skkn một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4 5 tuổi - Pdf 49

MỤC LỤC
STT

NỘI DUNG

TRANG

1

1.Mở đầu

1

2

1.1 .Lý do chon đề tài

1

3

1.2.Mục đích nghiên cứu

2

4

1.3.Đối tượng nghiên cứu

2


10

2.4.Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm

16

11

3. Kết luận, kiến nghị

17

12

3.1.Kết luận

17

13

3.2. Kiến nghị

18

0


1.Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài:
Trong thực tế chúng ta đã biết nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiên

trường lớp mầm non vì vậy để chuẩn bị tốt khả năng sử dụng Tiếng Việt cho trẻ
giúp trẻ phát âm thành thạo lưu loát thì cần chuẩn bị tốt Tiếng Việt ban đầu cho
trẻ bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý của trẻ, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo ở trẻ bằng các
phương pháp giáo dục như: Qua trò chuyện, quan sát đàm thoại, kể chuyện, đọc
cho trẻ nghe, qua dạo chơi ngoài, qua chơi hoạt động góc, qua hoạt động vui
chơi mọi lúc mọi nơi giúp trẻ học tập có hiệu quả thông qua các thủ thuật lôi
cuốn, gây hứng thú trẻ, lôi cuốn trẻ đảm bảo cho trẻ tự tin không lo lắng khi học
Tiếng Việt.
1


Chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số là một vấn đề rất thiết
thực trong giảng dạy trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số hiện nay nói chung và
lớp mẫu giáo 4-5 tuổi (Thôn Muốt) Trường Mầm Non Cẩm Thành nói riêng.
Chính vì vậy muốn nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ cần phải chuẩn bị tốt
Tiếng Việt cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân
tộc thiểu số 4-5 tuổi có nguồn Tiếng Việt tốt để bước vào lớp lớn và các lớp học
sau này tôi đã lựa chọn đề tài: “ Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho
trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi”
1.2. Mục đích nghên cứu:
Bản thân nghiên cứu đề tài này với mục đích tăng cường Tiếng Việt cho trẻ
dân tộc thiểu số. Việc làm hết sức cần thiết, tưởng chừng như rất dễ nhưng thực
tế lại rất khó, mà nó đòi hỏi cả một quá trình, phải có sự kiên trì của cả giáo viên
và trẻ. Dạy trẻ làm quen với Tiếng Việt là dạy cái gì? dạy như thế nào? Trẻ làm
quen với Tiếng Việt với tư cách là bộ môn khoa học hay với tư cách là một công
cụ, một phương tiện giao tiếp. Cách trả lời những câu hỏi trên sẽ liên quan tới
việc lựa chọn nội dung, phương pháp cho trẻ dân tộc tiếp cận, làm quen dần với
Tiếng Việt.

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Ngày 2 tháng 6 năm 2016, Thủ tướng chính phủ phê duyệt quyết định số
1008/QĐ-TTg về đề ắn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu
học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025”. Thực
hiện Quyết định số 1682/QĐ-UBND ngày 23/5/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh
phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non,
học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến
2025”. Phòng Giáo dục đã tham mưu QĐ số 900 ngày 22 tháng 06 năm 2016
kèm theo kế hoạch thực hiện giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025” đến
từng địa phương để thực hiện và nhà trường đã cụ thể hóa QĐ theo giai đoạn và
từng năm học cụ thể tại nhà trường.
Qua quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số, cho thấy
việc làm quen Tiếng Việt và chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số có tác
động rất lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ sau này.
Việc học Tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào giáo
viên, vì trong mỗi chủ đề chủ điểm giáo viên sẽ dạy trẻ cái gì và cần dạy như thế
nào để trẻ dễ hiểu, dễ nhớ, hứng thú tham gia vào các hoạt động, phát huy được
tính tích cực chủ động sáng tạo ở trẻ.
Ngôn ngữ cho trẻ giao tiếp là một chủ thể tích cực, là tiền đề để trẻ tích cực
giao tiếp với bạn bè và chủ động trong giao tiếp. Trong cuộc sống hằng ngày,
con người sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại, thảo luận, trình bày hiểu
biết suy nghĩ, giải thích vấn đề nào đó trong cuộc sống như: Kể lại được sự việc,
câu chuyện đã đươc nghe, được chứng kiến, hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra.
Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của cô của những người của những người xung
quanh. Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo ngôn ngữ
Tiếng Việt.
Muốn phát triển kỹ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng Việt theo cô,
trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò
chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, qua chơi hoạt động góc, chơi

trường giao tiếp bằng Tiếng Việt.
Khi đến trường, trẻ em thích trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ và có thói
quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ trong hoạt động chơi, trò chuyện hàng ngày và
thậm chí ngay cả trong môi trường học tập. Do đó, trẻ em dân tộc thiểu số sẽ
không có vốn Tiếng Việt ban đầu cần thiết để học tập bằng Tiếng Việt ở trường
phổ thông nếu không được chuẩn bị Tiếng Việt
Tiếng Việt rất qua trọng đối với người dân Việt Nam. Đặc biệt đối với trẻ
dân tộc thiểu số. Song thực tế hiện nay đa số trẻ vúng sâu, vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số, trước khi đến trường chỉ sống trong gia đình, ở trong thôn bản nhỏ
trong môi trường tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu
ngữ, trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết Tiếng Việt và cơ sở giáo dục khác.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1.Thuận lợi
Được sự quan tâm của sở giáo dục và phòng giáo dục tổ chức lớp tập huấn
chuyên đề “ Hướng dẫn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số
trong cơ sở giáo dục mầm non”
Dưới sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường về chuyên môn,
xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non
tạo mọi điều kiện giúp tôi những tài liệu dạy học, nguyên vật liệu làm đồ dùng,
đồ chơi dạy học.
4


Được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương đến giáo dục mầm non đã từng
bước chăm lo cho cơ sở vật chất nhà trường, cho lớp học tai địa phương.
Được sự ủng hộ từ phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng của bậc học
mầm non nên luôn quan tâm đến việc chăm sóc giáo dục trẻ. Đã quan tâm trong
việc phối hợp với nhà trường, giáo viên để chăm sóc con em mình. Luôn giúp
đỡ tạo điều kiện để hỗ trợ cô giáo như: Ủng hộ cao các khoản đóng góp xã hội
hóa giáo dục; tham gia làm đồ chơi cùng; sưu tầm đóng góp phế liệu để làm đồ

tiếng mường. Trẻ giao tiếp bằng tiếng phổ thông chủ yếu bằng mấy câu xã giao
còn những điều cần diễn đạt hơi khó một chút trẻ lại sử dụng bằng tiếng địa
phương của mình.
5


Ví dụ: Điện sáng trẻ nói “điện cháy”. Thịt gà - trẻ gọi - “canh”. Con Trâutrẻ gọi con tru…. Khi nói không những trẻ sử dụng tiếng địa phương mà khi
phát âm trẻ còn phát âm ngọng, phát âm sai, ví dụ: Cô Thảo - trẻ gọi - Cô sảo;
Cô Thơm - trẻ gọi – Cô Sơm. Bên cạnh đó trong quá trình học tập vui chơi và
giao tiếp với mọi người trẻ thường nói lẫn dấu hỏi (?) sang dấu ngã (~), hoặc
dấu (~) sang dấu (?), chữ S thành chữ Th, ví dụ: Con thỏ - trẻ gọi - Con sỏ; Con
Lợn - trẻ gọi - Con cùn…vv. Có nhiều cháu muốn nói lên ý kiến của mình cháu
thường lúng túng trong khi diễn đạt ý của mình.
Đấy chỉ là một trong một trong số rất nhiều ví dụ mà tôi muốn đưa ra. Cụ
thể hơn tôi đã khảo sát thực trạng sử dụng Tiếng Việt và hiểu Tiếng Việt lớp tôi
phụ trách như sau:
Kết quả khảo sát
TT

1

2

3

Tiêu chí

Trẻ nói chưa chuẩn
Tiếng Việt
Trẻ có thể nói và

13

2 =15,4% 3= 23,1% 4=30,8% 4=30,8%

Qua thực trạng khảo sát trên bản thân tôi thấy ngôn ngữ có vai trò hết sức
quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ. Nó không chỉ ảnh hưởng trong
học tập về nhận thức cho trẻ mà còn ảnh hưởng trong quan hệ xã hội tác động
đến trẻ rất nhiều. Ngôn ngữ Tiếng Việt còn là phương tiện thể hiện tình cảm, thái
độ ước mơ và nhu cầu giao tiếp của trẻ. Nhu cầu giao tiếp, mong muốn được nói
chuyện với người xung quanh ở trẻ có từ rất sớm, vì vậy giáo viên phải khuyến
khích trẻ thực hiện những mong muốn đó. Chỉ có ở trường mầm non trẻ mới
được những chuẩn mực về ngôn ngữ mà cô giáo cũng là người trực tiếp cung
cấp các vốn từ và uốn nắn cho trẻ chuẩn mực trong phát âm Tiếng Việt.
Để khắc phục vấn đề còn vướng mắc trong thực hiện kỹ năng nói đúng
Tiếng Việt trong hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn tôi đã mạnh dạn trao đổi cùng
các bạn đồng nghiệp một số nội dung, phương pháp nói đúng Tiếng Việt cho trẻ.
6


2.3. Các biện pháp thực hiện.
2.3.1. Biện pháp 1: Xác định nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân
tộc thiểu số.
Qua nghiên cứu bản thân tôi đã căn cứ vào nội dung giáo giục phát triển ngôn
ngữ trong chương trình GDMN Nội dung cụ thể theo độ tuổi trong chương trình
GDMN và tùy thuộc vào khả năng cụ thể của trẻ lớp tôi đang trực tiếp phụ trách.
Tôi dựa vào chuyên đề hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục tăng
cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số. Tôi luôn chú ý đến khả
năng nghe nói Tiếng Việt đối với nhóm lớp.
Khả năng nghe của trẻ.
Nghe các từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động các từ

2.3.2. Biện pháp 2: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bằng
cách trò chuyện với trẻ
Nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng nói đúng Tiếng
Việt cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, trẻ nói chưa chuẩn Tiếng Việt, diễn đạt câu còn
vụng về, thiếu ý để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp mẫu giáo lớn và các cấp học
được tốt. Là người giáo viên chủ nhiệm trực tiếp đứng lớp 4-5 tuổi tôi luôn trăn
trở suy nghĩ sau khi tìm hiểu thực trạng và trên cở sở lý thuyết tôi đã thử nghiệm
một số thực trạng trên như sau: Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ bằng cách trực
tiếp trò chuyện với trẻ để tạo cho trẻ sự gần gũi thân thiết. Thực tế cho ta thấy
rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy ngay từ những
buổi đầu trẻ đến lớp cô luôn ân cần gần gũi trò chuyện giao tiếp hỏi trẻ các câu
hỏi hàng ngày trẻ thường va chạm hoặc cho trẻ quan sát các hình ảnh, đồ dùng,
đồ chơi trong lớp để rèn Tiếng Việt cho trẻ. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp
thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại
nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn Tiếng Việt bằng phương
châm " Mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng Việt ở mọi
lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả,
Ví dụ: Giáo viên luôn vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chải tóc
cho trẻ và không quên kèm theo một số câu hỏi giao lưu như: Con mặc quần áo
đẹp quá. Con ăn cơm chưa? Ăn bao nhiêu cơm? Ăn với thức ăn gì? Con ăn có
ngon không? Hay tôi hỏi về gia đình trẻ: Nhà con có bao nhiêu người? Con có
em bé không? Mẹ con làm nghề gì?... Qua trò chuyện với trẻ như vậy. Giáo viên
nắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ để có biện pháp và giành nhiều thời
gian hơn giúp trẻ phát âm đúng, phát âm chuẩn Tiếng Việt. Giờ chơi tự do tôi
hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở các
góc, giáo viên cần dạy trẻ phát âm nhiều lần và cho trẻ chỉ phát hình ảnh có
trong tranh con vật, hoa, cây quả, các phương tiện giao thông…Trẻ đọc qua
nhiều lần như vậy. Từ đó trẻ dân tộc lớp tôi phụ trách, phát âm chuẩn hơn và
mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, biết chỉ cho bạn chưa. Tạo không
khí thân thiện, gần gũi giữa cô giáo và trẻ, vấn đề này đặc biệt cần thiết và

với trẻ mầm non. Văn học luôn gắn bó với trẻ qua các câu chuyện, bài thơ, qua
các thể loại như thơ ca hò vè, là món ăn tinh thần cho trẻ nó cũng như dòng sưa
mẹ để nuôi dưỡng và phát triển tâm hồn trẻ truyền cho các con vẻ đẹp truyền
thống của cha ông. Cho trẻ làm quen tác phẩm văn học góp phần giáo dục phát
triển toàn diện nhân cách trẻ. Đặc biệt nó gần gũi với trẻ thơ, từ thời thơ ấu trẻ
đã biết sống chan hòa, trong không khí đầy tình yêu thương của người lớn qua
rời u ầu ơ ngọt ngào của bà của mẹ ....Từ đó là cánh cửa mở ra chân trời nhận
thức cho trẻ. Từ đó trẻ được hình thành kinh nghiệm sống.
Trẻ hiểu được một số hiện tượng quy luật tự nhiên, mối quan hệ bên ngoài
của sự vật hiện tượng, hiểu được các mối quann hệ xã hội, gia đình, thông qua
tác phẩm văn học trẻ thấy được các mối quan hệ đa dạng phức tạp.
Luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng một
giọng nói lúc trầm lúc bổng để gây sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ, đã tạo
được tâm thế cho trẻ trước khi vào học tôi tiến hành đi vào giờ học chính bằng
ngôn ngữ giới thiệu hấp dẫn từ ngữ thật gần gũi, thật dễ hiểu đối với trẻ, giáo
viên đọc thơ hay kể chuyện với giọng thật truyền cảm, phối hợp các động tác
minh học phù hợp, để lôi cuốn trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu,
từng lời của cô, tiếp đến tôi giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn
gọn để giúp trẻ dễ hiểu, tôi tiến hành cho trẻ đọc thơ theo tôi từng câu, tôi luôn
đổi cách cho trẻ đọc thơ theo tổ, nhóm, lớp, cá nhân, hay bạn nam và bạn nữ thi
đua nhằm tạo khí thế cho trẻ tự nói chuyện tự hỏi nhau bằng Tiếng Việt.
Khi dạy thơ, kể chuyện, điều đầu tiên tôi chú ý đến đó là lựa chon nội dung
của câu chuyện và bài thơ phù hợp có nội dung gần gũi với tuổi thơ trẻ. Và đặc
biệt trẻ là người dân tộc nên khi tham gia vào hoạt động trẻ chưa hứng thú nếu
như nội dung xa lạ. Quá trình dạy bản thân đã nắm được tâm lý trẻ vì sự tập
trung chú ý của trẻ là rất ngắn nên bản thân luôn tạo ra tình huống vui vẻ thoải
mái lúc trầm lúc bổng tạo sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ.
9



Giờ kể chuyện để khắc sâu hơn về hình ảnh các nhân vật cô có thể cho trẻ
chơi trò chơi găn tên các nhân vật theo nội dung chuyện ở “Góc văn học kể
chuyện cùng bé yêu” . Đối với trẻ dân tộc đây là quá trình học bổ ích vì qua
hình ảnh sẽ khắc sâu được khả năng sử dụng Tiếng Việt qua hình ảnh.
Đây chính là biện pháp giúp trẻ dân tộc thiểu số học ngôn ngữ, nói tốt
Tiếng Việt và sử dụng tốt Tiếng Việt trong học tập cũng như cuộc sống. Bản
thân tôi thấy trước hết phải dạy trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông
qua môn văn học là hết sức cần thiết.
10


Hình ảnh trẻ chơi trò chơi gắn hình ảnh các nhân vật trong giờ kể chuyện

Quá trình cho trẻ làm quen tác phẩm văn học bản thân có thể nhận thấy rõ
về khả năng nói Tiếng Việt của trẻ và khả năng nói lưu loát của trẻ, không con
rụt rè tự tin hon trong học tập và giáo tiếp với cô giáo, bạn bè.
2.3.4. Biện pháp 4: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động
chơi ngoài trời.
Tôi thường tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động chơi dạo chơi ngoài trời
thăm quan trong sân trường và các khu vực gần trường trong giò chơi ngoài trời.
Tôi cho trẻ ôn lại kiến thức đã học qua các hoạt động quan sát có mục đích, qua
trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, qua các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng dao,
ca dao ....Trong hoạt động này giúp trẻ dân tộc thiểu số phát âm thành thạo hơn,
lưu loát hơn. Tôi thường tổ chức cho trẻ đi dạo chơi thăm quan tìm hiểu về thế
giới xung quanh trẻ.
Ví dụ : Thăm quan, quan sát các loại cây, hoa, các con vật, thăm quan các
lễ hội địa phương như lẽ hội khai hạ truyền thống của làng...
Qua các buổi dạo chơi ngoài trời tôi luôn tạo tình huống đưa ra các câu hỏi
để trò chuyện với trẻ, Trong quá trình trò chuyện tôi luôn chú ý sửa sai cho
những trẻ dân tộc chưa nói chuẩn. Tôi hỏi trẻ các con đang quan sát gi? Trẻ trả

địa phương, nơi được trưng bày các sản phẩm ở địa phương và bán hàng. Cô có
thể tổ chức cho trẻ đóng vai người bán hàng, người mua hàng.
Ở đây tôi thường tập cho trẻ phân loại các mặt hàng ở địa phương như Ngô,
Khoai, Sắn....Tập cho trẻ nói Tiếng Việt. Vì các loại thực phẩm này trẻ chỉ được
nói tiếng mẹ đẻ nên khi tham gia chơi co cháu nói “ Cô ơi bán cho cháu Buồng
12


Khậu, Củ Lang......Lúc đó tôi trực tiếp sử lại để trẻ nói đúng Tiếng Việt. Tôi
cảm thấy những lần chơi sau trẻ nói khả hẳn và không còn sử dụng tiếng địa
phương nhiều.

Hình ảnh trẻ chơi ở hoạt động góc trong lớp

Hình ảnh trẻ Trẻ chơi ở môi trường ngoài lớp học

Việc rèn luyện kỹ năng nói đúng tiếng phổ thông cho trẻ trong các nhà
trường Mầm non là hết sức quan trọng và cần thiết. Ở trường Mầm non nhiều
công tác giáo dục được tổ chức đúng đắn, nghiêm túc và khoa học trẻ được giao
13


tiếp trong các hoạt động chơi ngoài trời như dạo chơi, thăm qua...qua các hoạt
động này giúp trẻ ngày càng phát triển hoàn hảo hơn, cách phát âm bằng Tiếng
Việt của trẻ ngày càng chính xác hơn.
2.3.6. Biện pháp 6:Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc qua vui chơi
lúc mọi nơi.
Bản thân tôi nhận thấy thông qua chơi trẻ được vận dung, củng cố mở rộng
kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm sẵn có của bản thân, đồng thời trẻ được làm
quen bài mới hoặc ôn luyện, nghe, hiểu lời nói, nghe nhắc lại các âm, các tiếng

đúng”. Một trẻ được cô chỉ định lên gọi tên nói bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể
và nói tên. Cô có thể đổi trò chơi ngược lại bằng cách một trẻ được chỉ định lên
chỉ vào bộ phận hoạc đồ chơi bất kỳ trong lớp, các bạn trong lớp phải quan sát
kỹ và gọi tên ai gọi tên không đúng sẽ bị phạt nhảy lò cò hoăc hát.....ngoài ra cô
14


có thể tổ chức cho trẻ chơi một số các trò chơi dân gian như: Trò chơi Con Kiến,
Mèo đuổi Chuột, Rồng Rắn lên mây, Nu Na Nu Nống........

Hình ảnh trẻ nói nói Tiếng Việt thông qua hoạt động vui chơi ở mọi lúc mọi nơi.

2.3.7. Biện pháp 7: Kết hợp với phụ huynh để tăng cường Tiếng Việt cho
trẻ dân tộc thiểu số.
Sự phối kết hợp chặt chẽ giữ nhà trường và phụ huynh trong việc chuẩn bị
Tiếng Việt cho trẻ sẽ giúp trẻ thường xuyên giao tiếp bằng Tiếng Việt và có thêm
cơ hội sử dụng Tiếng Việt.
Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã giải thích cho phụ huynh nhận
thấy được sự cần thiết của Tiếng Việt đối với trẻ trong quá trình học tâp và giao
tiếp của trẻ hằng ngày ...Hợp tác trong việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ thường
xuyên ở nhà như: Phụ huynh dùng Tiếng Việt để trao đổi với con em mình nhiều
hơn, kèm cặp con em nhiều hơn trong môn học, Trao đổi với phụ huynh về tầm
quan trọng của Tiếng Việt. Khi nới tốt Tiếng Việt nhất định con của phụ huynh
tiếp thu bài một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm non và nhất là
trong các cấp học sau này.Từ những lời nói ấy đã thúc đẩy phụ huynh quan tâm
đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn Tiếng Việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn.
Cho nên trẻ đến trường mầm non hiện nay nói thạo, nói lưu loát ngôn ngữ Tiếng
Việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói, không còn trẻ nói câu
không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao lưu cùng cô giáo,
cùng bạn bè và mọi người xung quanh.

Qua một thời gian ngian nghiên cứu áp dụng vào thực hiện kết quả khào sát
cuối năm đã tăng lên rõ rệt. Trẻ dân tộc thiểu số lớp tội phụ trách hầu như đã sủ
dụng và giao lưu Tiếng Việt một cách lưu loát.
16


Kết quả khảo sát sau khi áp dụng sáng kiến
STT

Tiêu chí

Tổng
số
trẻ

kết quả khảo sát

1

Trẻ nói chưa chuẩn
Tiếng Việt

13

6 = 46,2% 6= 46,2% 1= 7,7%

2

Trẻ có thể nói và
nghe được các câu

hiện thông qua các hoạt động giáo dục ở lớp và được tích hợp vào một số hoạt
động khác trong chương trình chăm sóc giáo dục chăm sóc trẻ.
Giáo viên trường tôi đã thực hiện khá tốt những nội dung này nên trẻ dân
tộc thiểu số trường Mầm non Cẩm Thành chúng tôi đã nói Tiếng Việt khá tốt,
khả năng giao tiếp lưu loát.
2.4.4. Đối với nhà trường
Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ để bản thân tôi thực hiện sáng
kiến và mang lại kết quả cao cho học sinh dân tộc của trường trong quá trình
tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc nên kết quả tăng cường Tiếng Việt rất tốt,
khả năng giao tiếp giữ trẻ với cô, giữa trẻ với trẻ qua các hoạt động trong ngày
tăng lên rõ rệt so với kết quả đầu năm.
3. kết luận, kiến nghị
3.1.kết luận
Để đạt được kết quả cao trong việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 45 tuổi người dân tộc thiểu số phát âm tốt Tiếng Việt tại lớp mẫu giáo 4-5 tuổi
Muốt Trường mầm non Cẩm Thành – Cẩm Thủy tôi có một số kêt luận như sau:
Trước hết phải bám sát chuyên đề “ Hướng dẫn tăng cường Tiếng Việt cho
trẻ em người dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục mầm non” của năm học
2017-2018. và bám sát chương trình chăm sóc giáo dục trẻ nầm non.
17


Xác định nội dung hướng dẫn sử dụng Tiếng Việt cho trẻ mầm mầm non là
người dân tộc thiểu số.
Nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ lớp mình phụ trách.
Là người giáo viên phải luôn luôn tự học hỏi, tự nghiên cứu, tham gia học
tập để nâng cao trình độ chuyên môn, đồng thời luôn bám sát thực tế và nhu cầu
đổi mới của ngành học, kịp thời cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với
chương trình.
Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiếu sáng tạo khi truyền
đạt kiến thức cho trẻ



3.2.2. Đối với phòng giáo dục.
Mở thêm các lớp tập huấn chuyên đề về chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ vùng
dân tộc thiểu số.
Qua thực tế giảng dạy trẻ dân tộc việc giáo viên không phải là người dân
tộc không biết tiếng dân tộc gặp rất nhiều khó khăn trong công tác giảng dạy. Vì
vậy rất mong lãnh đạo cấp trên quan tâm tổ chức các lớp tập huấn về tăng cường
cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc, sắp xếp giáo viên là người địa phương, người
dân tộc về trường giảng dạy học sinh.
3.2.3. Đối với sở giáo dục.
Mở thêm các lớp tập huấn chuyên đề về chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ vùng
dân tộc thiểu số.
Cung cấp thêm các tài liệu làm nguồn phục vụ cho giáo viên trong công tác
dạy học sinh người dân tộc thiểu số.
Trên đây là một vài kinh nghiệm áp dụng trong lớp tôi là lớp dân tộc thiểu
số được thực hiện và đạt kết quả cao, những biện pháp trên tuy không có gì mới
lạ. Nhưng đối với trẻ dân tộc thiểu số thì vô cùng mới mẻ và có tác dụng. Tuy
nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý bổ sung của
hội đồng khoa học các cấp.
Cẩm Thành, ngày 20 tháng 03 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép của
người khác .
Người viết

Phạm Thị Thắng

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá
xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)

Một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
dân tộc 3-4 tuổi thông qua tác
phẩm văn học

Hội đồng khoa
học phòng
GD&ĐT huyện
Cẩm Thủy

Một số biện pháp tăng cường
Tiếng Việt cho trẻ dân tộc
thiểu số 4-5 tuổi

Hội đồng khoa
học phòng
GD&ĐT huyện
Cẩm Thủy

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc C)

…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..

22


Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ XẾP LOẠI CỦA
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN CẨM THỦY
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..

…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..
…………………………………………………………………………………..

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status