Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
Chương một: Tình hình chung về thị trường Trung Quốc
1. Tổng quan về nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:
• Điều kiện tự nhiên- xã hội:
Là quốc gia lớn nhất Á, Trung Quốc có biên giới chung với 14 quốc gia. Trung Quốc
đứng thứ ba thế giới về diện tích (9,596,960 Km
2
chiếm 7% diện tích thế giới) đứng sau
Nga và Canada. Về địa hình: một phần hai lãnh thổ của Trung Quốc là núi và chủ yếu
phân bố ở miền tây. Ba vùng đất thấp ở phía đông và ở vùng giữa Trung Quốc là các
vùng nông nghiệp trù phú, dân cư đông đúc, gồm đồng bằng trung tâm khu vực sông
Dương Tử và sông Hoàng Hà, hai vùng còn lại phân bố ở phía Bắc và phía Nam của miền
Đông Trung Quốc.
Nhờ diện tích rộng lớn nên tài nguyên thiên nhiên ở Trung Quốc phong phú thuộc hàng
bậc nhất thế giới. Trung Quốc có lợi thế về :Than đá, Dầu thô, các quặng kim… Đa số
các quặng có trữ lượng lớn nên công việc khai thác gặp nhiều thuận lợi.
Hệ thống sông ngòi tưng đối phủ khắp nước không những giúp giao thông thủy nội địa
thuận tiện mà còn cung cấp nước sinh hoạt, công nghiệp cũng như tưới tiêu nông nghiệp.
Hệ thống cảng biển ở khu vực Đông Hải, Hoàng Hải và Nam Hải (biển Đông của Việt
Nam) rất phát triển nên Trung Quốc là một trong những nước có tiềm năng lớn trong việc
mở rộng quan hệ ngoại thương với các nước khác trên thế giới.
Có số dân gần 1,3 tỷ người, trong đó người Hán chiếm 92% (cùng với 55 dân tộc thiểu số
khác).Theo thông báo của Cơ quan thống kê Quốc gia Trung Quốc, thu nhập bình quân đầu
người ở khu vực thành thị của nước này trong năm 2009 là 17.175 NDT (2.500 USD),
trong khi ở nông thôn chỉ là 5.153 NDT.
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 1
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
• Bức tranh kinh tế Trung Quốc:
Biểu 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc qua các năm
Nguồn: Tổng cục thống kê Trung Quốc
xuất khẩu của Trung Quốc chưa tới 50% nhưng từ năm 2001 con số đó đã lên trên
90%. Như vậy trong quá trình phát triển, Trung Quốc ngày càng hướng ngoại và
chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng hàng công nghiệp, đặc biệt là hàng giá rẻ.
- Thứ ba, phát triển của Trung Quốc còn có đặc tính là dựa nhiều vào đầu tư. Trước
năm 1992 tỉ lệ của đầu tư trên GDP vào khoảng 30% nhưng năm 2002 tăng lên 40%
và mấy năm gần đây lên tới 50%. Các tỉnh cạnh tranh đầu tư và sản xuất hàng công
nghiệp, gây nên hiện tượng đầu tư trùng lặp và sản xuất thừa làm kém hiệu suất của
toàn nền kịnh tế. Nhưng đối với Việt nam và các nước có nền kinh tế còn nhỏ ở
Đông Nam Á, hiện tượng sản xuất thừa của Trung Quốc là một trong những nguyên
nhân chính làm tràn ngập hàng công nghiệp giá rẻ vào thị trường các nước này.
- Thứ tư, cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc ngày càng chuyển dịch lên cao.
Khuynh hướng này phản ảnh rõ trong cơ cấu xuất khẩu. Những sản phẩm có hàm
lượng công nghệ càng cao càng cần nhiều lao động có kỹ năng cao và do đó để sản
xuất và xuất khẩu được những mặt hàng này đòi hỏi nền giáo dục, đào tạo, nghiên
cứu khoa học phải cung cấp đủ nguồn nhân lực có trình độ tương ứng.
Năm 2009 có tới trên 30% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc thuộc nhóm hàng
công nghiệp cần có kỹ năng và kỹ thuật cao (high skill- high tech) như máy tính,
máy móc về viễn thông, về y tế, dược phẩm, v.v.. . Nếu kể cả nhóm hàng dùng
nhiều kỹ năng vừa phải (medium skill) như xe hơi, xe máy, đồ điện gia dụng, kim
khí, v.v.. thì tỉ trọng của 2 nhóm hàng này chiếm tới 50% tổng kim ngạch xuất khẩu
của Trung Quốc. Một điểm đáng chú ý là các mặt hàng có hàm lượng kỹ năng thấp
như may mặc, giày dép, dụng cụ lữ hành, v.v.. vẫn còn chiếm một tỉ trọng lớn. Tỉ
trọng trong xuất khẩu của Trung Quốc chỉ giảm đáng kể trong hai lãnh vực nông sản
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 4
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
và nguyên liệu. Điều này cho thấy các loại hàng công nghiệp, từ trình độ thấp đến
trình độ cao Trung Quốc đều hiện diện trên thị trường thế giới với số lượng lớn.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc không phải chỉ tạo ra thách thức đối với khu vực Á
châu mà còn thế giới.Nhưng bên cạnh đó còn tạo ra cơ hội phát triển cho các nước
Là nước lân cận với Trung Quốc , Việt Nam càng gặp khó khăn nhiều hơn khi các
ngành kinh tế công nghiệp còn non trẻ. Về nhiều mặt, Việt Nam ở trình độ phát triển
thấp hơn Trung Quốc. GDP đầu người của Việt Nam năm 2009 chỉ bằng 1/3 của
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 5
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
Trung Quốc, chất lượng giáo dục, trình độ phát triển khoa học, công nghệ cũng đi
sau nước này. Thêm vào đó, về qui mô, kinh tế Trung Quốc lớn áp đảo, tốc độ phát
triển cũng nhanh hơn Việt Nam. Thách thức của sự trỗi dậy của Trung Quốc đối với
con đường phát triển của Việt Nam là vô cùng lớn. Việt Nam cần nghiên cứu sâu tác
động của sự trỗi dậy của Trung Quốc để có chiến lược, chính sách phát triển thích
hợp, tránh tình trạnh mất cân bằng thương mại diễn ra trong một thập kỷ qua.
• Xuất nhập khẩu của Trung Quốc:
Theo số liệu công bố của Tổng cục Hải quan Trung Quốc ngày 10/8, trong 7
tháng đầu năm 2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đạt 1.617,05
tỷ USD, tăng 40,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 850,49 tỷ
USD, tăng 35,6%; nhập khẩu đạt 766,56 tỷ USD, tăng 47,2%; Thặng dư thương mại
đạt 83,93 tỷ USD, giảm 21,2%.
Quan hệ thương mại song phương của Trung Quốc với các bạn hàng chủ yếu 7
tháng đầu năm 2010:
- Kim ngạch thương mại song phương giữa Trung Quốc với EU đạt 263,16
tỷ USD, tăng 36,6%.
- Kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc với Mỹ đạt 207,23 tỷ USD, tăng
30,6%.
- Kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc với Nhật Bản đạt 161,71 tỷ
USD, tăng 34,9%. Trong đó, Trung Quốc xuất khẩu sang Nhật Bản đạt
65,15 tỷ USD, tăng 24,7%; Trung Quốc nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 96,56
tỷ USD, tăng 42,8%; Trung Quốc nhập siêu từ Nhật Bản là 31,41 tỷ USD,
mức tăng gấp đôi.
- Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Trung Quốc với ASEAN đạt 161,0 tỷ
đầu năm; xuất khẩu hàng nhựa đạt 10,18 tỷ USD, tăng 30,2%, tốc độ tăng thêm 2 điểm %
so với 6 tháng đầu năm; xuất khẩu va ly, túi xách đạt 9,13 tỷ USD, tăng 30,7%, tốc độ tăng
thêm 5,7 điểm % so với 6 tháng đầu năm; riêng xuất khẩu đồ chơi đạt 4,75 tỷ USD, tăng
30%, nhưng tốc độ chậm lại 0,5 điểm % so với 6 tháng đầu năm.
Trong các mặt hàng nhập khẩu , đại đa số lượng nhập khẩu các mặt hàng có số lượng lớn
đều tăng với mức độ khác nhau, giá nhập khẩu bình quân đều tăng trở lại với tốc độ nhanh.
Qua số liệu thống kê của hải quan cho thấy, trong 7 tháng đầu năm 2010, nhập khẩu quặng
sắt đạt 360 triệu tấn, tăng 1,5%, giá nhập khẩu bình quân là 116USD/tấn, tăng 53,3%;
nhập khẩu đậu tương đạt 30,76 triệu tấn, tăng 16,2%, giá nhập khẩu bình quân là
439USD/tấn, tăng 4%. Ngoài ra, nhập khẩu sản phẩm cơ điện đạt 360,28 tỷ USD, tăng
42,8%, trong đó nhập khẩu ô tô đạt 459.000 chiếc, tăng 1,5 lần.
2. Tình hình cung cầu của thị trường Trung Quốc
Biểu 4: Các mặt hàng nhập khẩu của Trung Quốc năm 2008
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 7
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
Nguồn: Tổng cục thống kê Trung Quốc
Biểu 5: Các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc năm 2008
Nguồn: Tổng cục thống kê Trung Quốc
Trung Quốc có mối quan hệ thương mại với hầu hết tất cả các nước trên thế giới. Hiếm có
một quốc gia nào mà hàng Trung Quốc không hiện diện tại đó. Thị trường Trung Quốc
rộng lớn bậc nhất thế giới với 1,3 tỷ dân. Thêm vào đó, chênh lệch giàu nghèo rõ rệt trong
tần lớp dân cư ở Trung Quốc cũng tạo ra sự đa dạng phân khúc trong thị trường. Thị
trường Trung Quốc không khó tính như thị trường các nước phát triển.
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 8
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
Về cung cầu trong nước, Trung Quốc tự chủ hầu như tất cả các mặt hàng tiêu dùng. Nước
này nhập chủ yếu hàng nông sản, khoáng sản thô, máy móc thiết bị hiện đại không tự sản
xuất được… Chính nhờ tự chủ trong sản xuất mà Trung Quốc luôn là nước xuất siêu trong
chính đối với nhập khẩu phù hợp với các cam kết của WTO bao gồm những quy định
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 9
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
của nước cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa về quản lý hành chính đối với hàng hoá xuất
nhập khẩu, Các biện pháp quản lý hàng nhập khẩu Cơ Khí và hàng hóa Điện tử và Luật
thương mại sửa đổi có hiệu lực từ tháng 4 năm 2004. Các quy tắc này đã tạo ra một
không quản lý để quản lý hạn ngạch và giấy phép đối với hàng hoá xuất nhập khẩu.
Luật ngoại thương Trung Quốc cơ bản giống như luật thương mại của các nước trên thế
giới. (Xem phần phụ lục các điều luật cơ bản của luật ngoại thương Trung Quốc)
Trong phạm vi tiểu luận, nhóm xin đưa ra thông tin về các biện pháp mà Trung Quốc áp
dụng để quản lý các mặt hàng xuất nhập khẩu.
• Quản lý bằng hạn ngạch và giấy phép
Trung Quốc cho phép xuất nhập khẩu tự do hàng hoá và công nghệ ( trừ những hàng hoá
phải tuân theo những quy định và luật lệ khác). Đối với hàng hoá nhập khẩu phải tuân theo
những hạn chế của Chính phủ, Trung Quốc thực thi quota và giấy phép.
Năm 2001, có 33 loại hàng hoá phải chịu quản lý quota và giấy phép. Trong số đó, 14 loại
hàng hoá phải chịu quota thông thường và giấy phép thông thường, 12 loại máy móc và sản
phẩm điện tử phải có quota và giấy phép, 7 loại hàng hoá chỉ chịu quota nhưng không chịu
giấy phép.
PRIVATE Hàng hoá chịu quota
và giấy phép nhập khẩu
Hàng hoá thông
thường (14)
Dầu đã qua chế
biến, sợi
polyester, sợi
acrylic, polyester
chips, cao su tự
nhiên, lốp xe ô
Page 10
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
máy ghi â,,
tủlạnh và máy
nén khí, thiết bị
quay video và
phụ tùng chính,
cameras và
những bộ phận
liên quan, đồng
hồ, trục ô tô,
khung gầm ôtô,
máy điều hoà,
and air-flow
looms.
cơ sở của Giấy chứng
nhận quota do Phòng
quản lý quốc gia phụ
trách về xuất nhập
khẩu máy móc và sản
phẩm điện tử.
Hàng hoá không chịu điều chỉnh của quota nhưng phải
có giấy phép nhập khẩu
Ngũ cốc, dầu
thực vật, đồ
uống có cồn,
nguyên lịêu nhạy
cảm với màu,
hoá chất chịu sự
kiểm soát ( trong
phép nhập khẩu của Phòng Ngoại thương và Hợp tác Kinh tế trên cơ sở phê chuẩn chứng
từ của Phòng này.
4) Để nhập khẩu thíết bị sản xuất CD và VCD, nhà nhập khẩu phải xin Giấy phép nhập
khẩu của Phòng Ngoại thương và Hợp tác Kinh tế trên cơ sở sự phê chuẩn chứng từ của
Cục Xuất bản và In ấn Quốc gia và Giấy chứng nhận đăng ký nhập khẩu máy móc và sản
phẩm điện tử
• Quản lý phi quota đối với máy móc và sản phẩm điện tử
Trung Quốc thực hiện quản lý phi quota đối với máy móc và sản phẩm điện tử nhập khẩu
(máy móc và thiết bị, các sản phẩm điện tử, các phụ tùng và phụ kiện) không thuộc sự
quản lý của quota. Những mặt hàng này có thể được nhập thông qua chế độ đấu thầu quốc
tế. Ở đây, người ta sử dụng hệ thống đăng ký tự động, trong đó tất cả các nhà nhập khẩu
phải điền vào form đăng ký. Phòng Xuất nhập khẩu Máy móc và Sản phẩm Điện tử quốc
gia chịu trách nhiệm quản lý những mặt hàng nhập khẩu này.
• Đăng ký tự động đối với nhập khẩu một số sản phẩm đặc biệt
Để thắt chặt quản lý vĩ mô đối với một số nguyên liệu thô quan trọng và những hàng hoá
nhạy cảm, Trung Quốc thực thi chế độ đăng ký tự động đối với một số mặt hàng đặc biệt,
như ngũ cốc, dầu thực vật, đồ uống có cồn, dầu thô, asbestos, nguyên liệu nhạy cảm với
màu, thuốc diệt cỏ, nguyên liệu nhựa thô, cao su nhân tạo, vải sợi hoá học, thép cuốn... và
14 loại kim loại phi sắt ( như đồng, bạc....). Uỷ ban kế hoạch phát triển Quốc gia có nhiệm
vụ hướng dẫn, hợp tác và quản lý việc nhập khẩu những mặt hàng này.
• Quản lý tỷ giá hối đoái
Trung Quốc xây dựng hệ thống thực hiện trao đổi ngoại tệ, cũng như hệ thông chứng thực
và huỷ bỏ thanh toán bằng ngoại tệ cho các hàng hoá nhập khẩu và nguồn thư từ xuất khẩu.
Trong điều kiện bình thường, các doanh nghiệp cần phải bán nguồn thu ngoại tệ cho các
ngân hàng chỉ định và thực hiện thanh toán ngoại tệ tại các ngân hàng chỉ định bằng việc
mua vào ngoại tệ hoặc chuyển nguồn thu ngoại tệ vào tài khoản của mình . Các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể mở tài khoản ngoại tệ và duy trì một tỷ lệ thu
ngoại tệ của mình trong tài khoản vãng lại . khi nhập khẩu hàng hóa, doanh nghiệp có thể
rút từ tài khoản ngoại tệ hoặc mua ngoại tệ từ ngân hàng chỉ định, để thanh toán bằng việc
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
những cuộc kiểm tra cần thiết khi vào Trung Quốc. Các hợp đồng sẽ phải chỉ rõ những yêu
cầu kiểm tra theo luật Trung Quốc, cũng như là những giấy chứng nhận kiểm dịch cần thiết
do cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu cấp. SAIQ quyết định và thông báo danh mục
những bệnh lây nhiễm hay ký sinh ở động vật loại A và loại B, danh mục những bệnh, sâu
bọ và thực vật có hại đối với cây trồng.
• Hàng hoá do các công ty kiểm định kiểm soát
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 13
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
Vì một số nguyên liệu thô quan trọng có vai trò thiết yếu dối với nền kinh tế đất nước cũng
môi trường sống, có thể trở thành hàng hoá độc quyền trên thị trường quốc tế và nhạy cảm
về giá, Chính phủ Trung Quốc trao quyền quản lý và điều hành những mặt hàng này cho
một số cơ quan kiểm định. Những công ty này do Bộ Ngoại thương và Hợp tác Kinh tế chỉ
định.
Có 19 loại hàng hoá nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của các công ty kiểm định này như bột
mì, dầu thô, dầu tinh chế, ( như gasoline, dầu diesel và kerosene), thuốc trừ sâu ( trong đó
có thuốc trừ sâu nitrogen, thuốc trừ sâu phosphate, thuốc trừ sâu potash và thuốc trừ sâu
tổng hợp ), cao su (cao su tự nhiên), thép cuộn, gỗ ( gỗ xẻ) , gỗ dán ( gỗ tấm trang trí), len ,
sợi acrylic, cotton , thuốc lá và những sản phẩm liên quan, đường tinh chế, dầu thực vật,
thép phế liệu, đồng phế liệu, nhôm phế liệu và giấy, nhựa phế liệu.
• Chính sách chống phá giá
Trong trường hợp một sản phẩm nhập khẩu, bằng việc bán phá giá hoặc trợ cấp, đã gây ra
những thiệt hại đáng kể hoặc góp phần là mối đe doạ gây ra những thiệt hại đáng kể đến
những ngành liên quan của Trung Quốc hoặc gây ra những rào cản nghiêm trọng đối với
việc thiết lập những ngành liên quan tại Trung Quốc, những cơ quan chức năng liên quan
của Chính phủ Trung Quốc có thể tiến hành những biện pháp chống phá giá hoặc chống trợ
cấp theo Quy định chống phá giá và chồng trợ cấp của nước CHND Trung Hoa.
Một nhà sản xuất nội địa có sản phẩm tương tự hoặc giống hệt sản phẩm nhập khẩu hoặc
một tổ chức có liên quan có thể phát đơn kiện bán phá giá lên Bộ Ngoại thương và Hợp tác
kinh tế. Bộ này là một tổ chức có thẩm quyền nhận các đơn kiện xin điều tra về các vụ bán
y tế, máy chế biến thực phẩm, máy nông nghiệp, máy in, máy dệt....) cũng như những sản
phẩm điện tử và máy móc đã qua sử dụng, sản phẩm chịu quota, sản phẩm đặc biệt , máy
móc và thiết bị qua sử dụng được sản xuất kể từ năm 1980 về trước.
Một số thông tin liên quan đến thủ tục hải quan và thuế đối với hàng nhập khẩu vào Trung
Quốc:
• Yêu cầu về chứng từ nhập khẩu
Thông thường, nhà nhập khẩu Trung Quốc (đại lý, hãng phân phối, đối tác liên doanh) tiến
hành thu thập những chứng từ cần thiết liên quan đến việc nhập khẩu hàng hoá và xuất
trình cho cơ quan Hải quan Trung Quốc. Chứng từ cần thiết cho mỗi loại hàng sẽ khác
nhau, nhưng đều phải có những chứng từ bắt buộc sau: Vận đơn; Hoá đơn; Bảng kê giao
hàng; Tờ khai hải quan; Chứng nhận bảo hiểm và Hợp đồng;
Những mặt hàng đặc biệt sẽ yêu cầu thêm các chứng từ sau: Hạn ngạch nhập khẩu; Giấy
phép nhập khẩu; Chứng nhận giám định do Cơ quan Kiểm tra chất lượng, giám định và
kiểm dịch Trung Quốc hoặc Chi nhánh tại địa phương cấp và Giấy chứng nhận chất lượng
hoặc Giấy chứng nhận an toàn sản phẩm khác...
• Hàng cấm nhập khẩu
Những mặt hàng cấm nhập khẩu vào Trung Quốc gồm:
- Tiền giả và các loại chứng khoán giả;
- Ấn phẩm, phim ảnh, những phương tiện truyền thông tác động xấu đến tình hình chính
trị, kinh tế, văn hoá và những giá trị đạo đức của Trung Quốc;
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 15
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
- Thuốc độc gây chết người;
- Chất gây nghiện;
- Động thực vật gây bệnh;
- Thực phẩm, dược phẩm và những hàng hoá khác đến từ những khu vực đang bị dịch
bệnh;
- Quần áo cũ/đã qua sử dụng;
- Đồng nhân dân tệ RMB.
Page 17
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
2. Trị giá tính thuế
Giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu là giá CIF, bao gồm giá giao dịch thông thường của
hàng hoá, cộng chi phí đóng gói, cước vận chuyển, phí bảo hiểm, và tiền hoa hồng của
người bán. Trước khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã áp dụng một số qui định mới về trị
giá tính thuế. Theo những qui định này, Hải quan Trung Quốc đã ấn định giá tính thuế cho
tất cả hàng nhập khẩu theo thị trường. Để thực hiện công việc này, nhân viên hải quan phải
truy cập vào hệ thống dữ liệu về giá trị hàng nhập khẩu, đưa ra bảng kê trị giá tương ứng
cho từng mặt hàng nhập khẩu, trên cơ sở giá thị trường quốc tế, giá thị trường nước ngoài
và giá nội địa. Nhân viên hải quan kiểm tra giá trị do nhà nhập khẩu kê khai so với bảng kê
này. Thông thường, nhân viên hải quan chấp nhận giá nhà nhập khẩu kê khai. Tuy nhiên,
nếu giá trị kê khai chênh lệch quá lớn so với bảng giá qui định, thì nhân viên hải quan sẽ tự
ước tính giá trị của hàng hoá dựa trên phương pháp ghi trong mục 7 của Các biện pháp xác
định trị giá hải quan cho hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc.
3. Phân loại biểu thuế
Hải quan Trung Quốc chỉ sử dụng hệ thống biểu thuế hài hoà 8 chữ số chứ không dùng mã
chi tiết hơn 10 chữ số. Nhân viên Hải quan rất thận trọng khi phân loại hàng nhập khẩu vào
từng nhóm hàng chung trong biểu thuế.
4. Thuế quan
Trong số các loại thuế thông thường,các doanh nghiệp trong và ngoài nước đều phải nộp
thuế VAT và thuế kinh doanh. Thuế VAT đánh vào việc bán, nhập khẩu hàng hoá và cung
cấp các dịch vụ chế biến, sửa chữa và thay thế. Thuế kinh doanh đánh vào người cung cấp
dịch vụ, chuyển nhượng hàng hoá vô hình và/hoặc buôn bán bất động sản trong lãnh thổ
Trung Quốc. Thuế VAT được đánh trên trị giá tính thuế cộng với số các khoản thuế phải
nộp trước. Hiện nay Trung Quốc đang bị ràng buộc bởi các quy tắc của WTO về việc đánh
thuế đồng nhất cho hàng nhập khẩu và hàng nội địa. Người nhập khẩu phải nộp thuế VAT
ngay tại biên giới Trung Quốc.
Trung Quốc áp dụng nhiều mức thuế suất ưu đãi. Mức thuế VAT thông thường là 17%, tuy
nhiên đối với những mặt hàng thiết yếu như nông sản, nhiên liệu và các mặt hàng thiết yếu
- Những nhu cầu đặc biệt của Chính phủ (ví dụ: nhằm nâng cấp cơ sở hạ tầng).
6. Giải quyết những tranh chấp về trị giá tính thuế
Nếu công ty nước ngoài có thắc mắc về việc phân loại hay cách tính trị giá tính thuế cho
một loại hàng cụ thể của Hải quan, thì trước tiên nên yêu cơ quan hải quan khu vực tại
cảng đến xem xét lại. Nếu sau khi hải quan khu vực xem xét không đưa đến một kết quả
như mong muốn, công ty đó có thể khiếu nại lên trụ sở Tổng cục Hải quan ở Bắc Kinh.
Trong trường hợp đơn khiếu nại bị bác, công ty đó có thể dùng biện pháp cuối cùng là nhờ
tới hệ thống luật pháp Trung Quốc. Những vấn để phát sinh tại cảng nhập khẩu phần lớn là
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 19
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
do việc nhẫm lẫn trong phân loại hàng nhập khẩu hoặc do nhân viên giám định hải quan
địa phương thiếu những hiểu biết về các chính sách và qui định của Hải quan. Nếu do
những nguyên nhân này thì vụ việc thường được đưa ra xem xét giải quyết tại Tổng cục
Hải quan và quá trình này có thể kéo dài vài tháng. Trong trường hợp liên quan đến công ty
do nước ngoài đầu tư ở Trung Quốc, có thể Bộ Thương mại (trước đây là MOFTEC) sẽ
trực tiếp đứng ra giải quyết.
Một số yêu cầu về giấy chứng nhận và giám định hàng nhập khẩu vào Trung Quốc
• Những yêu cầu về nhãn mác
Theo luật Trung Quốc về những tiêu chuẩn an toàn và chất lượng sản phẩm, một số hàng
nhập khẩu yêu cầu phải được giám định và chứng nhận phù hợp với những tiêu chuẩn bắt
buộc quốc gia, những tiêu chuẩn nội thương và những tiêu chuẩn qui định trong hợp đồng.
Một sản phẩm nếu được cấp giấy chứng nhận chất lượng sẽ được dán nhãn an toàn sản
phẩm. Mọi hàng hoá lưu thông trên thị trường Trung Quốc đều phải có mác kèm theo các
thông tin liên quan bằng tiếng Trung Quốc. Cơ quan Kiểm dịch và Y tế quốc gia yêu cầu
hàng thực phẩm nhập khẩu như: Kẹo, rượu, quả hạch, thực phẩm đóng hộp và pho mát
phải được dán tem với nhãn dính laze chứng nhận an toàn sản phẩm. Nhà nhập khẩu phải
chịu phí dính nhãn có hình, và nhãn dính có hình chỉ được đính vào sản phẩm khi có sự
đồng ý của Cơ quan SACI (Cơ quan Kiểm dịch hàng xuất nhập khẩu Nhà nước). Luật Dán
10. Thiết bị bảo vệ an toàn
11. Các chi tiết bộ phận của máy chẩn đoán y học X quang, máy phân tích máu, máy điều
hoà nhịp tim, máy ghi điện tim, máy chẩn đoán siêu âm.
12. Các chi tiết bộ phận của hệ thống kính an toàn tự động, bánh hơi, lốp xe máy;
13. Đầu máy video và thiết bị thu thanh.
14. Những chi tiết của Tủ lạnh, máy điều hoà, máy nén động cơ, máy vô tuyến, máy chiếu
hình. Ngoài những hàng hoá yêu cầu phải được giám định và được SACI chứng nhận, Bộ
Lao động chịu trách nhiệm đối với việc vận chuyển đầu máy xe lửa, tàu nén (di động và cố
định), và những phụ tùng an toàn của những sản phẩm này. Dù chưa có những tiêu chuẩn
chi tiết cho các sản phẩm này song Bộ Lao động đã ban hành những văn bản hướng dẫn cụ
thể đối với những sản phẩm này.
• Tiêu chuẩn giám định
Giám định hàng nhập khẩu: Luật Trung Quốc qui định rằng, mọi hàng hoá có tên trong
danh sách những mặt hàng phải giám định đã công bố hoặc phải tuân theo các qui định về
giám định hàng dựa vào các nguồn luật và các qui định khác, hoặc phải tuân theo các điều
khoản của hợp đồng ngoại thương đều phải được giám định trước khi nhập khẩu, bán đi
hoặc lưu thông ở Trung Quốc. Ngoài ra, đối với dược phẩm, thực phẩm, súc sản, nông sản
và sản phẩm cơ khí và điện tử còn phải xuất trình giấy chứng nhận sản phẩm an toàn và
phải tuân theo các qui định khác.
Người nhập khẩu Trung Quốc hoặc những đại lý mua hàng của họ phải đăng ký để giám
định hàng hoá tại cảng đến. Phạm vi giám định do cơ quan giám định hàng hoá địa phương
đảm nhiệm, bao gồm: Giám định chất lượng, qui cách kỹ thuật, số lượng, trọng lượng, bao
bì và những yêu cầu về an toàn khác. Tiêu chuẩn giám định dựa trên cơ sở hệ thống tiêu
chuẩn bắt buộc quốc gia Trung Quốc, tiêu chuẩn nội thương hoặc nếu không thì dựa trên
những tiêu chuẩn được qui định trong hợp đồng mua bán.
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 21
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
Để đáp ứng được những yêu cầu giám định tại cảng đến, nên lấy được giấy chứng nhận
chất lượng Trung Quốc do cơ quan có thẩm quyền cấp, trước khi giao hàng sang Trung
3. Người tiêu dùng cuối cùng Trung Quốc mua hàng nhập khẩu hay người tiêu dùng nước
ngoài cuối cùng mua hàng Trung quốc không khiếu nại đơn xin miễn giám định hàng xuất
nhập khẩu.
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 22
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
Người yêu cầu sẽ không được chấp thuận đơn xin miễn giám định nếu xuất hoặc nhập
hàng có liên quan đến những yêu cầu về an toàn và vệ sinh sản phẩm và những hàng hoá
đặc biệt sau:
1. Ngũ cốc và dầu thô, đồ chơi, mỹ phẩm và thiết bị điện.
2. Hàng nhập khẩu phải có giấy chứng nhận chất lượng và an toàn sản phẩm.
3. Hàng dễ bị giảm giá trị hoặc hàng rời;
4. Những hàng hoá mà việc lập giá cả và tiến hành thanh toán phải được thực hiện căn cứ
vào những bộ phận cấu thành sản phẩm ghi trên giấy chứng nhận giám định hàng hoá do
hợp đồng yêu cầu;
5. Những container kín dùng để xuất nhập khẩu hàng nguy hiểm.
Người yêu cầu muốn xin miễn giám định hàng hoá phải làm các thủ tục theo trình tự sau
đây:
1. Người yêu cầu phải điền đầy đủ và nộp đơn xin miễn giám định hàng hoá và những giấy
tờ có liên quan cho Cơ quan Giám định hàng xuất nhập khẩu Nhà nước (bao gồm: Giấy
chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng; Tiêu chuẩn chất lượng; Tài liệu về qui trình kỹ
thuật; Giấy chứng nhận mức tiêu chuẩn giám định; Biên bản kiểm tra sơ bộ của cơ quan
giám định hàng hoá và lời nhận xét của người tiêu dùng cuối cùng).
Mẫu Đơn xin miễn giám định và mẫu Biên bản giám định sơ bộ của cơ quan giám định,
xem phần phụ lục.
2. Người yêu cầu miễn giám định chỉ được xuất trình đơn xin cùng các chứng từ kèm theo
sau khi tổ chức giám định hàng hoá đã tiến hành giám định sơ bộ tại nơi sản xuất của
doanh nghiệp phù hợp bộ qui tắc và qui định có liên quan. Sau khi nhận được đơn xin miễn
giám định hàng hoá, Cơ quan Giám định hàng xuất nhập khẩu Nhà nước xem xét đơn yêu
cầu và phải ra một trong những quyết định sau:
6. Đưa ra kết luận giám định và lập biên bản giám định.
Căn cứ vào biên bản giám định của nhóm chuyên gia Cơ quan Giám định hàng xuất nhập
khẩu Nhà nước phải ra một trong những quyết định sau về đơn xin miễn giám định hàng
hoá : Phê chuẩn đơn và cấp giấy chứng nhận kiểm tra giám định nêu đơn xin phù hợp với
những điều khoản của bộ qui tắc này; Bác đơn và thông báo cho người yêu cầu về quyết
định này nếu đơn không phù hợp với những điều khoản của bộ qui tắc này.
Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận miễn giám định hàng hoá sẽ do Cơ quan Giám
định hàng xuất nhập khẩu Nhà nước qui định, thông thường không vượt quá 3 năm.
Khi làm thủ tục thông quan hàng hoá, người yêu cầu đã được miễn giám định hàng hoá chỉ
phải xuất trình cho cơ quan giám định có liên quan Giấy chứng nhận miễn giám định, hợp
đồng ngoại thương, thư tín dụng, giất chứng nhận chất lượng hàng hoá và những chứng từ
khác. Nếu đối với hàng xuất khẩu miễn giám định yêu cầu phải có Giấy chứng nhận giám
định hàng hoá thì cơ quan giám định hàng hoá có liên quan sẽ cấp một giấy chứng nhận
giám định căn cứ vào giấy chứng nhận chất lượng hàng hoá do người yêu cầu xuất trình.
Đối với những hàng hoá có yêu cầu về số lượng, chất lượng và bao bì sản phẩm thì giấy
chứng nhận sẽ được cấp sau khi kiểm tra hàng hoá phù hợp các qui định có liên quan.
Doanh nghiệp sản xuất được cấp Giấy chứng nhận miễn giám định đối với hàng xuất nhập
khẩu sẽ phải chịu sự giám sát và quản lý của các tổ chức giám định hàng hoá.
Các tổ chức giám định hàng hoá có thể tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên hàng xuất nhập khẩu
đã được cấp giấy chứng nhận miễn giám định và nếu phát hiện có vấn đề về chất lượng
hàng hoá thì lô hàng đó sẽ không được thông quan mà không qua giám định.
GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu
Page 24
Kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh thương mại
Nếu Cơ quan Giám định hàng xuất nhập khẩu Nhà nước nhận được đơn từ khiếu nại về
chất lượng của hàng xuất nhập khẩu miễn giám định từ phía người tiêu dùng cuối cùng
hoặc từ biên bản giám định của các tổ chức giám định thì tuỳ từng trường hợp cụ thể SACI
sẽ cử nhóm chuyên gia xem xét biên bản của các tổ chức giám định hoặc cử nhóm nhóm
chuyên gia tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên lô hàng miễn giám định nói trên và lập biên bản
kiểm tra. Người yêu cầu và đơn vị sản xuất không được phép thay đổi tài sản, kết cấu và
Page 25