Một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi - Pdf 43

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một số biện pháp nâng cao tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi lớp ghép ....
Như chúng ta đã biết,Tăng cương tiếng việt cũng là một môn học hay là
một hoạt động học cũng đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của nền
văn minh nhân loại,đó chính là những thách thức đối với nền giáo dục.Khi nói
tới đều này ,chúng ta lại nghĩ đến những chồi non mà không ai hết ,chính là
những đứa trẻ đặt nền móng cho tương lai,hơn nữa căn cứ vào nhiệm vụ năm
học đó là : đổi mới phương pháp sáng tạo và hình thức dạy và học nhằm nâng
cao chất lượng học tập .Vì thế mà tôi lúc nào cũng băn khoăn suy nghĩ và luôn
mong muốn rằng làm sao dể dạy dổ các cháu có thể vươn cao hơn nữa ,ham
thích ,của mình ,những năng khiếu vốn có vào trong các hoạt động ở lơp để cháu
trở thành một người tốt ,một có ích cho xã hội.
Qua một thời gian giảng dạy ,tôi nhận thấy rằng đối với trẻ mẫu giáo nhất là
trẻ em 5 tuổi tất cả các hoạt động đều rất quan trọng ,hoạt động nào cũng đưa
kiến thức và tính giáo dục cao đến với trẻ.Nhưng ở lớp tôi,đa số các cháu đã là
trẻ 5 tuổi rất cần nâng cao hoạt động tăng cường tiếng việt,chính vì vậy tôi thấy
hoạt động này rất quan trọng đối với trẻ trước khi lên lớp 1,bậc tiểu học.ở trường
mẫu giáo phải trang bị cho trẻ biết đọc biết nói tiếng việt một cách thuận thục và
chính xác từ đó giúp trẻ tiền biết đọc tiền biết viết đó là một kỷ năng cần thiết để
chuẩn bị cho việc học ở lớp 1 một cách tự trin hơn. Vì vậy bản thân tôi muốn
góp một phần nào đó với đề tài “Tăng cường tiếng việt mà tôi đã được rút ở
trường qua quá trình học tập nghiên cứu và giảng dạy.
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài
người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm
ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết và là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi
văn hoá giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi
dân tộc. Các dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc
mình trong sinh hoạt cộng đồng của họ, đồng thời họ cũng sử dụng Tiếng Việt
để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn quốc, đồng thời được cung cấp
giáo dục, y tế, giải trí, thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

Với nội dung chỉ chú trọng tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi để chuẩn bị
vào lớp 1 như hiện nay theo tôi là muộn và chưa đủ so với yêu cầu thực tế trong
công tác giáo dục của nhà trường. Bởi trong quá trình học ở trường mầm non
trẻ chưa thành thạo tiếng việt nên việc nắm bắt kiến thức còn hạn chế, trẻ chưa
hiểu hết những yêu cầu hay những cuộc trò chuyện của cô nên chưa phát huy hết
tính tích cực, chủ động của trẻ. Trẻ nói không rõ ràng về ngôn ngữ và kĩ năng
diễn đạt ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ còn khó khăn..
Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa
là yêu cầu cấp thiết đặt hàng đầu cho giáo dục nhà trường nhằm đảm bảo nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện sứng tầm với quy mô phát triển của tỉnh. Tôi nhận
thấy cần có những biện pháp bổ sung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ độ tuổi 5 tuổi
là rất quan trọng và là một chia khóa để giúp trẻ thành thạo hơn với tiếng việt khi
bước vào lớp 1.
2.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Tôi quyết định lựa chọn đề tài này với mục đích tìm hiểu thêm của việc
phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi và áp dụng các giải pháp để nâng
cao vốn tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số tại nhà trường. Qua đó vận
dụng những kiến thức có sẵn và qua học hỏi để nghiên cứu và áp dụng các giải
pháp vào chăm sóc giáo dục phù hợp giúp trẻ phát triển một cách hài hoà và bắt
kịp với chất lượng giáo dục chung trong toàn tỉnh thành.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
2


Vận dụng những kiến thức kinh nghiệm đưa ra một số giải pháp giúp trẻ
được phát triển ngôn ngữ tiếng Việt một cách đầy đủ và mạch lạc nhất ngày khi
trẻ bước chân vào trường Mầm non và trẻ tự tin bày tỏ cảm súc, suy nghĩ của
mình với những người xunh quanh một cách tốt nhất. Tôi mong rằng trẻ thành
thạo tiếng Việt sớm hơn và từ đó trẻ tiếp nhận tri thức một cách dễ dàng và đầy

về chuyên môn,bồi dưỡng về chuyên đề .
Được sự quan tâm của lãnh đạo cấp trên đã tạo điều kiện cho tôi được tham
gia lớp tập huấn tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số do sở tổ chức năm
2012 khi tôi còn là một giáo viên hợp đồng của trường từ đó tôi đã tiếp thu và
thu thập những phương pháp mới từ để giúp tôi được nắm vững hơn phương
pháp giảng dạy,giúp cho tôi nâng cao chuyên đề ,phát huy được những gì toi tiếp
cận ,và tôi đã lên kế kế hoạch cụ thể gồm 5 bước:
+Bước1: tiếp thu lý thuyết lắng nghe và ghi chép đầy đủ nội dung
+Bước 2: tiếp thu và học hỏi các tiết dạy mẫu
+Bước : tiếp thu lý thuyết để nhận xét và rút kinh nghiệm
3


+Bước 4: thực hiện trên trẻ đầy đủ những nội dung và cũng như phương
pháp hợp với đặc điểm của nội dung .
+Bước 5: theo dõi và đánh giá kết quả trên trẻ .
-Tư duy của trẻ mầm non là tư duy trực quan hành động.Muốn cho trẻ học
tốt hoạt động tăng cường tiếng việt cần phải chuẩn bị cơ sở vật chất như đồ dùng
dạy học thật đầy đủ.Vì vậy ngay từ đầu năm tôi tuyên truyền với phụ huynh mua
thêm đồ dùng học tập cho trẻ học chữ cái : thẻ chữ cái ,vở tập tô ,bút chì ,ngoài
ra tôi còn in tranh ảnh trên máy phát cho mổi trẻ một bộ để về nhà học thêm
.Bên cạnh đó tôi còn thường làm các loại đồ ,đồ chơi như :
+Làm các đồ dùng,các con vật,hoa ,lá,quả..chữ phía dưới để cho trẻ chơi
các trò chơi với tăng cường tiếng việt .
+Sưu tầm các bài thơ,câu chuyện,các bài hát ...có chứa các từ để tăng
cường, cần học cho trẻ luyện đọc,luyện phát âm.
+Vẽ các bức tranh có từ ở dưới tranh phù hợp với bài dạy ,với chủ điểm .
+Tạo ra các bức tranh có từ còn thiếu chữ cái vừa học và cho trẻ chơi dán
chữ cái còn thiếu ở trong từ để được hoàn chỉnh hơn để tăng cường tiếng việt.
+Cho trẻ chơi trò chơi nối chữ cái giống với chữ cái có trong từ để đúng với


loài người, là công cụ hữu hiệu để trẻ bày tỏ những nguyện vọng, suy nghĩ và
đánh giá của bản thân về những hiện tượng xung quanh….
Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy và tư duy của con người có thể
hoạt động được cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ. Tư duy và ngôn
ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư
duy của con người không diễn ra được. Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui
chơi, những hoạt động chủ yếu ở trường mầm non. Giống như việc dạy trẻ tiếng
mẹ đẻ, việc phát triển ngôn ngữ thứ hai cho trẻ ở trường mầm non là thực sự là
mục tiêu “kép” giữa phát triển tri thức tư duy tiếng Việt và ngôn ngữ tiếng Việt
cho trẻ. Trẻ biết sử dụng tiếng Việt đồng thời sử dụng nó như một công cụ để
giao tiếp, vui chơi và học tập. Thông qua các hoạt động học tập, vui chơi và trò
chuyện ở mọi lúc mọi nơi mà dần dần trẻ thành thạo và ngược lại mọi hoạt động
ở trường cũng tạo cơ hội cho ngôn ngữ thứ hai của trẻ phát triển.
Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần
thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất. Song với trẻ dân tộc
thiểu số tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữ chính để trẻ học tập, vui chơi và
giao tiếp với xã hội. Do đó bắt buộc trẻ phải học ngôn ngữ thứ hai khi bước vào
ngưỡng cửa trường mầm non với một hình thức giống với tiếng mẹ đẻ, nhưng
với một môi trường hẹp hơn là lớp học, là cô giáo và các bạn. Trẻ học ngôn ngữ
tiếng Việt song song với việc học tri thức và bước đầu trẻ phải tập làm chủ ngôn
ngữ thứ 2 để đảm bảo làm chủ tri thức, tư duy của mình…
Ngôn ngữ có thể chuyển tải được tất cả các nội dung thông tin khác nhau
mà người nói có nhu cầu ( từ việc bộc lộ cảm xúc, thái độ… của người nói đến
người nghe; đến những nhu cầu về trao đổi kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên
hoặc truyền bá tri thức…. Mà trong đó ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của người dân tộc
thiểu số chỉ phục vụ được một phần nhỏ số người có nhu cầu trong cộng đồng.
Chỉ có ngôn ngữ tiếng Việt mới giúp họ hoà chung vào sự phát triển của xã hội.
Chương 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.1 Thuận lợi

chưa thông thạo tiếng phổ thông , cơ sở hạ tầng tại các thôn bản tuy đã được
quan tâm đầu tư xong vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt của người dân.
Nhà trường có 9 điểm trường với 235 học sinh trong đó trẻ dân tộc thiểu số
là 235 trẻ
Tổng số cán bộ giáo viên: - Ban giám hiệu 3 đồng chí
-

Giáo viên: 16 đồng chí

-

Nhân viên: 2 đồng chí.

*.Đặc điểm tình hình lớp học
- Tổng số học sinh: 21 cháu trong đó 5 tuổi 6 cháu và 3-4 tuổi là 15 cháu
- 100% học sinh là người dân tộc Pa cô
- Trong đó Nam: 9 ; Nữ: 12
- Tổng số giáo viên: 2 cô
- Trình độ chuyên môn: Đại học 1; Cao đẳng 1
- Lớp thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non.
- Lớp có tương đối đầy đủ các đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học phục vụ
cho công tác giáo dục
- 100% học sinh trong lớplà dân tộc pa cô nên việc giao tiếp giữa cô và trẻ
còn bất đồng về ngôn ngữ khi mỗi lần cô đứng giảng một tiết dạy
- Có 60% trẻ mới bắt đầu ra lớp và cũng là lúc trẻ bắt đầu làm quen với
ngôn ngữ tiếng Việt.
- Nhiều phụ huynh chưa thành thạo tiếng phổ thông và chưa chú trọng vào
việc dạy tiếng phổ thông cho trẻ tại gia đình.
- Đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ chưa
phong phú đa dạng, chưa có sự đầu tư và chưa có sự sáng tạo.

*. Giải pháp1: Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu – thực
hành.
+ Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.
Bước vào ngưỡng cửa trường mẫu giáo trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ
thứ hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt, tiếp
thu kiến thức bằng tiếng Việt. Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều
thật khó đối với trẻ. Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển
khả năng nghe hiểu lời nói của cô.
Với mục đích trẻ trẻ hiểu ghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt. Yêu
cầu đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà
không hiểu nghĩa. Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành
động với đồ vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu
nhất giúp trẻ một phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề.
Ví dụ: Trẻ làm quen với tên gọi các bạn: đây là bạn Mai chi, đây là bạn Mai
Trang… cô dắt trẻ lên và giới thiệu cho các bạn nghe, lần lượt các bạn trong lớp.
Cho trẻ làm quen với tên gọi và đồ dùng đồ chơi ở các góc trong lớp học: Đây là
viên gạch, đây là quả táo…Khi cô giới thiệu cho trẻ nghe cô hỏi lại để kiểm tra đối
với các trẻ. Cô giới thiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể : đứng lên, ngồi
7


xuống, đi ra ngoài… kết hợp sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ và câu,
nhất là những từ trừu tượng, khó hiểu. Tôi thường xuyên dùng những từ ngữ nhẹ
nhàng để khen ngợi trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe
cô nói.
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗi
được vấn đề hơn:
Vi dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là
con gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó
trẻ tự trả lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật. Vì vậy khi cho trẻ

thích thú của trẻ đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học.
Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giao
tiếp cùng trẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung
cô cần truyền đạt. Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng,
mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng.
Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ.
8


Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ,
ca dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội
dung.
Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp,
chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm. Đặc biệt khi lựa chọn
đề tài này cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo
tính hiệu quả phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền.
+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm
giúp trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không
gượng ép. Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách
riêng trong học tập và sử dụng tiếng Việt. Phong cách riêng chính là nền tảng của
chất lượng và hiệu quả học tập tiếng Việt cho trẻ em. Nắm bắt được đặc điểm này
tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin
đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng
chủ điểm.
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
-Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to. Để 3 cái
hộp rỗng vào. Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác. Cô nói
với Trẻ: “Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé. Để cho tàu ra khơi, cần có gió
đẩy thuyền đi. Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!”. Điều quan trọng là theo dõi

đó. Sau đó, đề nghị trẻ tìm vật cần thiết qua cảm ứng: “Bàn tay con có đôi mắt
thần kì đó. Con hãy dùng tay lấy cho cô quả bóng xem nào!” (hoặc vật khác).
Cô hỏi trẻ về đồ vật trẻ lấy ra khỏi bao: “Đây là cái gì?”, “Có thể chơi bóng như
thế nào nhỉ?”.
- Các tình huống gắn liền với hoạt động trong ngày cũng là những cơ hội để
giáo viên giúp trẻ tăng cường tiếng Việt. Tôi giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ vựng
của mình và giúp trẻ phát triển khả năng nghe, phản xạ bằng cách yêu cầu trẻ
nêu tên tất cả những đồ vật mà trẻ biết bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên
cô, tên các đồ dùng đồ chơi.
Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng sung quanh để trò chuyện và
mở rộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi khác
thường chẳng hạn: Cây đào sân trường ra hoa, trời mưa rất to, bạn Lan có váy
mới…
*Giải pháp2: Ttrực quan hành động.
Phương pháp này rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn ngữ mới
(ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới một cách dễ
dàng và tự nhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung hay căng thẳng. Phương
pháp này được áp dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều hình thức khác nhau. Với
phương pháp này, người học được sử dụng tích cực các giác quan và vận động
của cơ thể trong suốt quá trình tham gia vào hoạt động học tập và thực hành
ngôn ngữ mới. Các kỹ năng nghe - quan sát - phản hồi (bằng hành động của cơ
thể) được sử dụng hiệu quả trong quá trình học tập. Phương pháp này giúp giáo
viên và trẻ có thể áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động dạy và học
để đạt được những giờ học thực sự tích cực. Sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, bắt
mắt đó cũng là cách làm trẻ tò mò xem đó là gì, thích được tham gia vào hoạt
động với đồ dùng đó.
Ví dụ: Các giờ hoạt động khám phá môi trường, ngoài việc cung cấp kiến
thức cho trẻ cô cũng đồng thời tăng cường tiếng Việt cho trẻ một cách rất hiệu
quả. Thông qua những hình ảnh, mô hình, vật thật trẻ được sờ, được nếm, được
ngửi, được nghe cùng với những từ ngữ có chọn lọc cô cung cấp kiến thức và từ

những vi deo sôi động là cách lôi cuốn trẻ , trẻ có thể ngồi hàng giờ bên video,
tôi thường suy tầm những nội dung phù hợp với chủ đề cho trẻ khám phá:
Ví dụ: Những bài học luyện phát âm và hay từ mới cho trẻ, với chủ đề giáo
thông có những loại phương tiện giao thông hình ảnh kèm lời đọc loại phương
tiện đó , trẻ được chi giác và phát âm theo, hay chủ đề động vật cũng có rất
nhiều bài dạy trẻ phát âm tên và vận động động của các con vật.
*Giaỉ pháp 3: Hình thành sự tự tin cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
Tôi lựa chọn phương pháp này mong rằng trẻ sẽ mạnh dạn hơn, tự tin hơn
trong việc sử dụng tiếng việt trong giao tiếp cũng như trẻ dám thể hiện bày tỏ
quan điểm của mình về những gì xung quanh, qua đó giữa cô và trẻ có sự trao
đổi thường xuên các thông tin và đây cũng là cách giúp trẻ thực hành tiếng Việt
một cách có hiệu quả nhất.
Chắc chắn là trẻ cũng rất thích khi được cô giáo và bạn bè động viên.
Nhưng những lời động viên, khen ngợi đó sẽ có tác dụng lớn hơn khi chúng
được nói ra dựa trên những việc trẻ đã làm tốt hoặc đã nỗ lực để thực hiện. Một
khi trẻ đã đạt được một mục tiêu nào đó thì cô giáo khen ngợi chúng cả về thành
quả lẫn quá trình nỗ lực để đạt được thành quả đó.
Ví dụ: Sau khi trẻ nặn được một quả cam cô nói với trẻ rằng “ Con nặn đẹp
rồi con hãy vuốt cho quả mịn hơn nữa đi” hoặc khi trẻ đọc thơ cô khen trẻ và
khuyết khích các bạn động viên trẻ. Cô chú ý động viên khen ngợi trẻ kịp thời
và hướng cho trẻ đến với sự chính xác của vần đề.
Ví dụ: Khi cô hỏi trẻ màu sắc của bông hoa hồng màu đỏ “ Bông hoa có
màu gì?” nếu trẻ trả lời màu xanh tôi thường cho trẻ khác nhận xét và cô khẳng
định lại và khuyến khích trẻ trả lời lại cho thật chính xác và cũng không quên
động viên trẻ tạo tâm lý thoải mãi ngay cả khi trẻ biết mình trả lời sai.

11


Tuy nhiên, cần phải chọn thời gian thích hợp để trẻ học làm những việc này.

trường cùng cô và các bạn trẻ biết chia sẻ bày tỏ và phối kết hợp cùng hoạt động
vui chơi, cô tạo các hoạt động cho cô và trẻ cùng hoạt động: cùng chơi đùa, cùng
ăn uống, cùng trò chuyện với sự thân thiện và tôn trọng trong một môi trường an
toàn và vui vẻ.
Ví dụ: Cô luôn coi những đứa trẻ là bạn trong lúc chơi, đặc biệt trong giờ
chơi hoạt động góc, trẻ phải có tâm lý được thoải mái khi chơi và phối hợp cùng
cô.
- Giúp trẻ biết các bầy tỏ nhu cầu:
Cô giáo luôn gần gũi với trẻ và cần kiên nhẫn chờ đợi, khích lệ trẻ bầy tỏ
nhu cầu thay vì phỏng đoán và đáp ứng ngay. Điều này sẽ giúp trẻ từ từ trở nên
một chủ thể sáng tạo, biết tự quyết định, chọn lựa thay vì chỉ có những phản ứng
máy móc, tự động, chỉ biết nhắc lại.

12


Ví dụ: Cô luôn chú ý đến những thái độ khác biệt của trẻ và gợi hỏi: con
cần gì nào, con thích gì, con đang tìm gì vậy, con cần cô giúp gì không? nhiều
trẻ chưa thể hiện mong muốn nhu cầu của mình tôi thường hỏi những trẻ khá
hơn “ Bạn muốn gì vậy con” trẻ tự hỏi bạn và đưa ra yêu cầu giúp bạn từ đó tôi
cho trẻ nhắc lại mong muốn của mình, đây là một hình thức rất cần thiết vì trẻ
biết phải đưa ra những mong muốn bằng tiếng Việt thì mới có thể chủ động
trong những lần sau
- Giúp trẻ tham gia các hoạt động Tâm vận Động:
Trong một ngày tôi luôn quan tâm đến nội dung hoạt động ngoài trời đây là
khoảng thời gian trẻ sẽ vừa chơi vừa học, bằng những hoạt động vui thú như leo
trèo, chạy nhảy vui chơi cùng cô và các bạn… trẻ được reo vui hò hét một cách
thoải mái. Tôi luôn bày các trò chơi cho trẻ cùng tham gia bằng những hình thức
đơn giản nhưng trẻ lại được chơi và trải nghiệm những từ ngữ tiếng Việt mới.
Ví dụ: Với trò các trò chơi dấu dép cô cho trẻ đi tìm và chỉ hoặc nói địa

* Giải pháp 4: phối kết hợp với phụ huynh.
13


Đây là nội dung tôi luôn chú trọng bởi dù ít dù nhiều phụ huynh nào cũng
muốn con em mình học hành tiến bộ. Đối với những trẻ nhỏ ở nhà chưa biết hát
biết múa bằng tiếng Việt nhưng sau một thời gian đến lớp trẻ biết hát, đọc thơ và
kể lại chuyện cho bố mẹ nghe về những bài học ở lớp bằng tiếng phổ thông. Từ
đó giáo viên luôn nhận được sự phối kết hợp nhiệt tình của phụ huynh. Tôi
thường xuyên chao đổi với phụ huynh về tình hình học tập của trẻ, đặc biệt chao
đổi về khả năng nói tiếng Việt của trẻ, và yêu cầu phụ huynh dạy trẻ thêm tiếng
Việt ở nhà:
Vì dụ: Tôi hướng dẫn cho phụ huynh khi ăn cơm anh chị hãy chỉ cho các
cháu biết những món ăn trong gia đình, khi tắm cho cháu chỉ cho các cháu các
bộ phận trên cơ thể, khi trẻ đi học về nhắc con chào ông bà….
Tuy trẻ đến lớp với cô hàng ngày nhưng cô không thể tập chung và mỗi cá
nhân và hiểu trẻ bằng bố mẹ. Vì vậy phối hợp với gia đình trong việc cung cấp
vốn tiếng việt cho trẻ lại càng tốt hơn. Qua các cuộc họp phụ huynh giáo viên
thông báo kết quả học của mỗi cháu cho phụ huynh nắm và đặc biệt không quên
cho phụ huynh biết khả năng tiếp thu kiến thức bài học bằng ngôn ngữ Tiếng
việt của mỗi cháu ra sao và từ đó thống nhất với phụ huynh xây dựng nội quy
của trường mầm non là “Tất cả mọi người khi đến trường, lớp đều phải nói bằng
Tiếng việt” và nhà trường rất mong phụ huynh hợp tác trong việc cung cấp
Tiếng việt cho trẻ thường xuyên ở nhà.
Ví dụ: Khi phụ đón trẻ cô chao đổi về nội dung bài học và gợi ý cho bố mẹ
về kiểm tra trẻ: Hôm nay cháu học làm quen với các con vật, anh chị hãy về nhà
hỏi cháu bằng tiếng Mông và cho cháu dịch tiếng Việt xem cháu biết nhiều
không nhé, yêu cầu phụ huynh dạy thêm cho trẻ...Từ những lời nói ấy đã thúc
đẩy phụ huynh quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng việt
ở nhà cho trẻ nhiều hơn. Cho nên trẻ trong lớp tôi có nhiều cháu hiện giờ nói

nghiệm như sau:
- Tìm hiểu kỹ đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi sau đó đưa ra
các giải pháp phù hợp với trẻ như: dạy cho trẻ nghe hiểu ngôn ngữ tiếng Việt
trước khi cho trẻ học nói tiếng Việt, dạy tiếng Việt cho trẻ thông qua các tình
huống thực tế trong các hoạt động học và sinh hoạt vui chơi hàng ngày của trẻ
chú trọng đến việc hình thành sự tự tin trong giao tiếp cho trẻ.
- Khi dạy trẻ cần kết hợp các biện pháp chỉnh sửa uốn nắn.
- Sử dụng các đồ dùng trực quan một cách sinh động phù hợp nhằm gây
hứng thú cho trẻ luôn hướng trẻ vào những từ mới.
- Đàm thoại lựa chọn những câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu giúp trẻ hiểu từ và
thực hành từ ngữ hiệu quả nhất.
- Giáo viên nghiêm túc trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới.
- Tôn trọng, lắng nghe và không ngừng học tập đồng nghiệp.
- Giáo viên phải không ngừng tìm tòi, sưu tầm, đầu tư, bổ sung các đồ
dùng dạy học cho phong phú về chủng loại đưa vào giảng dạy.
3.3.2. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm.
Bằng sự sáng tạo kết hợp với việc sử dụng hợp lý nhuần nhuyễn các biện
pháp trong quá trình giảng dạy và cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ đã mang lại
kết quả tương đối khả quan. Trẻ được học ngôn ngữ thứ hai một cách nhẹ nhàng
đặc biệt là những giờ học lại rất gần gũi với trẻ. Giúp trẻ nắm bắt kiến thức một
cách tốt hơn, trẻ hăng hái tham gia vào các hoạt động học và vui chơi, trẻ tự tin
hơn khi chao đổi trò chuyện cùng cô bằng tiếng Việt
Trẻ có nhiều cơ hội được học tiếng Việt với nhiều hình thức và tình huống
khác nhau góp phần phát triển ngôn ngữ thứ hai, hình thành sự tự tin, tính sáng
tạo, nhân cách cho trẻ.
Giúp giáo viên biết lựa chọn những biện pháp để tăng cường tiếng Việt
cho trẻ một cách hiệu quả nhất.
- Đề tài đã được nghiên cứu và ứng dụng và có hiệu quả tại lớp mẫu giáo
lớn 5 tuổi lớp ghép ... trong Trường mầm non ... trong năm học 2016 – 2017.
- Có khả năng ứng dụng đối với tất cả các lớp mẫu giáo lớn 5 tuổi

b. Nhiệm vụ nghiên cứu
3. đối tượng nghiên cứu.
4. Đối tượng khảo sát và thực nghiệm.
5. Phương pháp nghiên cứu
6.Phạm vi và kế hoạch nghi ên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lí luận
Chương 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.1 Thuận lợi
2.2 Khó khăn
Chương 3: Các giải pháp và kết quả thực hiện

2
2
3
3
3
3
4
5
5
6
6
7
7

3.1 Các giải pháp

7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status