Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ- TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG
I. Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài
Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ Dân tộc thiểu số là một việc làm hết sức
cần thiết, tưởng chừng như rất dễ nhưng thực tế lại rất khó, mà nó đòi hỏi cả một
quá trình, phải có sự kiên trì của cả giáo viên và trẻ. Dạy trẻ làm quen với tiếng
Việt là dạy cái gì, dạy như thế nào? Trẻ làm quen với tiếng việt với tư cách là bộ
môn khoa học hay với tư cách là một công cụ, một phương tiện giao tiếp. Cách
trả lời những câu hỏi trên sẽ liên quan tới việc lựa chọn nội dung, phương pháp
cho trẻ dân tộc tiếp cận và làm quen với tiếng Việt.
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta sử dụng lời nói để trò chuyện,
đàm thoại, thảo luận, trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, giải thích một vấn đề
nào đó trong cuộc sống như: Kể lại được sự việc, câu chuyện đã được nghe,
được chứng kiến, hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra. Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói
của cô của những người xung quanh. Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu
biết của mình theo ngôn ngữ Tiếng việt. Muốn phát triển ở trẻ kỹ năng, hiểu và
nói được ngôn ngữ Tiếng việt theo cô, theo tôi trước hết phải cuốn hút trẻ tham
gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện,
đọc cho trẻ nghe, cho trẻ làm quen với chữ cái và thông qua các môn học khác,
hoặc ở mọi lúc mọi nơi... Là vô cùng quan trọng nhưng hình thành như thế nào
đây mới thật là điều không phải dễ
Bản thân tôi là một giáo viên chủ nhiệm lớp với 100% trẻ là người dân
tộc thiểu số. Hầu hết trẻ dân tộc Ê đê đến trường đều nói bằng tiếng mẹ đẻ,
không nghe được tiếng Việt, bố mẹ trẻ lại ít quan tâm đến việc động viên trẻ đến
lớp, còn trẻ chưa có ý thức về vấn đề nề nếp trong lớp học, trẻ không chịu đến
lớp để học. Là người giáo viên tôi đã trăn trở và xây dựng kế hoạch từ đầu năm
thành thạo và tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh.
Nhiệm vụ của đề tài: Vì trẻ là người đồng bào điều kiện tiếp súc với môi
trường xung quanh, xã hội còn hạn chế nên việc học đến với trẻ cũng thật là ngỡ
ngàng, giáo viên lại không hiểu tiếng của trẻ vì vậy mà đòi hỏi giáo viên phải
làm sao để tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số
2
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
4. Giới hạn của đề tài
Học sinh lớp lá 2 phân hiệu Buôn Cuê Trường mầm non Hoa Hồng
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra
Phương pháp trực quan
Phương pháp thực tiễn
Phương pháp thực hành, trải nghiệm
Phương pháp kiểm tra, đánh giá
II. Phần nội dung:
1. Cơ sở lí luận
Trong thực tế chúng ta đã biết, nhiệm vụ giáo dục Mầm non là khâu đầu
tiên của hệ thống giáo dục Quốc dân. Giáo viên Mầm non được xem là người
thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã
hội chủ nghĩa, tuỳ theo mỗi độ tuổi mà giáo dục khác nhau. Tuổi mầm non trẻ
giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ
riêng của dân tộc mình. Chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ
không thể đạt được kết quả như mong muốn. Vì vậy là một giáo viên chủ nhiệm
lớp với 100% các cháu là dân tộc thiểu số. Tôi nhận thấy cần có những biện
pháp bổ xung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ tuổi mầm non để cha mẹ
học sinh và cộng đồng tin tưởng, đồng thuận ủng hộ.
2. Thực trạng
Lớp lá 2: Tổng số học sinh 25. Nữ 16. DT: 25. Nữ DT: 16
- Giáo viên chủ nhiệm: 2 giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Trong năm qua việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ vẫn được tổ chức tuy
nhiên chưa thực sự lôi cuốn trẻ, chưa có sự đầu tư vì vậy kết quả đạt được trên
trẻ chưa cao
* Thuận lợi:
Lớp lá 2 thuộc phân hiệu Buôn Cuê có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết
bị đồ dùng dạy học phục vụ cho việc dạy và học và các hoạt động khác.
Được nhà trường quan tâm phân công hai cô đều là giáo viên trẻ trong
đó một cô là người dân tộc ở tại chỗ, cả hai cô đều có phẩm chất nghề nghiệp, có
trình độ chuyên môn tiếp thu nhanh với những đổi mới trong chương trình giáo
4
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
dục mầm non mới.
* Khó khăn
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
Giáo viên nắm được phương pháp, có nhiều kinh nghiệm hơn tuy nhiên
sự sáng tạo và linh hoạt trong quá trình tổ chức chưa cao vì vậy mà chất lượng
mà nói được tiếng việt chưa hiệu quả vì thế chưa lôi cuốn và thu hút được trẻ.
Giáo viên tổ chức hoạt động còn cứng chưa có nhiều biện pháp mới lạ
nên chưa thu hút được trẻ, trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn và tự tin tham gia
hoạt động.
Giáo viên chưa thường xuyên cho trẻ tiếp xúc với Tiếng Việt (Trong
các hoạt động mọi lúc mọi nơi) mà đa phần trẻ được tiếp xúc với Tiếng Việt
thông qua các môn học có các từ khó để phát triển ngôn ngữ tiếng việt cho trẻ.
Chính vì nhìn thấy những điều bất cập trong việc tổ chức cho trẻ làm
quen với tiếng việt, bản thân tôi đã mạnh dạn tìm tòi, học hỏi để tìm cho mình
những biện pháp có thể áp dụng trong quá trình thực hiện cho trẻ nói tiếng việt
nhằm tăng cường tiếng việt cho trẻ.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp.
a. Mục tiêu của giải pháp
Những giải pháp, biện pháp nêu ra trong đề tài nhằm mục tiêu giúp trẻ
tăng cường Tiếng Việt, phát huy hết được tính tích cực chủ động trong giao tiếp
bằng tiếng việt với mọi người xung quanh.
Giáo viên trau dồi thêm kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
Từ việc khảo sát khả năng nói tiếng việt của trẻ lớp lá 2 phân hiệu Buôn
Cuê trường Mầm non Hoa Hồng tôi đã tìm ra những biện pháp nhằm tăng cường
tiếng việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số.
Biện pháp 1: Bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân
Để bản thân nắm được mục đíc ý nghĩa, yêu cầu, nội dung, phương
pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ tôi cần phải có trách nhiệm gần gũi
chuyện, đóng vai, đối với mỗi câu chuyện, làm các đồ chơi minh hoạ, đơn giản
tượng trương cho các nhân vật chính, sử dụng các nhân vật có sẵn để làm đồ
dùng minh hoạ. Hoặc trẻ học tiếng Việt thông qua việc dạy trẻ nhận biết và phát
âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt. Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ
nhận biết và phát âm đúng chữ cái. Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen
với chữ cái là cốt lõi của việc làm quen với Tiếng việt có nghĩa là việc cho trẻ
làm quen với chữ cái chưa phải là tất cả những nội dung công việc giúp trẻ làm
quen với tiếng Việt. Cách gọi làm quen với Tiếng việt thường gợi ra một phạm
vi nội dung rộng rãi hơn so với cách gọi làm quen với chữ cái. Do đó có thể thấy
7
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
nội dung dạy trẻ làm quen với tiếng Việt không chỉ là dạy trẻ phát âm, dạy trẻ
tập tô 29 chữ cái mà còn dạy trẻ đọc đúng các chữ cái, các từ trong tranh, hiểu
được nội dung của từ và biết dùng từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy
trước hết ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong Tiếng việt.
Có một số ít trẻ nói được tiếng Việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ
ngữ của Tiếng việt.Vì vậy việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết
chính xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm
được chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái.
Ví dụ : Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ e – ê chẳng hạn: Cô cho trẻ xem
tranh " Mẹ bế bé" cho trẻ đọc từ : Mẹ bế bé. Trẻ nhận biết trong từ Mẹ bế bé có
bao nhiêu tiếng ? Có mấy con chữ cái ? Rồi cô ghép thẻ chữ rời cho cháu nhận
biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát âm lại những chữ đó. Còn lại cô giới
nói từ đứng lên, tương tự như vậy với các từ khác. Với cách làm này, trẻ vừa
hiểu được nghĩa của từ vừa nói được chính xác từ mới. Mỗi ngày chỉ hcj từ 1 - 2
từ các từ nên chọn theo chủ đề trẻ sẽ dễ nhớ hơn. Với cách sử dụng vận động cơ
thể như vậy, mặc dù không có đồ dùng, đồ chơi nhưng vẫn cung cấp cho trẻ một
số vốn từ và cấu trúc ngữ pháp nhất định giúp trẻ nghe hiểu tiếng Việt dễ dàng
hơn.
+ Phương pháp trực quan hành động với đồ vật: Khi học từ đồ vật giáo
viên chỉ vào từng đồ vật và nói tên. Ví dụ cô chỉ vào cái thìa và nói: Cái thìa, trẻ
nhắc lại từ: Cái thìa. Tương tự như vậy với các đồ vật khác, mỗi từ nhắc lại 3 - 4
lần để trẻ phát âm và ghi nhớ. Sau khi trẻ đã nắm vững các từ mới thì dạy co trẻ
nói cả câu: "Đây là cái thìa", "Đây là cái đĩa". Tiếp đó dạy trẻ đặt câu hỏi: Đây
là cái gì?, chia nhóm 2 - 3 trẻ để thực hành, một trẻ đặt câu hỏi, một trẻ trả lời
sau đó đổi vai cho nhau. Với hình thức này sẽ giúp trẻ học được các danh từ
theo các chủ đề, các từ đã học được sử dụng thường xuyên cùng với những từ
mới thì sẽ làm cho vốn từ vựng của trẻ thêm phong phú.
+ Phương pháp trực quan hành động với tranh ảnh: Phương pháp này
được áp dụng sau khi trẻ đã nắm được các từ mới của phần trực quan hành động
với cơ thể và trực quan hành động với đồ vật. Hình thức này có 3 cách thể hiện:
Sử dụng bức tranh có sẵn:
Khi trẻ đã có một số lượng từ vựng nhất định cơ thể sử dụng tranh ảnh để
dạy từ và câu cho trẻ. Giáo viên cho trẻ xem tranh, giới thiệu các từ mới với trẻ,
chia trẻ thành từng nhóm, cho trẻ kể về bức tranh và đặt câu hỏi cho bạn khác,
9
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
Có thể dịch một số bài thơ, bài hát có nội dung gần gũi sang tiếng dân tộc
thiểu số cho trẻ đọc, hát. Sau đó cho trẻ đọc, hát lại bằng tiếng Việt.
* Phương pháp sử dụng trò chơi
Trẻ mầm non học thông qua chơi vì trò chơi luôn mang lại hứng thú cho
trẻ nên việc tổ chức cho trẻ chơi trò chơi để học tiếng Việt là rất cần thiết. Giáo
viên tổ chức các trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi âm nhạc...ví dụ khi
chơi trò chơi "Chim bay, cò bay" trẻ sẽ học được các từ chỉ các con vật biết bay
và các từ chỉ con vật không thể bay được.
* Phương pháp cho trẻ làm quen với đọc, viết
Cho trẻ làm quen với đọc: Giáo viên tạo cho trẻ đọc theo cách của mình,
cho trẻ xem tranh và gợi ý để trẻ kể lại bằng chính ngôn ngữ của trẻ. Trẻ kể sáng
tạo theo ý của trẻ.
Cho trẻ làm quen với viết: Cần dành nhiều thời gian để luyện cơ ngón tay
cho trẻ thông qua vẽ, xâu hạt...cho trẻ thường xuyên được viết bằng phấn trên
nền nhà. Khuyến khích trẻ viết những gì trẻ thích và sau đó hỏi trẻ là viết cái gì?
Làm như vậy vừa khuyến khích trẻ viết vừa khuyến khích trẻ đọc lại (Thực chất
là luyện kỹ năng diễn đạt suy nghĩ của bản thân).
Biện pháp 3. Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua việc làm quen với
chữ cái
Sau khi giúp trẻ làm quen và nắm được 29 chữ cái trong Tiếng việt tôi
tiến hành cho trẻ tham gia các trò chơi với chữ cái, cho trẻ tập tô chữ cái giúp trẻ
dần dần nắm được toàn bộ hệ thống chữ cái qui định trong chương trình, đồng
nhiều chữ l, m, n thì chiến thắng và được tuyên dương. Tôi còn cho trẻ nhận biết
và phát âm chữ cái qua nhiều trò chơi khác như "Nối chữ cái với từ có chứa chữ
cái đó"… "Dạy trẻ phát âm tiếng Việt thông qua trò chơi tìm chữ cái theo yêu
cầu của cô"
Tăng cường tiếng Việt thông qua trò chơi gắn chữ cái trên đồ dùng, đồ
chơi, " Xếp chữ cái bằng hột hạt". "Xếp các nét cơ bản tạo thành chữ cái"... Bên
cạnh đó tôi luôn tranh thủ thời gian tự làm thêm một số đồ dùng đồ chơi để cho
trẻ được thực hành trải nghiệm. Tôi thiết nghĩ trẻ được thực hành trải
nghiệm nhiều với đồ dùng đồ chơi sẽ giúp trẻ ghi nhớ chữ cái một cách sâu sắc
hơn, tập phát âm Tiếng việt một cách chuẩn hơn.Từ đó cũng góp phần không
nhỏ vào việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ. Qua một thời gian thực hiện lớp
12
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
tôi tiến bộ rõ rệt, cháu hứng thứ trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát
âm đúng chữ cái mà tôi đã dạy trẻ.
Biện pháp 4: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua môn văn học
Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ
Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy
trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông qua môn văn học là vô cùng cần
thiết.Trước khi vào dạy học thơ hay kể một câu chuyện nào đó, điều đầu tiên tôi
chú ý là lựa chọn bài thơ, câu chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để
cung cấp, vì trẻ dân tộc thiểu số rất hiếu động thời gian tập trung chú ý nghe cô
giảng rất ngắn, nắm được điểm yếu này của trẻ vùng dân tộc thiểu số, tôi luôn
Tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt
Giáo viên thường xuyên trò chuyện với trẻ thông qua các hoạt động ở mọi
lúc mọi nơi về những chủ đề gần gũi trong cuộc sống. Khuyến khích trẻ tham
gia trò chuyện với cô giáo và các bạn.
Mở rộng và tích cực hóa các thành phần giao tiếp như mời phụ huynh,
anh chị, những người biết tiếng Việt đến trò chuyện, giao tiếp với trẻ để tạo cơ
hội cho trẻ được nghe và nói.
Tổ chức các hoạt động có sử dụng văn hóa địa phương như: Kể chuyện
dân gian, đọc thơ, đồng giao, ca dao, hát dân ca, hò vè...bằng tiếng mẹ đẻ và
bằng tiếng Việt.
Tăng cường sử dụng các phương tiện hỗ trợ như băng, đĩa, tivi để trẻ
được nghe và phân biệt âm thanh từ các giọng nói khác nhau. Tăng cường các
hình thức như chơi trò chơi, văn nghệ, sinh hoạt tập thể để trẻ có nhiề cơ hội thể
hiện mình.
Tạo môi trường chữ viết trong lớp học
Tăng cường các phương tiện, đồ vật xuất hiện chữ như: Dán tên cho các
góc hoạt động, các kệ, giá để đồ chơi, đồ dùng, học liệu, các đồ vật, đồ chơi,
tranh ảnh, cây cảnh, trên các sản phẩm của trẻ, thẻ tên của trẻ, biểu bảng có chữ
(Danh sách trẻ, lịch sinh hoạt...), bảng chữ cái.
Tăng cường các hoạt động cho trẻ được tiếp xúc với chữ như "đọc" sách
truyện tranh, "đọc" họa báo, tạp chí, lamg bộ sưu tập chủ đề cùng cô.
Ngoài ra thực tế cho ta thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong
giao tiếp, vì vậy ngoài những biện pháp nêu trên áp dụng có hiệu quả, tôi tiến
hành cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ thông qua mọi lúc mọi nơi. Như chúng ta
đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi
14
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Xây dựng các góc hoạt động khác nhau trong lớp, có gắn các từ tiếng
Việt nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ được nhiều
hơn, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng hơn. Để trẻ học tiếng Việt thực sự
15
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
có hiệu quả, giúp trẻ tự khám phá và phát triển
Biện pháp 6: Kết hợp với phụ huynh
Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình, cộng đồng trong
việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ sẽ giúp trẻ được thường xuyên giao tiếp bằng
tiếng Việt và có thêm nhiều cơ hội để sử dụng tiếng Việt.
Trong một buổi học trẻ được tiếp xúc với cô giáo rất nhiều nhưng chúng
ta biết phối hợp với gia đình trong việc cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ lại càng
tốt hơn vì vậy tôi đã trao đổi với phụ huynh vào những lúc đón trẻ, trả trẻ hay
các ký họp phụ huynh tôi thông báo kết quả học của mỗi cháu cho phụ huynh
nắm và đặc biệt không quên cho phụ huynh biết khả năng tiếp thu kiến thức bài
học bằng ngôn ngữ Tiếng việt của mỗi cháu ra sao và từ đó thống nhất với phụ
huynh xây dựng nội quy của trường lớp mầm non là “Tất cả mọi người khi đến
trường, lớp đều phải nói bằng Tiếng việt” và nhà trường rất mong phụ huynh
hợp tác trong việc cung cấp Tiếng việt cho trẻ thường xuyên ở nhà như:
Phụ huynh dùng Tiếng việt để trao đổi với con em mình nhiều hơn, kèm cặp con
em nhiều hơn trong môn học chữ cái, trẻ nắm được chữ cái, thuộc chữ cái, viết
được chữ cái, phát âm đúng chữ cái và nhất là nói thạo Tiếng việt nhất định các
cháu sẽ tiếp thu bài một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm non và
Ngoài ra trong các ngày lễ lớn tôi mời phụ huynh đến dự các tiết chuyên
đề thao giảng, hội giảng để phụ huynh thấy được các phương pháp hình thức tổ
chức cho trẻ học tập và lồng ghép tăng cường tiếng Việt trong mỗi hoạt động.
Từ đó giúp phụ huynh có cách nghĩ tốt hơn về việc học tập của các cháu, nhất là
tăng cường tiếng Việt ở trường lớp Mầm non là như thế nào
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các biện pháp đưa ra tuy khác nhau về mặt nội dung và phương pháp
tuy nhiên đều có mối quan hệ mật thiết, khăng khít, hỗ trợ cho nhau nhằm tăng
cường khả năng nói tiếng việt cho trẻ.
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi
và hiệu quả sử dụng.
* Kết quả khảo nghiệm
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện các biện pháp đã thu được một kết
quả rất khả quan:
Về giáo viên:
Giúp giáo viên nhận thức đúng đắn hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ dân
17
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
tộc thiểu số bậc học mầm non.
Giáo viên nắm vững các phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt
động, tổ chức một cách linh hoạt sáng tạo nên được chuyên môn đánh giá cao.
Được nhà trường quan tâm hơn, tạo điều kiện đi học chuyên đề về tăng
cường tiếng Việt cho trẻ DTTS để học hỏi tại các trường bạn.
Phụ huynh dần hiểu ra đượctầm quan trọng của việc dạy trẻ học tiếng
Việt, các phương pháp học tập của chương trình giáo dục mầm non tuy đơn giản
như trò chơi nhưng mang lại nhiều kết quả tích cực.
c. Giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Đây là một đề tài sát thực với thực tế của lớp lá 2 trường Mầm non Hoa
Hồng hiện nay giúp cho giáo viên có thêm một số kinh nghiệm và các biện pháp
hay để phục vụ cho công tác giảng dạy, trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt giúp
trẻ chuẩn bị tâm thế bước vào lớp 1.
III. Phần kết luận, kiến nghị:
1. Kết luận
Việc cung cấp tăng cường vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số là một
vấn đề rất khó. Đòi hỏi giáo viên phải thật sự yêu thương gần gũi trẻ. Luôn tạo
tình cảm cho trẻ giao lưu trò chuyện với cô, nghe hiểu lời nói của cô. Cuốn hút
trẻ tham gia vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ thực sự hứng thú. Được thực
hiện thông qua các hoạt động giáo dục ở lớp và được tích hợp vào một số hoạt
động khác trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Từ những vốn kinh nghiệm
tích luỹ ít ỏi về việc tăng cường tiếng việt ấy tôi đã áp dụng và có hiệu quả cao,
ở tại lớp mình. Cuối năm học này trẻ 95% trẻ dân tộc thiểu số nói được tiếng
việt lưu loát, đủ câu, đủ ý, chỉ còn 0,5% số trẻ nói chưa đươc thành thạo nhưng
cũng đã nghe hiểu được tiếng Việt
Phụ huynh rất nhiệt tình trong công việc quyên góp phế liệu cho cô giáo
làm đồ dùng đồ chơi. Một số phụ huynh rất thích con mình hiểu biết nhiều về
ngôn ngữ Tiếng việt đã tích cực hợp tác với giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc
dạy tiếng Việt cho con em mình đạt kết quả. Bên cạnh đó cũng gặp không ít khó
khăn. Cháu thường dùng tiếng dân tộc, ít hiểu Tiếng việt nên dẫn đến cháu khó
tiếp thu lời hướng dẫn, chỉ bảo của cô giáo bằng Tiếng việt. Cha mẹ các cháu có
một số không biết chữ, ít quan tâm đến việc học hành của con cái.
2. Kiến nghị
19
tôi thấy còn có nhiều hạn chế, nên không thể tránh khỏi những sai sót. Kính
mong sự góp ý chân thành của hội đồng sáng kiến để sáng kiến này hoàn thiện
và được áp dụng vào thực tế Nhằm ngày một nâng cao Tiếng Việt cho trẻ dân
tộc thiểu số. Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ mầm non nghe hiểu và thực hiện tốt
các hoạt động ở trường, tự tin khi bước vào bậc học tiếp theo. Rất mong được sự
20
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
góp ý của hội đống sáng kiến.
Xin chân thành cảm ơn./.
Băng Adrênh, ngày 20 tháng 2 năm 2017
Người viết
Trịnh Thị Hằng
21
Người viết: Trịnh Thị Hằng- Trường Mầm non Hoa
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
Hồng
Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số
- Trường Mầm non Hoa Hồng
STT
MỤC LỤC
Trang
1
I.Phần mở đầu
2
1. Lý do chọn đề tài .
1,2
3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
2
4
4-6
10
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
a. Mục tiêu của giải pháp
6
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải
6-18
c. kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học.
18
pháp
12
III. Kết luận, kiến nghị
13
1.Kết luận
19
14