MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................1
CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ NGẦM...................5
CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ NGẦM...................5
1.1. KHÁI NIỆM KINH TẾ NGẦM .......................................................................... 5
1.1.1. Đôi nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề kinh tế ngầm ........................ 5
Bảng 1.1. Tóm tắt quan niệm của các nước về khu vực kinh tế phi chính thức
6
1.1.2 Kinh tế ngầm như là một bộ phận của nền kinh tế phi chính thức 11
Bảng 1.2. Phân loại các khu vực kinh tế ............................................................ 18
1.2. PHÂN LOẠI CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG KHU VỰC KINH TẾ NGẦM ...... 18
1.2.1. Các hoạt động sản xuất ngầm ........................................................ 18
1.2.2. Các hoạt động kinh tế phi pháp ...................................................... 19
1.2.3. Các hoạt động tội phạm, lừa đảo – phi kinh tế .............................. 20
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỚNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
NGẦM 20
1.3.1. Nhóm các yếu tố kinh tế ................................................................. 20
1.3.2. Nhóm các yếu tố chính trị - xã hội ................................................. 23
1.4. KHU VỰC KINH TẾ NGẦM Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI .............. 25
1.4.1. Khu vực kinh tế ngầm tại các nước OECD ................................... 25
Bảng 1.3. Ước tính tỷ trọng trung bình của khu vực kinh tế ngầm trong
GDP của 3 nhóm nước giai đoạn 1989-1993 (% GDP) ..................................... 26
Bảng 1.4. Độ lớn khu vực kinh tế ngầm ở một số nước vào những năm 1990
27
1.4.2. Khu vực kinh tế ngầm tại các nước đang phát triển ...................... 27
Bảng 1.5. Lực lượng lao động thành thị làm việc trong khu vực phi chính qui
tại một số nước đang phát triển của châu Á ...................................................... 28
1.4.3. Khu vực kinh tế ngầm tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi .... 29
Bảng 1.6. Ước tính quy mô của khu vực kinh tế ngầm tại một số nước chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường ........................................................................... 30
KINH TẾ NGẦM TẠI VIỆT NAM...................................................................70
3.1. KHU VỰC KINH TẾ NGẦM TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ............... 70
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển khu vực kinh tế ngầm tại Việt Nam
70
3.1.2. Đặc điểm của khu vực kinh tế ngầm tại Việt Nam ....................... 71
3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của khu vực kinh tế ngầm ở
nước ta 73
a. Bình quân các loại đất đai trên đầu người qua các giai đoạn...................................75
b. Chỉ số phát triển giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế............77
3.1.4. Những khó khăn chung khi tiến hành khảo sát khu vực kinh tế ngầm
tại nước ta (từ kinh nghiệm khảo sát ở Hà Nội) .............................................. 77
3.2. ĐÁNH GIÁ ĐỘ LỚN CỦA KHU VỰC KINH TẾ NGẦM Ở VIỆT NAM ...... 79
3.2.1. Đánh giá chung .............................................................................. 79
c. Đóng góp của khu vực phi chính qui vào GDP, 1993 (%) .....................................80
3.2.2. Đánh giá bằng phương pháp tỷ lệ co giản tiêu thụ điện năng/mức tăng
GDP 82
d. Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 1995-1999, tính theo giá so sánh năm
199482
e. Tình hình tiêu thụ điện năng giai đoạn 1995-2000..................................................82
f. Hệ số đàn hồi giữa nhịp độ tăng trưởng nhu cầu điện năng và tăng trưởng kinh tế giai
đoạn 1995-1999..........................................................................................................83
3.2.3. Đánh giá bằng phương pháp tỷ lệ thất nghiệp – việc làm ........... 84
g. Các số liệu thống kê chính thức phục vụ nhu cầu tính toán.....................................84
h. Qui đổi thời gian nhàn rỗi của lao động thành đơn vị lao động chuẩn.....................86
i. Ước tính giá trị kinh tế ngầm của các ngành nông lâm nghiệp và thủy sản (I)..........86
j. Ước tính số lượng người tham gia thuần vào các hoạt động phi chính thức ở khu vực
thành thị 87
ii
k. Ước tính giá trị hoạt động kinh tế ngầm trên cơ sở số lượng lao động tham gia thuần
(II) 88
4.2.4. Phát triển thị trường lao động ...................................................... 112
Bảng 4.2. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị
phân theo vùng..........................................................................................................113
4.3. CÁC GIẢI PHÁP CẤP THIẾT – NGẮN HẠN .............................................. 113
KẾT LUẬN........................................................................................................117
KẾT LUẬN........................................................................................................117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................118
PHỤ LỤC .............................................................................................................vi
PHỤ LỤC .............................................................................................................vi
iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1.Tóm tắt quan niệm của các nước về khu vực kinh tế phi chính thức
6
Bảng 1.2.Phân loại các khu vực kinh tế ............................................................. 18
Bảng 1.3. Ước tính tỷ trọng trung bình của khu vực kinh tế ngầm trong GDP
của 3 nhóm nước giai đoạn 1989-1993 (% GDP) .............................................. 26
Bảng 1.4. Độ lớn khu vực kinh tế ngầm ở một số nước vào những năm 1990
27
Bảng 1.5. Lực lượng lao động thành thị làm việc trong khu vực phi chính qui
tại một số nước đang phát triển của châu Á ...................................................... 28
Bảng 1.6.Ước tính quy mô của khu vực kinh tế ngầm tại một số nước chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường ........................................................................... 30
Bảng 2.1.Đánh giá độ lớn của khu vực kinh tế ngầm tại Cộng hòa Belarus bằng phương pháp tiền
tệ 45
Bảng 2.2.Khả năng ứng dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá khu vực kinh tế ngầm....54
a.Bình quân các loại đất đai trên đầu người qua các giai đoạn......................................75
b.Chỉ số phát triển giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế...............77
c.Đóng góp của khu vực phi chính qui vào GDP, 1993 (%) ........................................80
d.Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 1995-1999, tính theo giá so sánh năm
Bảng A.3. Tổng kết ý kiến đề xuất của doanh nghiệp...........................xiv
v
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế ngầm là khái niệm không xa lạ gì đối với các nước phát triển, nhưng lại là
một hiện tượng mới ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế
chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường như ở nước ta. Quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế mạnh mẽ đã làm bùng phát nhiều mối quan hệ thị trường phức
tạp trên cơ sở nền kinh tế đa thành phần, đa sở hữu, cộng thêm vào đó là sự non trẻ và
thiếu kinh nghiệm của một thể chế quản lý mới … tất cả đã tạo điều kiện hình thành nên
một khu vực kinh tế không nhỏ, nhưng hoàn toàn nằm ngoài sự quản lý của nhà nước.
Kinh tế ngầm là một phần của khu vực đó, thường được hiểu bao gồm các hoạt động sản
xuất – kinh doanh bất hợp pháp; các hoạt động phi kinh doanh liên quan đến chiếm dụng
tài sản hay tạo thu nhập bất chính thông qua: gian lận thương mại, tham nhũng, trốn thuế,
cố ý làm thất thoát ngân sách nhà nước… Độ lớn của khu vực kinh tế ngầm không hề nhỏ
(như ở nước ta, chỉ tính riêng trong đầu tư xây dựng cơ bản thất thoát hàng năm lên tới
hàng chục nghìn tỷ đồng), nên hoàn toàn có cơ sở để khẳng định đây là một trong những
cản trở lớn nhất, làm giảm tốc độ cũng như chất lượng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam.
Không những thế, kinh tế ngầm còn là “cái ung” chứa đựng những vấn đề kinh tế - xã hội
nhức nhối: tệ nạn xã hội, buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo, gian lận thương mại… và đặc biệt
là tham nhũng. Thế nhưng, tới thời điểm này, ngoài một số bài báo rời rạc đăng trên các
tạp chí chuyên ngành (Tia Sáng, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Nghiên cứu Kinh tế) hầu
như chúng ta chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu vấn đề này một cách hệ thống.
Trong bối cảnh đó, thiết nghĩ, việc tìm hiểu, nghiên cứu, soạn thảo phương pháp phù hợp
để nhận dạng, đánh giá và tìm cách từng bước đưa khu vực kinh tế ngầm ra ánh sáng – là
một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa.
2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trên thế giới, khái niệm khu vực kinh tế ngầm trong nền kinh tế quốc dân đã được
Về không gian: Trong khuôn khổ tài chính cho phép đề tài sẽ tiến hành thử nghiệm
điều tra khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội (cũ).
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là thông qua việc đo lường và đánh giá ảnh hưởng của kinh tế
ngầm đối với nền kinh tế Việt Nam, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tối đa mức độ
ảnh hưởng tiêu cực của khu vực kinh tế này đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ sau:
2
- Tìm hiểu và xác định cơ sở lý luận để nhận dạng, phân loại đánh giá độ lớn
của nền kinh tế ngầm tại Việt Nam.
- Lựa chọn phương pháp xác định độ lớn và đánh giá mức độ ảnh hưởng của
khu vực kinh tế ngầm đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân.
- Ứng dụng các phương pháp trên để khảo sát và đánh giá độ lớn của kinh tế
ngầm và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế.
- Nghiên cứu, phân tích và đề xuất giải pháp để tăng cường hiệu quả quản lý
Nhà nước đối với khu vực kinh tế này.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kinh tế ngầm cần phải có cách tiếp cận hệ thống, xem xét sự hình thành,
vận động của khu vực kinh tế này trong mối quan hệ biện chứng với các điều kiện phát
triển kinh tế xã hội ở nước ta trong giai đoạn chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Để tìm ra
được một phương pháp đánh giá khu vực kinh tế ngầm phù hợp, nhóm nghiên cứu sẽ tiến
hành cùng lúc một số công việc: 1) nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm của các nước
phát triển; 2) khảo sát thực tiễn Việt Nam thông qua điều tra, phỏng vấn hai nhóm đối
tượng chính: cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp; 3) nghiên cứu ý kiến chuyên gia
trong và ngoài nước thông qua tài liệu thứ cấp; 4) phân tích, đánh giá, tổng hợp, hình
thành phương pháp tối ưu. Trên cơ sở phương pháp được lựa chọn, nhóm nghiên cứu sẽ
tiến hành ứng dụng thực tế để nhận dạng khu vực kinh tế ngầm và đánh giá ảnh hưởng
của nó đối với sự phát triển của một địa phương (thành phố Hà Nội). Dựa trên việc phân
tích các kết quả khảo sát vừa có được, kết hợp với cơ sở lý luận chung, nhóm nghiên cứu
1.1.1. Đôi nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề kinh tế ngầm
Thực tế cho thấy, khi đánh giá thực lực của một nền kinh tế để ra sách lược phát
triển mà chỉ xem xét tới khu vực kinh tế hợp pháp, chính thống, kiểm soát được là hoàn
toàn không khách quan và thiếu chính xác. Khu vực kinh tế phi chính thức, dù chúng ta có
muốn hay không thì vẫn luôn luôn tồn tại và đóng một vài trò không nhỏ trong sự vận
động của nền kinh tế quốc dân. Khu vực kinh tế này hiện diện ở khắp mọi nơi, ở bất kỳ
nước nào từ các nước kém phát triển tới những nước có nền kinh tế thị trường lâu đời và
được coi là hoàn hảo nhất. Tuy nhiên, với các nền kinh tế đang ở trong giai đoạn chuyển
đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang thị trường như ở nước ta hiện nay, vai trò của khu vực
kinh tế ngoài chính thống lại càng có một vị trí đặc biệt. Đơn giản là vì trong quá trình
dịch chuyển cơ cấu kinh tế, các thể chế kinh tế cũ đương nhiên bị phá vỡ, trong khi các
thể chế mới chưa được hình thành, các chủ thể kinh tế đặc biệt là các cơ quan hoạch định
chính sách luôn ở trong tình trạng “vừa dò đường vừa tiến”. Tất cả đã tạo nên mảnh đất
màu mỡ cho kinh tế phi chính thống phát triển.
Như chúng ta đã biết mỗi quốc gia có những đặc điểm kinh tế, xã hội khác nhau, nên cách
tiếp cận, cách phân loại, phương pháp đánh giá khu vực kinh tế phi chính thống này mỗi nơi một
khác. Ngay như tên gọi cũng đã cho ta thấy sự đa dạng và phong phú của nó:
- kinh tế (khu vực) phi chính qui (Informal Economy (Sector);
- kinh tế bóng đen (Shadow Economy);
- kinh tế chìm (Underground Economy);
- kinh tế ngầm (Hidden Economy);
- kinh tế phi chính thức (Unofficial Economy);
- kinh tế không được giám sát (Non-observed Economy; Unobserved Economy);
- khu vực phi kết cấu (Unstructural Sector);
- kinh tế song song (Parallel Economy);
- kinh tế đen (Black Economy);
- kinh tế xám (Grey Economy);
- kinh tế bất hợp pháp (Illegal Economy);
- kinh tế vô hình (Invisible Economy);
5
4. Quan niệm của Ấn Độ Khu vực phi chính qui bao gồm các đơn vị không đăng ký và
không được liệt kê chính thức, cũng như không rơi vào phạm vi
hoạt động của pháp luật và quy định của nhà nước.
5. Quan niệm của Tổ chức
lao động thế giới (ILO)
Khu vực phi chính qui là các đơn vị kinh tế có quy mô nhỏ, sản
xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ do người lao động tự do,
người lao động trong gia đình và một số ít người lao động khác
đảm nhận. Đặc điểm của khu vực này là dễ thâm nhập, yêu cầu về
vốn thấp, sử dụng công nghệ và kỹ năng đơn giản, năng suất lao
động thấp.
6. Quan niệm của Tổ chức
hợp tác và phát triển kinh
tế (OECD)
Kinh tế ngầm được sử dụng để biểu thị tất cả các hoạt động về
nguyên tắc phải được tính vào GDP nhưng thực tế lại không tính
được do chúng được giấu giếm trước cơ quan nhà nước. Đó là
hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ hợp pháp nhưng không
khai báo, sản xuất hàng hóa dịch vụ bất hợp pháp và thu nhập vô
hình.
7. Quan niệm của Ngân
hàng thế giới
Hoạt động phi chính thức là hoạt động mà giá trị gia tăng không
được ghi nhận do các hãng hoặc cá nhân cố ý khai báo sai hoặc
trốn tránh không khai báo.
1
Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú (1997). Khu vực kinh tế phi chính quy: Một số kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn
Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, tr. 8-9.
6
Như vậy, dù với cách nhìn nhận như thế nào thì các nhà nghiên cứu đều có chung
- tăng tuổi thọ trung bình;
2
Gutmann P.M. The Subterranean Economy // Financial Analysts Journal. 1977. November – December.
3
Carter M. Issues in the hidden economy: A Survey // Economic record. Parkville, 1984. V.60.#170. Gutmann
P.M. The grand unemployment illusion // Journal of the institute for Socioeconomic Studies. 1979.V.4. #2.
Kaufmann D., Kaliberda A. Integrating the unofficial economy into the dynamics of postsocialist economies: a
framework of analysis and evidence / Economic transition in Russia and the new states of Eurasia. Armonk, NY.:
M.E. Sharpe, Inc.
7
- thuyên giảm bảo đảm xã hội cho người về hưu.
Khác với các nước thứ ba, khu vực kinh tế ngầm tại các nền kinh tế phát triển
thường thu hút lao động không có năng lực cạnh tranh như: người nhập cư (hợp pháp và
không hợp pháp), nội trợ, sinh viên, người về hưu. Với những đối tượng này, hoạt động
ngầm (bán thời gian, không khai báo hay đăng ký) dường như là một loại hình công việc
duy nhất để kiếm thu nhập. Doanh nghiệp nhu nhận các đối tượng này làm việc với mục
đích tăng phần lợi nhuận của hoạt động kinh doanh. Điểm này rất khác với mục đích tham
gia vào khu vực kinh tế ngầm của người dân ở các nước đang phát triển – là để tồn tại.
Trong nhóm các nghiên cứu về khu vực kinh tế ngầm ở các nước đang phát triển
chúng tôi muốn nhắc tới công trình nổi bật nhất của nhà kinh tế học người Pêru De Soto
Hernando
4
. Sở dĩ chúng tôi chọn Soto Hernando bởi đối tượng nghiên cứu của tác giả này
có nhiều nét tương đồng với hoàn cảnh của Việt Nam. Vừa mới ra đời, tác phẩm “Con
đường khác…” của Soto Hernando đã nhận được sự đánh giá rất cao của cộng đồng khoa
học quốc tế. Mục đích nghiên cứu của tác Ernando rất rõ ràng: “Tôi muốn chỉ ra vì sao
nước tôi lại có tới 48% các hoạt động kinh tế và 61,2% thời gian làm việc của người dân
đều ở khu vực bất hợp pháp. Khu vực này hiện chiếm tới 38,9% tổng sản phẩm quốc gia
(GNP) và vì sao với năng suất sản xuất chỉ bằng 1/3 khu vực hợp pháp kinh tế khu vực
bất hợp pháp này vẫn tiếp tục phát triển, dự định có thể đạt tới 61,3% GNP vào năm
đang đẩy người dân đến ngưỡng phi pháp – trốn thuế.
4. Nếu chi phí để không phạm pháp (ví dụ xin giấy phép, đóng thuế, kiểm tra
chất lượng sản phẩm…) vượt quá mức độ cho phép để người dân có thể tiến
hành sản xuất, kinh doanh trong điều kiện bình thường – thì người ta sẽ tìm
đến các hoạt động ngầm. Điều này cũng dễ hiểu, trên thực tế có nhiều tình
huống chúng ta muốn minh bạch, nhưng minh bạch đồng nghĩa không còn
lợi nhuận, chính vì vậy ta phải tìm cách lách luật, đi ngầm. Đơn cử như việc
đánh thuế lợi nhuận doanh nghiệp 28% là một mức thuế cao. Doanh nghiệp
đương nhiên sẽ tìm mọi cách để giảm thiểu lợi nhuận trốn thuế, từ việc mua
hóa đơn khống đến ký các hợp đồng ma, đội giá nguyên vật liệu đầu vào…
với mục đích tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận.
Bắt đầu từ những năm 1980 người ta thường xuyên tổ chức các hội thảo quốc tế về
kinh tế ngầm. Nội dung của các cuộc hội thảo này bàn về rất nhiều vấn đề khác nhau như:
Làm thế nào để đánh giá, thống kê độ lớn của khu vực kinh tế này? Kinh tế ngầm ở nền
kinh tế thị trường và kinh tế kế hoạch hóa tập trung giống và khác nhau ra sao? Ví dụ
trong công trình nghiên cứu của Ofer G., Vinokur A. (1980), các tác giả còn chỉ ra rằng
khu vực kinh tế ngầm ở các nước kinh tế kế hoạch hóa tập trung chỉ chiếm 3-4% GDP,
nhỏ hơn rất nhiều so với các nước phát triển kinh tế thị trường
6
. Năm 1991 tại châu Âu tại
Geneva đã diễn ra Hội thảo của cá nhà thống kê châu Âu về Kinh tế phi chính qui và kinh
tế ngầm. Kết quả của cuộc hội thảo này đã được in thành một Bản hướng dẫn có tính chất
6
Ofer G., Vinokur A. The Soviet Household under the Old Regime: Economic Conditions and Behavior in the
1970. Cambridge University Press, p.84.
9
tham khảo dùng để đánh giá khu vực kinh tế ngầm trong các nước có nền kinh tế thị
trường.
Trong lĩnh vực thống kê, từ những năm hai mươi của thế kỷ trước, trên thế giới có
hai hệ thống thông tin kinh tế-xã hội tổng hợp:
Lê Văn Toàn (Chủ biên) và các tác giả khác. Phương pháp biên soạn Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) ở Việt
Nam. Hà Nội: Tổng cục Thống kê, 1998. tr. 5
10
đợi tới phiên bản SNA93 (ra đời vào năm 1993) người ta mới đưa ra được hướng dẫn
tương đối hoàn chỉnh về việc định lượng các khu vực kinh tế nằm ngoài nền kinh tế chính
thống, trong đó có kinh tế ngầm. Đây là một trong những cơ sở nền tảng cần nghiên cứu
kỹ khi tiến hành đánh giá khu vực kinh tế ngầm. Chúng tôi sẽ làm chi tiết công việc này
trong những phần sau.
1.1.2 Kinh tế ngầm như là một bộ phận của nền kinh tế phi chính thức
Như vậy, muốn hiểu và xác định được một cách rõ ràng hơn về khái niệm kinh tế ngầm,
trước hết chúng ta cần có cách nhìn tổng quát về các khu vực của một nền kinh tế quốc dân, phân
tích được các mối liên hệ cơ bản, ranh giới giữa các khu vực này. Làm được như vậy chúng ta
mới đủ khả năng để nhìn nhận và đánh giá về một khu vực kinh tế vốn dĩ đã rất phức tạp bởi bản
chất tàng hình sẵn có. Tuy nhiên, chúng ta biết, mỗi quốc gia đều có những đặc điểm và cấu trúc
kinh tế khác nhau, do đó đã dẫn đến sự đa dạng và khác biệt trong nhiều cách tiếp cận. Bản thân
khái niệm kinh tế ngầm (hidden economy) cũng có nhiều khái niệm đồng dạng khác, ví dụ kinh
tế bóng đen (shadow economy); kinh tế chìm (underground economy); kinh tế đen (black
economy); kinh tế vô hình (invisible economy)… Cho đến nay thì trên thế giới, cũng như ở Việt
Nam, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu bản chất của các thuật ngữ này để phân biệt
chúng với nhau. Bản thân chúng tôi cũng chưa thể làm công việc này bởi đơn giản các nền kinh
tế không đứng yên mà luôn luôn chuyển động, thay đổi và phát triển. Việc mà chúng ta có thể
làm được là tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, qua đó hiểu rõ bản chất của nền kinh tế phi chính thức
và tìm một hướng tiếp cận phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế ở nước ta. Dưới đây xin được
trình bày cách hiểu của chúng tôi về kinh tế ngầm dựa trên cách tiếp cận của Hệ thống tài khoản
quốc gia 1993 – SNA93.
Nền kinh tế quốc dân thông thường được chia làm hai phần rõ ràng nhất. Một là khu vực kinh
tế chính thức (Official Economy), bao gồm toàn bộ các hoạt động sản xuất – kinh doanh (kinh tế) phù
hợp và không vi phạm pháp luật, không bị pháp luật nghiêm cấm. Hai là khu vực kinh tế còn lại mà
ta có thể gọi chung với tên gọi – khu vực phi chính thức (Unofficial Economy). Đây là khu vực hoạt
động của nhiều loại hình kinh tế phức tạp, với nhiều nét đặc thù khác nhau, phụ thuộc rất nhiều vào
(Hidden
Economy)
Kinh tế phi
chính qui
(Informal
Economy)
Kinh tế không được
giám sát (Non-
observed Economy)
Hoạt động
kinh tế có đăng
ký của các hộ
kinh doanh cá
thể
Sản xuất phi
pháp và phân
phối các mặt
hàng quốc cấm
Các hoạt
động ngầm
phi kinh tế
12
Thông thường đây được gọi là tầng tự nhiên của nền kinh tế phi chính thức (nằm
ngoài sự kiểm soát của nhà nước), bao gồm các hoạt động sản xuất – kinh doanh có qui
mô nhỏ, rất nhỏ với điều kiện thô sơ, vốn thấp, sử dụng lao động là chính. Do đó năng
suất thấp, cung cấp sản phẩm với giá cả chất lượng thấp, khối lượng nhỏ (buôn bán
nhỏ, phục vụ gia đình, phục vụ nhân lực cho hoạt động xây dựng, vận tải chính qui,
hụi, họ, sửa chữa nhỏ…). Với tính chất này, khu vực kinh tế phi chính qui năng động,
linh hoạt dễ dàng chuyển đổi sang hoạt động khác. Một số đặc điểm cơ bản của khu vực
phi chính qui là:
hợp pháp như sử dụng lao động trẻ em, sinh viên, hưu trí);
- hoạt động của những người kinh doanh không có tư cách pháp nhân (buôn bán
nhỏ, lẻ).
3. Hoạt động kinh tế hợp pháp nhưng không được tính tới do sự thiếu hoàn
thiện và khả năng hạn hẹp của hệ thống thống kê quốc gia.
4. Các hoạt động phạm pháp:
- Các hoạt động vốn hợp pháp nhưng trở nên bất hợp pháp vì người sản xuất (cung
ứng) không đủ điều kiện thực hiện theo qui định của pháp luật (ví dụ cung cấp
dịch vụ chữa bệnh khi chưa có bằng y khoa tương ứng).
- Hoạt động bất hợp pháp, sản xuất, buôn bán và phân phối các loại hàng hóa hay
dịch vụ bị pháp luật cấm, ví dụ như: sản xuất và buôn bán ma túy (chi tiết xem
Hình 3).
Khu vực phi chính qui
Khu vực thị trường Khu vực phi thị trường
Hoạt động sản xuất phi doanh
nghiệp trong khuôn khổ hộ gia
đình
Sản xuất sản phẩm dùng cho
nhu cầu nội bộ (sử dụng cuối
cùng, trung chuyển hoặc tích
lũy)
Hoạt động có đăng ký Hoạt động không đăng ký
14
Hình 1.4.Mối quan hệ của khu vực kinh tế không được kiểm soát với khu vực
kinh tế chính thức và phi chính thức
Như vậy, rõ ràng trong các hoạt động của phần kinh tế không được kiểm soát đã bao
gồm một phần hoạt động kinh tế ngầm (hoạt động kinh tế hoạc phi kinh tế cố tình che dấu
các cơ quan chức năng và hệ thống thống kê) và hoạt động phi chính thức (các hoạt động
không đăng ký hoặc chưa được kiểm soát vì một lý do khách quan nào đó).
Kinh tê ngầm (Hidden Economy)
xuất giấu diếm và các hoạt động phi kinh tế tạo thu nhập vô hình (bị giấu không nhìn
thấy được).
Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với cách hiểu về kinh tế ngầm nêu trên. Thông
thường các nhà nghiên cứu có mấy hướng tiếp cận cơ bản khi tiến hành xác định thành
phần của kinh tế ngầm. Người ta xem đó là tập hợp:
1) các hoạt động kinh tế và phi kinh tế bị cấm;
2) các hoạt động sản xuất ngầm (hidden production/work);
3) các hoạt động kinh tế vì một lý do nào đó mà không được hệ thống thống kê
chính thức tính đến, kể cả các hoạt động cố tình trốn thuế;
4) các hoạt động kinh tế không đăng ký trong khuôn khổ cả hai khu vực chính thức
và phi chính thức.
Với cách tiếp cận thứ nhất, kinh tế ngầm được xem đơn thuần là các hoạt động kinh
tế phạm pháp bị cấm đoán. Trong trường hợp này, thậm chí các hoạt động phi kinh tế
hạng nặng như: tội phạm có tổ chức, bảo kê, giết thuê theo đơn đặt hàng... cũng được liệt
kê vào kinh tế ngầm. Các hoạt động này gần như không liên quan trực tiếp đến sản xuất –
kinh doanh, tạo sản phẩm hay thu nhập trực tiếp của người lao động nhưng lại ảnh hưởng
trực tiếp đến việc phân chia lợi nhuận, thu nhập của nhiều thành phần kinh tế. Do đó
chúng hoàn toàn có thể được xem như là một bộ phận khó tách rời của các hoạt động kinh
tế khác. Theo cách tiếp cận thứ hai, khái niệm kinh tế ngầm gắn liền với sản xuất ngầm.
Sản xuất ngầm ở đây được hiểu là là các hoạt động sản xuất kinh doanh được phép nhưng
chủ thể sản xuất cố tình che dấu không khai báo với các cơ quan chức năng với mục đích
kinh tế nào đó như: trốn thuế, tăng thu nhập, tránh các trách nhiệm xã hội... Cách tiếp cận
thứ ba cho rằng toàn bộ các hoạt động kinh tế vì một lý do nào đó không được thống kê
tới đều được coi là ngầm. Cánh hiểu này rộng hơn so với hai cách trên, chú trọng vào
hình thức thống kê hơn là bản chất của hoạt động kinh tế có phạm pháp hay không. Cách
tiếp cận cuối cùng được đánh giá là tổng quát hơn cả. Theo đó, kinh tế ngầm được xem là
toàn bộ các hoạt động kinh tế dấu diếm (ngầm) và bị cấm ở cả hai khu vực cơ bản chính
thức và phi chính thức của một nền kinh tế quốc dân.
Có thể nhận thấy, khó có thể tìm ra một tiêu chuẩn chung để đánh giá kinh tế ngầm
của các nền kinh tế khác nhau trên thế giới. Bởi rất nhiều hoạt động kinh tế hợp pháp tại
vốn hợp pháp nhưng
trở nên phi pháp vì bản
thân người sản xuất
không có quyền làm
việc đó.
Hoạt động chiếm đoạt
tài sản (trộm, cướp,
lừa đảo…).
Tội phạm kinh tế (lừa
đảo khách hàng, vi
phạm hợp đồng…).
Lạm dụng quyền lực
(tham nhũng, cố ý
làm trái, lợi dụng
quyền lực trục lợi…)
17
Bảng 1.2.Phân loại các khu vực kinh tế
STT Khu vực kinh tế Dấu hiệu nhận biết
1. Kinh tế phi chính thức
(Unoficial Economy)
Là toàn bộ các hoạt động không nằm trong các hoạt động
chính thức
2. Kinh tế phi chính qui
(Informal Economy)
Các hoạt động sản xuất – kinh doanh có qui mô nhỏ, rất nhỏ
với điều kiện thô sơ, vốn thấp, sử dụng lao động là chính.
Do đó năng suất thấp, cung cấp sản phẩm với giá cả chất
lượng thấp, khối lượng nhỏ (buôn bán nhỏ, phục vụ gia
đình, phục vụ nhân lực cho hoạt động xây dựng, vận tải
chính qui, hụi, họ, sửa chữa nhỏ…)
được pháp luật qui định. Có thể liệt kê một số hoạt động sản xuất ngầm trên thực tế: thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, kế toán tài chính không đúng theo qui định của
18
pháp luật; không nộp các văn bản, báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý theo luật
định; lập các báo cáo tài chính – kế toán sai nguyên tắc với số liệu thiếu hoặc sai thực tế.
Hoạt động sản xuất ngầm có qui mô khác nhau ở các doanh nghiệp. Không thiếu các
daonh nghiệp hoàn toàn không có hoạt động sản xuất ngầm. Tuy nhiên, hoạt động này
vẫn thường gặp, đặc biệt là ở các doanh nghiệp đang có nền kinh tế chuyển đổi như ở
nước ta. Bởi vì với sự hỗ trợ của hoạt động này các doanh nghiệp có thể giải quyết được
một số bài toán nan giải như:
- bảo đảm nguồn thu nhập ổn định cho nhân viên trong điều kiện thị trường biến
động bất lợi, thất thường;
- giữ được mối quan hệ với bạn hàng và đối tác, thông qua tỷ lệ phần trăm hoa
hồng hoặc các khoản thanh toán tiền mặt tức thời;
- khuyến khích được hệ thống phân phối – một trong những vấn đề quyết định sự
tồn tại của doanh nghiệp;
- bảo đảm mối quan hệ “tốt” đối với đại diện các cơ quan quản lý nhà nước;
- tạo khả năng xâm nhập vào các lĩnh vực kinh doanh mới với mức sinh lời cao.
Như vậy, nếu nhìn một cách tổng quát, không phải bất cứ hoạt động ngầm nào cũng
có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Vấn đề là nhà quản lý
phải làm thế nào để từng bước minh bạch hóa các hoạt động này, hoặc tạo cơ chế để vừa
công khai hóa hoạt động vừa không ảnh hưởng đến lợi ích sát sườn của doanh nghiệp.
1.2.2. Các hoạt động kinh tế phi pháp
Các hoạt động kinh tế phi pháp bao gồm:
- hoạt động sản xuất và kinh doanh các loại hàng hóa và dịch vụ bị luật pháp cấm
cho dù có nhu cầu rất lớn ở trên thị trường;
- sản xuất và kinh doanh các loại hàng hóa và dịch vụ mà bản thân nhà sản xuất
không có giấy phép hợp lệ.
Nhóm này thường bao gồm các hoạt động như sản xuất và buôn bán ma túy, dịch vụ
môi giới mại dâm và một phần nào đó là các hoạt động sản xuất và buôn bán vũ khí