếp thu có hiệu quả và học ngôn ngữ mới một cách tự
nhiên hứng thú. Mục đích của phương pháp này nhằm giúp cho người học đạt được
các mục đích như: hiểu và sử dụng ngôn ngữ mới trong giao tiếp, hình thành và rèn
luyện kỹ năng nghe, nói một ngôn ngữ mới. Không cho trẻ nói khi chưa thực hiện
thành thạo được các hành động, để có thể tập trung lắng nghe chuẩn xác. Khi đã
nghe rõ, hiểu, thuộc và tự tin làm đúng, trẻ xẽ tự muốn nói và có thể tự thực hành
với bạn của mình, giáo viên cần cho trẻ đều được thực hành ở mỗi lần học. Chỉ sử
dụng ngôn ngữ đơn giản, ngắn gon, không dẫn dắt, giảng giải nhiều vì trẻ chưa
hiểu tiếng Việt.
Khi dạy trẻ, giáo viên cần xác định trước những loại từ, câu nào xẽ sử dụng khi
hướng dẫn trẻ. Nên sử dụng các điệu bộ cử chỉ để ra hiệu cho
trẻ hiểu ý đồ của mình, thay cho việc nói nhiều của người dạy. Lúc đầu dạy từ 1-2
từ dễ hiểu kết hợp với hành động như: Đứng lên, ngồi xuống... đến ngày hôm sau
cô giáo cần cho trẻ ôn lại những gì được học ngày hôm trước, để khắc sâu sự ghi
nhớ bằng hình thức chơi mà không cần phải giữ nguyên thứ tự từ các bước ngày
hôm trước dạy nữa ví dụ: Đứng lên - ngồi xuống, ngồi xuống - đứng lên, rửa tay rửa chân…Dạy tiếng Việt với biện pháp trực quan hành động với đồ vật, biện pháp
này dạy trẻ các từ mới như: Cái bàn, cái ghế, quyển vở…


Ngoài ra còn sử dụng các biện pháp dạy trẻ học tiếng Việt qua kể chuyện, đóng
vai, đối với mỗi câu chuyện, làm các đồ chơi minh hoạ, đơn giản tượng trương cho
các nhân vật chính, sử dụng các nhân vật có sẵn để làm đồ dùng minh hoạ. Hoặc
trẻ học tiếng Việt thông qua việc dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái
tiếng Việt. Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm
đúng chữ cái. Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của
việc làm quen với Tiếng việt có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa

chúng tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí,
thông tin đại chúng để đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm.
Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái s-x trong bài thơ "Hoa sen" Tôi viết bài thơ lên giấy rô
ki (mỗi tờ tranh đã được viết nôi nội dung một bài), tôi mời lớp tôi chia làm 2 đội
lên dùng bút tìm và gạch chân chữ s-x có trong từ có trong mỗi câu thơ và dộc chữ
cái mình đang gạch chân đội nào tìm gạch chân được nhiều chữ s-x thì chiến thắng
và được tuyên dương.
Tôi còn cho trẻ nhận biết và phát âm chữ cái qua nhiều trò chơi khác như "Nối chữ
cái với từ có chứa chữ cái đó"… "Dạy trẻ phát âm tiếng Việt thông qua trò chơi
tìm chữ cái theo yêu cầu của cô"
Tăng cường tiếng Việt thông qua trò chơi gắn chữ cái trên đồ dùng, đồ chơi, "
Xếp chữ cái bằng hột hạt".
"Xếp các nét cơ bản tạo thành chữ cái"...
Bên cạnh đó tôi luôn tranh thủ thời gian tự làm thêm một số đồ dùng đồ chơi để
cho trẻ được thực hành trải nghiệm. Tôi thiết nghĩ trẻ được thực hành trải nghiệm
nhiều với đồ dùng đồ chơi sẽ giúp trẻ ghi nhớ chữ cái một cách sâu sắc hơn, tập
phát âm Tiếng việt một cách chuẩn hơn.Từ đó cũng góp phần không nhỏ vào việc
cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ. Qua một thời gian thực hiện lớp tôi tiến bộ rõ rệt,
cháu hứng thứ trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm đúng chữ cái do
tôi cung cấp. Tôi tiến hành lên kế hoạch chỉ đạo giáo viên áp dụng việc cung cấp
tiếng việt vào các hoạt động như:
3. Tăng cường tiếng việt cho trẻ thông qua môn văn học:
Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong
học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kỹ năng
chú ý nghe và phát âm thông qua môn văn học là vô cùng cần thiết.Trước khi vào
dạy học thơ hay kể một câu chuyện nào đó, điều đầu tiên tôi chú ý là lựa chọn bài
thơ, câu chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để cung cấp, vì trẻ dân tộc


thiểu số rất hiếu động thời gian tập trung chú ý nghe cô giảng rất ngắn, nắm được



câu hỏi giao lưu như: Con mặc quần áo đẹp quá. Con ăn cơm chưa? Ăn bao nhiêu
cơm? Ăn với thức ăn gì? Con ăn có ngon không? Hay tôi hỏi về gia đình trẻ: Nhà
con có bao nhiêu người? Con có em bé không? Mẹ con làm nghề gì?... Qua trò
chuyện với trẻ như vậy. Giáo viên xẽ nắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ để
có biện pháp và giành nhiều thời giờ hơn giúp trẻ phát âm đúng, phát âm chuẩn
Tiếng việt.
Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong
tranh, từ ở các góc, giáo viên cần dạy trẻ phát âm nhiều lần và cho trẻ
chỉ phát âm chữ cái có trong tranh con vật, hoa, cây quả…có từ mang chữ cái đang
học, trẻ đọc qua nhiều lần như vậy. Trẻ dân tộc trường tôi, phát âm chuẩn hơn và
mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, bạn biết chỉ cho bạn chưa biết, hoặc
mạnh dạn đến hỏi cô, òư đó trẻ không còn rụt rè như trước nữa. Ngoài ra trong giờ
hoạt động ngoài trời tôi còn chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm các lớp cho trẻ ôn kiến
thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ
đọc đồng dao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát
hơn. Tạo không khí thân thiện, gần gũi giữa cô giáo và trẻ, vấn đề này đặc biệt cần
thiết và không tể thiếu được đối với trẻ dân tộc thiểu số.
Giờ vui chơi tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, trẻ được giao lưu trao đổi mua bán
và thể hiện hết vai chơi của mình, bên cạnh đó tôi luôn theo sát trẻ để kịp thời sửa
sai uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không có trọng tâm
hay trẻ dùng tiếng mẹ đẻ. Chính nhờ vậy mà học sinh trường tôi đa số trẻ biết dùng
từ để diễn đạt thành câu có nghĩa trong giao tiếp với bạn và côgiáo.
5. Kết hợp với phụ huynh:
Trong một buổi học trẻ được tiếp xúc với cô giáo rất nhiều nhưng chúng ta biết
phối hợp với gia đình trong việc cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ lại càng tốt hơn vì
vậy Ban giám hiệu nhà trường đã tiến hành cho mời các bậc phụ huynh đến họp,
thông báo kết quả học của mỗi cháu cho phụ huynh nắm và đặc biệt không quên
cho phụ huynh biết khả năng tiếp thu kiến thức bài học bằng ngôn ngữ Tiếng việt

- Là một người lãnh đạo phụ trách chung về các hoạt động của nhà trường, tôi cần
xây dựng một kế hoạch cụ thể, theo dõi sát xao các chương trình chăm sóc giáo
dục trẻ, chỉ đạo quản lý chuyên môn xây dựng thời gian biểu, ý thức trách nhiệm
của từng giáo viên và mọi hoạt động của nhà trường đề ra. mà chủ yếu là việc dạy
tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số.


- Kết hợp với cha mẹ học sinh tận dụng nguồn nguyên vật liệu sẵn có của địa
phương như: vỏ ốc núi, vỏ trứng gà- vịt, nan tre- nứa, quả cầu lông, vỏ ống cầu
lông, vỏ hộp các loại nước giải khát, các hộp xốp, vỏ hộp thuốc, vỏ hộp dầu rửa
bát… làm đồ dùng có ghi tên đồ vật tương ứng giúp trẻ phát triển tiếng Việt.
- Tuyên truyền tác dụng của việc tổ chức dạy tiếng Việt cho trẻ. Để đông đảo phụ
huynh hưởng ứng và ủng hộ nhiệt tình, trong vấn đề tạo dựng cảnh quan môi
trường trong lớp đẹp, hấp dẫn đối với trẻ. Lôi cuốn trẻ hứng thú đến trường ngày
càng đông.
- Nhà trường chủ động tham mưu với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương, để
được quan tâm hỗ trợ ngày công, tiền công về việc xây dựng môi trường hoạt động
dạy tiếng Việt cho trẻ ngày thêm phong phú, hấp dẫn.
- Kiểm tra dự giờ hoạt động trong lớp của giáo viên, rút kinh nghiệm và xếp loại
hoạt động của viên kịp thời. Chính vì thế nhà trường đã có được một đội ngũ GV
có trình độ tay nghề khá tốt về tổ chức hoạt động trong lớp mà
còn nắm vững về mọi lĩnh vực.Từ đó giúp cho giáo viên thực hiện tốt quy chế
chuyên môn mà ngành đề ra.
Qua đó công tác tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số được tổ chức
dễ dàng thực hiện và đạt kết quả tốt.
2. Một số biện pháp tăng cường dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số:
* Biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ cần có 2 yếu tố cơ bản:
- Hiểu được ngôn ngữ mới.
- Biết lắng nghe và phát âm đúng tiếng Việt.
* Tiến hành tạo môi trường học tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số:


Phát triển nhận thức 1/165 = 0,6%

86/165 = 52,1%

78/165 = 45,5%

Phát triển TC-XH

0/165 = 0%

88/165 = 53,3%

77/165 = 36,4%

Phát triển thể chất

0/165 = 0%

65/165 = 39,4%

100/165 = 60,6%

Phát triển thẩm mỹ

0/165 = 0%

60/165 = 36,4%

105/165 = 63,4%

chuyện với cô, nghe hiểu lời nói của cô. Cuốn hút trẻ tham gia vào các hoạt động
phát triển ngôn ngữ thực sự hứng thú. Được thực hiện thông qua các hoạt động
Giáo Dục ở lớp và được tích hợp vào một số hoạt động khác trong chương trình
chăm sóc giáo dục trẻ. Từ những vốn kinh nghiệm tích luỹ ít ỏi về việc tăng cường
tiếng việt ấy tôi đã áp dụng và có hiệu quả cao, ở tại trường mình. Cuối năm học
này trẻ 95% trẻ dân tộc thiểu số nói được tiếng việt lưu loát, đủ câu, đủ ý.


Chỉ còn 0,5% số trẻ nói chưa đươc thành thạo nhưng cũng đã nghe hiểu được tiếng
Việt.Qua việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân
tộc thiểu số” vào trường mầm non Thượng Nung chúng tôi, tuy là một trường
100% trẻ dân tộc thiểu số.
Phụ huynh rất nhiệt tình trong công việc quyên góp phế liệu cho cô giáo làm đồ
dùng đồ chơi Một số phụ huynh rất thích con mình hiểu biết nhiều về ngôn ngữ
Tiếng việt đã tích cực hợp tác với giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc dạy tiếng
Việt cho con em mình đạt kết quả. Bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn. Cháu
thường dùng tiếng dân tộc, ít hiểu Tiếng việt nên dẫn đến cháu khó tiếp thu lời
hướng dẫn, chỉ bảo của cô giáo bằng Tiếng việt. Cha mẹ các cháu có một số không
biết chữ, ít quan tâm đến việc học hành của con cá. Trên đây là một vài kinh
nghiệm áp dụng trong quá trình chỉ đạo giáo viên dạy trẻ dân tộc thiểu số được
thực hiện và đạt hiệu quả cao, những biện pháp trên tuy không có gì mới lạ đối với
các bạn nhưng đối với trẻ dân tộc thiểu số thì vô cùng mới mẽ và có tác dụng. Tuy
nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý bổ sung của
chuyên môn Mầm non, Ban thi đua Phòng Giáo dục và Đào tạoVõ Nhai. Đề sáng
kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện và được vận dụng vào thực tế. Nhằm
ngày một nâng cao Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Tạo điều kiện thuận lợi cho
trẻ mầm non nghe hiểu và thực hiện tốt các hoạt động ở trường, tự tin khi bước vào
bậc học tiếp theo./.
2. Kiến nghị và ý kiến đề xuất:
* Kiến nghị:

Phó Hiệu trưởng
Lương Thị Yến

Điểm chấm của HĐTĐ trường

Ma Thị Thu Triều

Điểm chấm của HĐTĐ
phòng GD& ĐT Võ Nhai

TT

NỘI DUNG

1

PHỤ LỤC

2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang

1


3

I/ Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm.

9

2. Điều kiện giúp trẻ hiểu được thông tin của người dạy và
người học TV tốt nhất:

3

10

III/ Nhiệm vụ của sáng kiến kinh nghiệm.

3

11

1. Nhiệm vụ cơ bản của sáng kiên:

3

12

2. Các biện pháp thực tiễn:

4

13

IV/ Phương pháp nghiên cứu.

4


19

1. Cơ sở khoa học:

4

20

2. Lý luận thực tiễn:

5

21
22
23

II/ Thực trạng cac biện pháp tăng cường TV cho trẻ DT
thiểu số.
1. Đặc điểm chung:
a. Thuận lợi:

6
6
6


24

b. Khó khăn:


15

30

1. Xây dựng kế hoạch- tăng cường kiểm tra việc dạy TV:

16

31

2. Một số biện pháp biện pháp tăng cường TV cho trẻ DT
thiểu số:

16

32

IV/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

20

33

PHẦN III: KẾT LUẬN

20

34






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status