SKKN Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang - Pdf 42

Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

I. Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
“Mẫu giáo tốt, mở đầu cho nền giáo dục tốt”. Chính vì vậy mà người giáo
viên mầm non được xem là người thợ đầu tiên đặt “viên gạch” nền móng cho
việc đào tạo nhân cách cũng như tri thức cho những con người mới.
Ở lứa tuổi mầm non tâm hồn trẻ ngây thơ, hồn nhiên trong sáng. Để giúp
trẻ phát triển một cách toàn diện ngoài việc trẻ được giáo dục ở gia đình thì ở
trường mầm non qua các hoạt động dạy và học dưới nhiều hình thức giúp trẻ có
một nền móng vững chắc tại trường mầm non. Đối với trẻ 5 tuổi sẽ phải trang bị
thêm nhiều kĩ năng, kiến thức để bước tiếp vào một môi trường hoàn toàn mới lạ
đó là môi trường của trường tiểu học. Việc đến trường tiểu học được coi là một
bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời của trẻ, là một bước chuyển biến mang
tính nhảy vọt, chính vì pthế mà trong tâm lý của trẻ có sự biến đổi vô cùng to
lớn. Ở trường mầm non trẻ được sống trong môi trường với sự chăm sóc và giáo
dục các cô giáo người mà được xem là người mẹ thứ hai của trẻ, nhưng khi bước
vào lớp Một trẻ phải tiếp xúc với một môi trường mới, những hoạt động mới,
một vị trí xã hội mới và những mối quan hệ mới của một người học sinh thực
thụ. Chính vì vậy nhiệm vụ của người giáo viên mầm non không chỉ giúp trẻ
chiếm lĩnh được những kiến thức, những kĩ năng ở trường mầm non mà còn cần
phải cho trẻ có một thể lực khỏe mạnh, trẻ mạnh dạn, tự tin vào bản thân và đặc
biệt trẻ có một tâm thế vững vàn, sẵn sàng bước vào lớp Một.
Bản chất của quá trình dạy và học giữa bậc học mầm non và bậc học tiểu
học hoàn toàn khác nhau. Ở trường mầm non trẻ được học theo phương châm
“Học bằng chơi, chơi mà học”, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ, ở trường
tiểu học hoạt động học, tiếp thu và chiếm lĩnh những kiến thức là hoạt động đòi
hỏi sự nghiêm túc, lúc này trẻ trở thành một người học sinh thực thụ, trẻ phải
thực hiện nhiệm vụ của người học sinh...vì vậy mà trong giai đoạn này trẻ rất dễ
rơi vào tình trạng lo sợ, hoang mang và có sự dao động mạnh về mặt tâm lý, với
trẻ người kinh vấn đề trên đã là một khó khăn vậy đối với trẻ là người đồng bào

bào dân tộc thiểu số mạnh dạn hơn, tự tin hơn và có một tâm thế tốt nhất để sẵn
sàng bước vào lớp Một trở thành một người học sinh thực thụ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào
lớp Một tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang.
4. Giới hạn của đề tài
Khuôn khổ nghiên cứu: Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng
bào dân tộc thiểu số vào lớp Một tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang.
Đối tượng khảo sát: Trẻ 5-6 tuổi lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 02 năm 2017
5. Phương pháp nghiên cứu
a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu: Tìm đọc và tham khảo các tài
liệu về quá trình hình thành và phát triển tâm sinh lý của trẻ…
b. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

Phương pháp quan sát hoạt động của trẻ: Phương pháp này giúp giáo viên
nắm bắt được những hoạt động của trẻ để có kế hoạch cụ thể trong việc chăm
sóc và giáo dục trẻ.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thường xuyên nghiên cứu kỹ các đề
tài trong chương trình giáo dục, lựa chọn nội dung, phương pháp phù hợp với
bài soạn, chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi trước khi tổ chức các hoạt động cho trẻ, phát
hiện và sửa sai kịp thời cho trẻ.

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

thiểu số tâm lý nhút nhát, ngại giao tiếp với người lạ, các em luôn có tâm lý sẵn
sàng cho việc theo bố mẹ tham gia hoạt động lao động hơn là hoạt động học tập.
Trẻ chưa có tâm lý sẵn sàng cho một môi trường học tập mới.
Đặc điểm ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình
hình thành và phát triển loài người, ngôn ngữ tham gia vào mọi hoạt động của
con người và ngôn ngữ cũng là thành tố quan trọng nhất về nội dung và cấu trúc
của tâm lý người. Vốn từ tiếng việt của trẻ ít, khả năng nghe, nói và hiểu tiếng
việt của trẻ còn hạn chế, trẻ chuẩn bị vào lớp một mà nhiều em chưa nghe và
hiểu được tiếng Việt, dẫn đến việc trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp, trong học
tập khi tiếp thu lời giảng của cô…đây cũng là một yếu tố dẫn đến trẻ thiếu tự tin
khi chuẩn bị bước vào lớp Một.
Xuất phát từ lòng yêu trẻ là một giáo viên mầm non tôi cần lựa chọn các
nội dung, phương pháp phù hợp với lứa tuổi của trẻ và tình hình thực tế của đơn
vị nhằm cung cấp những kiến thức mới cho trẻ để nâng cao chất lượng dạy và
học tại trường lớp mầm non. Đồng thời giúp trẻ có một tâm thế tốt để sẵn sàng
bước vào lớp Một. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm của một người giáo viên
trong giai đoạn mới hiện nay.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Trường Mầm non Cư Pang là một đơn vị đóng trên địa bàn xã Ea Bông
thuộc xã đặc biệt khó khăn, trường có nhiều điểm lẻ nằm rãi rác trong các thôn
buôn. Hơn 90% trẻ là người dân tộc thiểu số, hơn 50% trẻ thuộc hộ nghèo.
Riêng lớp lá tôi chủ nhiệm phần lớn trẻ là người dân tộc thiểu số, đa số trẻ mới
lần đầu đến trường, chưa học qua lớp 3 tuổi, 4 tuổi. Hầu hết trẻ chưa nói rõ tiếng
Việt, trẻ giao tiếp chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ giao tiếp tiếng Việt
còn hạn chế.

Trẻ chưa đạt

Tỉ lệ (%)

Trẻ mạnh dạn

8/26

30,7

18/26

69,3

Trẻ nói rõ ràng

7/26

30

19/26

70

Trẻ giao tiếp tốt

8/26

30,7


đến trường nên việc tiếp xúc với ngôn ngữ tiếng Việt còn gặp nhiều khó khăn,
đa số trẻ còn sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp khi đến trường.
Đời sống kinh tế của một số phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn nên sự
quan tâm, chăm sóc và giáo dục trẻ chưa cao.
5

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

Nguyên nhân chủ quan:
Ưu điểm: Trường có diện tích rộng rãi, không gian thoáng mát, môi trường
học tập và vui chơi của trẻ sạch sẽ, an toàn, ngoài ra lớp còn được sự quan tâm
chặt chẽ của lãnh đạo nhà trường. Giáo viên luôn nhiệt tình trong công tác chăm
sóc giáo dục trẻ, đã tuyên truyền tới các bậc cha mẹ học sinh biết được tầm quan
trọng của việc đưa trẻ đến trường đúng độ tuổi.
Có kiến thức cơ bản về công tác giảng dạy, luôn học hỏi, trau dồi chuyên
môn nghiệp vụ, biết lắng nghe, biết sửa sai, không bảo thủ nên chuyên môn
nghiệp vụ ngày càng vững vàng hơn.
Trẻ hứng thú tham gia các hoạt động cũng như hứng thú với những đồ
dùng, đồ chơi và sử dụng những đồ dùng, đồ chơi một cách tích cực, có hiệu
quả; trẻ thích được thể hiện mình trong các hoạt động.
Hạn chế: Các bậc cha mẹ học sinh chưa xác định được tầm quan trọng của
việc cho con em đến trường Mầm non theo đúng độ tuổi. Kiến thức về chăm sóc
cũng như kỹ năng nuôi dạy con của phụ huynh còn hạn chế.
Do cha mẹ trẻ thường cho trẻ đi rẫy, không cho trẻ đến trường theo đúng
độ tuổi, các gia đình ở trong buôn phần lớn là người dân tộc thiểu số, không có
người kinh sinh sống. các hộ gia đình cách xa nhau làm hạn chế quá trình giao
tiếp của trẻ với mọi người xung quanh, bên cạnh đó trẻ còn nhút nhát, chưa

đồng thời qua đó giúp hình thành nhân cách của các cháu một cách tốt nhất, và
nhờ đó cũng giúp cho các cháu mạnh dạn hơn, tự tin hơn, giao tiếp tốt hơn, các
cháu không còn bỡ ngỡ khi bước vào lớp Một… Bên cạnh việc tuyên truyền với
phụ huynh giáo viên cần tạo sự gần gũi thương yêu trẻ, luôn tìm tòi học hỏi
những kinh nghiệm, và nghệ thuật lên lớp làm cho trẻ hứng thú hơn mỗi khi đến
trường, để trẻ cảm nhận được “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”
Cô giáo không ngừng học tập, nghiên cứu các tài liệu và tổ chức những
hoạt động vui chơi hấp dẫn, sưu tầm và làm đồ dùng, đồ chơi đa dạng, phong
phú phục vụ cho các hoạt động của trẻ nhằm thu hút trẻ đến lớp.
Biện pháp2: Lập kế hoạch cho hoạt động tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý và
ngôn ngữ của trẻ.
Muốn biết được các đặc điểm tâm sinh lý cũng như ngôn ngữ của tất cả trẻ
trong lớp, trước hết người giáo viên cần có một thời gian dài để tìm hiểu trẻ.
Chính vì vậy ngay từ đầu năm học cô giáo đã xây dựng kế hoạch theo dõi và lựa
chọn các nội dung luyện tập cho trẻ.
Ví dụ:
Tháng 8, tháng 9: Tìm hiểu trẻ thông qua hoạt động trò chuyện giữa cô và
trẻ, giữa trẻ với trẻ, bên cạnh đó cô giáo gặp cha mẹ trẻ để tìm hiểu thêm về hoàn
cảnh gia đình, tính cách, khả năng nhận thức và tình hình sức khỏe của trẻ ở nhà,
bước đầu nắm bắt một số đặc điểm của trẻ tôi tiếp tục lựa chọn các bài tập phù
hợp với trẻ.
Tháng 10, tháng 11: Cô giáo tiến hành chọn những bài tập luyện nói và tai
nghe cho trẻ, cho trẻ nghe những bài hát, những câu chuyện, những bài thơ, đồng
7

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang


trẻ dân tộc thiểu số tuy còn nhỏ nhưng đã phải tham gia vào các hoạt động tại
gia đình như cõng em, chăn gia súc, nấu cơm, đi rẫy…

8

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ hoàn toàn khác nhau, mỗi trẻ có những đặc
điểm riêng, bên cạnh những trẻ nhút nhát có những trẻ mạnh dạn. Vì vậy chúng
ta cần tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để từ đó có kế hoạch cũng như biện
pháp giáo dục cụ thể phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ. Để hiểu được trẻ
muốn gì? Trẻ cần gì? Trước hết người giáo viên phải gần gũi với trẻ, luôn lắng
nghe tâm tư nguyện vọng của trẻ.
Song song với việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ cô giáo cần chú
ý đến đặc điểm ngôn ngữ của trẻ.
Đặc điểm phát âm: Trẻ thường phát âm sai hoặc phát âm bị mất dấu như:
con mèo – con meo, đi học – đi hoc...nắm bắt được những lỗi trong quá trình trẻ
phát âm giáo viên đã sữa sai kịp thời cho trẻ, hướng dẫn trẻ phát âm đúng từ ngữ
tiếng Việt.
Đặc điểm vốn từ: Vốn từ của trẻ bước đầu tuy còn nghèo nàn song đã có
sự phát triển rõ rệt nhờ vào hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi
nơi của giáo viên.
Đặc điểm ngữ pháp: Câu trẻ dùng đã chính xác và dài hơn, trẻ hạn chế sử
dụng câu cụt.
Ví dụ: Khi cô hỏi trong câu truyện Chú Dê đen có những nhân vật nào thì
trẻ cũng đã biết trả lời: Thưa cô trong câu truyện có Dê đen, Dê trắng, Chó
sói…Nắm được đặc điểm tâm lý và đặc điểm ngôn ngữ của trẻ, giáo viên có

Ở lớp, cô giáo cần tạo cho trẻ tâm trạng thoải mái khi tham gia các hoạt
động. Trong giờ ăn, giờ ngủ, không áp đặt cũng như gây áp lực cho trẻ, cô nên
vỗ về, động viên trẻ khi trẻ biếng ăn, trẻ ăn hết suất cô, khen, khuyến khích trẻ,
cô giáo thường xuyên chú ý theo dõi tình hình trẻ một cách sâu sát, không nên
thờ ơ với trẻ vì có như vậy thì chúng ta mới phát hiện sớm những biểu hiện khác
thường của trẻ về sức khỏe, tâm lý…
Cùng với sự quan tâm đến chế độ ăn uống của trẻ thì giấc ngủ của trẻ đóng
vai trò không nhỏ trong quá trình phát triển thể chất của trẻ. Trẻ cần có một giấc
ngu ngon và ngủ sâu, để có được điều đó thì giáo viên cần làm tốt công tác vệ
sinh phòng ngủ cho trẻ, đảm bảo ấm về mùa đông và thoáng mát về mùa hè,
tránh cho trẻ ngủ nơi cửa có gió lùa mạnh…đối với những trẻ khó ngủ, ít ngủ, cô
cần tìm hiểu nguyên nhân để từ đó có biện pháp khắc phục.
Ngoài thực hiện tốt công việc theo dõi sức khỏe của trẻ, cho trẻ ăn, ngủ thì
giáo viên cần phải có chế độ tập luyện, vận động cho trẻ hợp lý vì trẻ vận động
sẽ góp phần tiêu hao năng lượng sẽ kích thích thèm ăn và khi ăn sẽ có cảm giác
ngon miệng, cũng như khi ngủ sẽ có giấc ngủ sâu. Vậy để thực hiện được những
công việc trên đòi hỏi cô giáo phải linh động, giờ nào việc nấy, không bắt trẻ
ngồi thụ động một chổ hoặc tránh tình trạng trẻ hoạt động quá nhiều gây mệt
mỏi.
Thực hiện tốt những công việc trên đồng nghĩa với việc chúng ta đã khắc
phục được tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ và chuẩn bị tốt về mặt thể lực cho
trẻ.
Biện pháp 5: Chuẩn bị về mặt ngôn ngữ tiếng Việt, kiến thức, kĩ năng cho
trẻ thông qua các hoạt động
Hoạt động mọi lúc mọi nơi
10

Người thực hiện: Võ Thị Hiền



Môn Khám phá khoa học là một trong những môn học giúp trẻ phát triển
nhận thức và ngôn ngữ tích cực nhất, vì vậy chúng ta cần phát huy hết tác dụng
của môn học này để dạy trẻ. Nhưng không nhất thiết phải đặt nặng vấn đề đây là
một tiết học và bắt các cháu phải thực hiện, cô có thể biến tiết học thành một
cuộc thi tài hay một chuyến tham quan…
Ví dụ: Trong chủ đề: Động vật. Đề tài: những con vật đáng yêu. Cô giáo
có thể tạo tình huống và dẫn dắt cho trẻ tham gia chương trình đố vui có thưởng,
cô đố trẻ đây là con gì? hoặc có thể sử dụng hình thức bốc thăm và đọc câu hỏi:
11

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

Con chó là động vật sống ở đâu? Trẻ nào biết thì lắc xắc xô và được quyền trả
lời, nếu trẻ trả lời đúng cô khen trẻ tặng quà cho trẻ, trẻ chưa trả lời được thì mời
bạn khác trả lời giúp, và cho trẻ nhắc lại, nếu trẻ vẫn không trả lời được thì cô có
thể gợi ý và cho trẻ nhắc lại...
Hoạt động làm quen với toán
Khi trẻ bước vào lớp một, kiến thức sơ đẳng nhất là trẻ phải biết đếm,
thêm bớt, chia nhóm, tạo nhóm trong phạm vi 10, trẻ nhận biết các hình, các
khối, biết thực hiện các thao tác đo...Để trẻ làm được điều đó trước hết người
giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học phù hợp với chủ đề với đề tài
điều này rất cần thiết vì nó tạo cho trẻ sự hứng thú, lôi cuốn hơn khi được nhìn
ngắm những đồ dùng đẹp, mới lạ và đặc biệt là được hoạt động với những đồ
dùng đó.
Ví dụ: Chủ đề Gia đình, đề tài Đếm đến 6, nhận biêt nhóm đồ dùng có 6
đối tượng, chữ số 6. Với đề tài này cô giáo chuẩn bị nhiều đồ dùng gia đình như
ly, chén, đũa …cô tạo tình huống cho các cháu gọi tên của từng đồ dùng, cho trẻ

Đối với hoạt động dạy thơ cô luôn tạo cho trẻ sự chú ý tập trung bằng
giọng đọc thơ diễn cảm, cử chỉ điệu bộ, tiến hành cho trẻ đọc thơ bằng nhiều
hình thức (cả lớp đọc, thi tài giữa các tổ, các nhóm, các nhân, đọc nối đuôi…) cô
chú ý sữa sai cho trẻ và đồng thời khuyến khích, tuyên dương khi trẻ độc đúng.
Với những hình thức như trên vốn từ tiếng Việt của trẻ đã tăng lên một
cách rõ rệt và đó cũng là một động lực to lớn thúc đẩy cô giáo tiếp tục tìm tòi
các biện pháp khác để áp dụng vào dạy trẻ nhằm giúp trẻ tiếp thu và tăng vốn từ
tiếng Việt.
Hoạt động âm nhạc
Các cháu dân tộc thiểu số rất thích hát, múa, tận dụng được ưu điểm đó
mà trong giờ hoạt động âm nhạc cô giáo đã dạy cho các cháu hát những bài hát
theo chủ đề cũng như những bài hát trong chương trình mầm non. Tổ chức các
hoạt động như: Biểu diễn văn nghệ cuối tuần hay cuộc thi Đồ Rê Mi… tập cho
các cháu đóng vai làm ca sĩ lên giới thiệu về bản thân, sở thích… và biểu diễn
cho các bạn xem, cứ lần lượt như vậy và tất cả các cháu đều được tham gia.
Bước đầu các cháu chỉ thuộc lời của bài hát và tiếp đến các cháu đã dần cảm
nhận được giai điệu của bài hát và hiểu được nội dung của bài hát điều này cho
thấy các cháu có khả năng nghe và hiểu tiếng Việt tốt.
Hoạt động làm quen chữ cái
Nội dung của hoạt động này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ
cái, bên cạnh đó còn giúp trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung các từ, từ đó
giúp trẻ sử dụng từ đã biết để diễn đạt ý mình muốn nói.
Cô giáo tạo tình huống nhằm lôi cuốn trẻ hứng thú hơn vào hoạt động. Cô
giới thiệu chữ cái, phân tích cấu tạo của chữ và cho trẻ phát âm chữ cái đó. Cô
cho trẻ quan sát và nắm được đặc điểm của chữ cái và để khắc sâu hơn về đặc
điểm, cấu tạo và nhận biết chính xác các chữ cái, cô giáo thiết kế các trò chơi
phù hợp với nội dung để tổ chức cho trẻ nhằm giúp trẻ nắm được các chữ cái,
không những vậy mà còn giúp cho trẻ phát âm các chữ cái một cách chính xác
hơn,
Ví dụ: Trò chơi Chiếc nón kỳ diệu hay bánh xe chữ cái…trẻ quay vào

lớp.
Với những trẻ nhút nhác, rụt rè, sợ hãi cô cần tạo sự gần gũi, thân thương
với trẻ, thường xuyên trò chuyện và lắng nghe những suy nghĩ của trẻ, cho trẻ
một cảm giác ấm áp, an toàn khi ở bên cô, không phân biệt đối xử với trẻ, dành
tình thương cho trẻ để trẻ cảm nhận được khi đến trường cô giáo thương yêu
mình cũng giống như mẹ. Với những trẻ sẵn sàng tâm lý cho hoạt động lao động
hơn hoạt động học tập thì chúng ta nên giao nhiệm vụ tương tự như những việc
trẻ thường làm trong hoạt động lao động ở nhà.
Ví dụ: Thực hiện chủ đề Gia đình khi trẻ tham gia hoạt động góc cô có thể
tạo tình huống như ở gia đình trẻ, trẻ có thể giúp mẹ dỗ em bé, bế em, hay trẻ có
thể giúp mẹ nấu cơm, quét nhà…và khi được giao những nhiệm vụ đó trẻ sẽ làm
được vì đây là việc làm hàng ngày trẻ làm ở nhà, khi trẻ thực hiện tốt các nhiệm
vụ trên cô giáo khen động viên khuyến khích trẻ, đây sẽ là động lực cổ vũ cho
trẻ hứng thú hơn khi tham gia hoạt động, tương tự cô giáo luôn tạo mọi tình
14

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

huống trong các hoạt động để trẻ giải quyết, điều này sẽ góp phần giúp trẻ luôn
có tâm lý sẵn sàng cho cả hoạt động lao động cũng như hoạt động học tập,
không những vậy mà trong quá trình giải quyết nhiệm vụ cũng giúp trẻ phát
triền những đức tính tốt như: rèn luyện tính tự giác, ý thức tổ chức kỹ luật, tính
tự lập, mạnh dạn, tự tin vào bản thân mình.
Nhưng đức tính này rất cần thiết cho lứa tuổi trẻ mẫu giáo song nó cũng
không kém phần quan trọng với trẻ khi trẻ lên lớp Một, vì bản chất của hai bậc
học khác nhau, ở trường mầm non trẻ luôn được gần gũi bên cô, cô cùng trẻ
tham gia các hoạt động, nhưng khi lên tiều học thì không phải lúc nào trẻ cũng ở

8/26

Tỉ lệ
(%)

trẻ
chưa
đạt

Tỉ lệ
(%)

Số
trẻ
đạt

30,7

18/26

69,6

20/26

15

Ghi
chú

Tỉ


88

3/26

12

Tăng
40%

Trẻ giao tiếp tốt
Trẻ diễn đạt ý
tốt

8/26

30,7

18/26

69,6

21/26 80,7 5/26 19,3

Tăng
50%

6/26

23

Cha mẹ đã quan tâm đến trẻ nhiều hơn, tích cực tham gia vào các hoạt động
giáo dục học sinh ở nhà trường, đã có sự liên kết phối hợp chặt chẽ với cô giáo
trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ, trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức
gặp trực tiếp, theo dõi bảng tin...Cha mẹ cảm thấy hài lòng với sự phát triển của
con mình, tin tưởng vào kết quả giáo dục của nhà trường, chia sẻ những khó khăn
16

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

cùng cô giáo, cung cấp nguyên vật liệu để làm đồ dùng, đồ chơi, phụ giúp giáo
viên trang trí lớp, dọn vệ sinh và các hoạt động khác ở trường.
Từ kết quả trên cho thấy việc tạo hứng thú cho trẻ tham gia vào các hoạt
động ở trường đã góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ năm học, đảm bảo mục tiêu
giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non. Đặc biệt đề tài trên góp phần không nhỏ vào
việc phát triển nhận thức, trí tuệ, thẩm mỹ...đồng thời giúp trẻ phát triển toàn diện.
Trẻ tự tin hơn trong giao tiếp, mạnh dạn thể hiện mình trước đám đông...và sẵn
sàng tâm thế để bước vào lớp Một.
III. Phần kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
Việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ là người đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp
Một là một việc làm lâu dài và liên tục. Vì vậy đòi hỏi cô giáo phải là người tâm
huyết với nghề, yêu mến trẻ luôn cho trẻ cảm giác gần gũi, yêu thương, tạo cho trẻ
một lòng tin yêu, trẻ có thể cảm nhận được cô giáo như người mẹ thứ hai.
Chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ được nâng cao. Trẻ hứng thú, tích cực
tham gia vào các hoạt động. Vốn từ tiếng Việt của trẻ tăng đáng kể, trẻ đến lớp
giao tiếp với nhau chủ yếu bằng tiếng Việt, biết sử dụng câu có nghĩa để giao tiếp
với mọi người...

tục học hỏi để tìm ra những giải pháp tối ưu nhằm đáp ứng yêu cầu cao hơn trong
việc phát triển toàn diện cho trẻ mầm non. Tôi rất mong nhận được sự góp ý giúp
đỡ của Hội đồng sáng kiến các cấp, của bạn bè đồng nghiệp để tôi có kinh nghiệm
tốt hơn trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Tôi xin chân thành cảm ơn
EaBông, ngày 04 tháng 01 năm 2017
Người viết

Võ Thị Hiền

ơ

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Hiệu trưởng

18

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số vào lớp 1 tại lớp lá 1 trường Mầm non Cư Pang

TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1

Mầm non)

5

Sách hướng dẫn tổ chức thực hiện chương
trình giáo dục mầm non mẫu giáo 5-6 tuổi

6

Tài liệu về phương pháp tăng cường
tiếng việt cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu
số.

7

Tài liệu về công tác tuyên truyền
dành cho người đồng bào dân tộc thiểu số

8

Các tạp chí giáo dục mầm non
19

Nguyễn Thị Ánh Tuyết
– NXB Giáo dục 1994

Khóa học 2011-2015
Nhà xuất bản giáo dục

Người thực hiện: Võ Thị Hiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status