tiểu luận kinh tế lượng các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại 63 tỉnh thành việt nam năm 2016 - Pdf 64

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
--------------------

TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG
ĐỀ TÀI: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT
VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI TẠI 63 TỈNH
THÀNH Ở VIỆT NAM NĂM 2016
Sinh viên thực hiện:
Đoàn Thị Thu Thảo
Nguyễn Thanh Thảo
Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Lê Thùy Linh
Trương Quang Huy
Hướng Thị Thảo Linh

1813310152
1813310156
1813310069
1813310084
1813310062
1711110380

Lớp tín chỉ: KTE309(20192).2
Giảng viên hướng dẫn: TS. Chu Thị Mai Phương
Hà Nội, tháng 3 năm 2020

\


MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói, quá trình “đổi mới” bắt đầu từ năm 1986 là một bước ngoặt trong nền kinh tế
Việt Nam. Trong thời kì hội nhập và phát triển hiện nay, nền kinh tế Việt Nam vẫn kế
thừa lộ trình hòa nhập vào nền kinh tế thế giới để phát triển và trở thành một trong những
nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới trong nhiều năm trở lại đây. Để có thể
đạt được kết quả ấn tượng trên, chúng ta không thể không kể đến sự đóng góp không thể
thay thế của dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam từ năm 1988
đến nay.
Cùng với các biến số kinh tế khả quan, xu hướng tích cực của dòng vốn FDI vào Việt Nam
trong thời kì hiện nay đã trở thành động lực thôi thúc chúng em thực hiện đề tài Các nhân tố
ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại 63 tỉnh thành Việt
Nam năm 2016. Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của nguồn vốn này, chúng em
muốn thông qua bài tiểu luận này để có cái nhìn toàn diện và khách quan hơn về FDI, cũng
như tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam trong tương lai thông qua FDI, dựa vào các
chỉ số hiện tại (cụ thể là năm 2016). Từ đó, chúng em có thể đề xuất được một số giải pháp
để khai thác tối ưu các tiềm lực kinh tế sẵn có và có lợi thế tại mỗi tỉnh thành của Việt Nam
nhằm huớng tới mục tiêu chung là nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

Trong quá trình thực hiện tiểu luận, nhóm nghiên cứu đã gặp phải một số hạn chế nhất
định, có thể kể đến sự giới hạn của nguồn dữ liệu hay khó khăn trong việc nghiên cứu các
tài liệu tham khảo để chọn lọc các biến độc lập để đưa vào mô hình. Các hạn chế kể trên
có thể ảnh hưởng đến tính chính xác tuyệt đối của kết quả nghiên cứu, do vậy, nhóm
chúng em rất mong nhận được những ý kiến đánh giá, bổ sung của cô để nghiên cứu
được hoàn thiện hơn.
Bố cục tiểu luận gồm 4 phần:
Phần 1: Lời mở đầu - Tổng quan về nghiên cứu.
Phần 2: Nội dung nghiên cứu, gồm 3 mục:
1. Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động lên FDI.
2. Xây dựng mô hình kinh tế lượng dựa vào nguồn dữ liệu thu thập được.
3. Kết quả ước lượng mô hình, các kiểm định liên quan

thành của Việt Nam về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh
thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh.
1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về FDI thường xoay quanh nền tảng là mô hình OLI của John Dunning, tập
trung theo ba hướng nghiên cứu chính đó là: (1) “Tại sao”, đâu là động cơ để các tập đoàn
thực hiện FDI (Lợi thế về sở hữu của doanh nghiệp); (2) “Như thế nào”, việc đầu tư nên
được thực hiện ra sao để tối đa hóa lợi ích doanh nghiệp (Lợi thế về nội bộ hóa sản xuất); và
(3)“Ở đâu”, đâu là địa điểm thuận lợi để tiến hành đầu tư (Lợi thế về địa điểm). Trong đó, địa
điểm là vấn đề nhận được đặc biệt nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, bởi quyết định
của nhà đầu tư có thể bị ảnh hưởng mạnh khi họ cân nhắc tính khả thi bằng việc trả lời các
câu hỏi: Quốc gia, địa phương nào sẽ là nơi tốt nhất để xây dựng nhà máy, đâu sẽ là nơi đáp
ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư và có tiềm năng hứa hẹn để đem lại lợi

4


nhuận về lâu dài. Từ nhận định này, hàng loạt các nghiên cứu trước đó đã được tiến hành
và tập trung vào các yếu tố lợi thế về địa điểm: Tiềm năng thị trường, Lao động, Cơ sở
hạ tầng, Chính sách chính phủ và Tác động tích lũy.


Về tiềm năng thị trường, các biến thường được sử dụng phổ biến là Dân số, Tốc độ
tăng dân số, GDP, GDP đầu người hay Tốc độ tăng GDP. Vào tháng 1/ 2012, nghiên
cứu của Bulent Esiyok và Mehmet Ugur về các nhân tố liên quan đến lợi thế địa điểm
quyết định lên lượng vốn FDI tới 62 tỉnh thành ở Việt Nam từ năm 2006-2009 chỉ ra
rằng GDP trên đầu người của một địa phương càng cao thì số vốn FDI đăng kí càng
lớn, hay tác động của GDP lên FDI là tác động dương.




5


tác giả sử dụng các biến số liên quan đến doanh nghiệp như số lượng doanh nghiệp
trên 1000 dân, quy mô bình quân của doanh nghiệp về vốn và lao động hay doanh thu
bình quân của doanh nghiệp trên địa bàn. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố tích
lũy mang tới ảnh hưởng dương và có vai trò quan trọng, hay nói cách khác: “các nhà
đầu tư không hề có sự thay đổi tâm lý khi cân nhắc quyết định đầu tư trên khía cạnh
xem xét sự hoạt động của các doanh nghiệp trước đó” (trích từ nghiên cứu của
Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm).

6


CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH
2.1. Phương pháp luận của nghiên cứu
Trong quá trình thu thập số liệu, nhóm sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để thu
thập các con số liên quan đến các yếu tố tác động và dòng vốn đầu tư FDI.
Nhóm sử dụng phương pháp ước lượng OLS để xác định sự ảnh hưởng của các biến
đại diện cho các yếu tố tác động tới biến FDI.
2.2. Xây dựng mô hình lý thuyết
2.2.1. Xác định dạng mô hình
Từ việc tham khảo các mô hình và lý thuyết nêu trên, nhóm quyết định sử dụng hàm hồi
quy tuyến tính để thực hiện mục đích nghiên cứu. Hàm hồi quy tuyến tính tổng quát có
6 biến độc lập. Dạng hàm như sau:
FDI = β0 +β1*inc + β2* per + β3*pop+ β4*labor + β5*m + β6*pci + ui
Trong đó: β0: Hệ số tự do
βi: Hệ số hồi quy
ui: Sai số ngẫu nhiên
2.2.2. Mô tả các biến

Mang dấu (+) trong Tổng cục

Biến đại diện cho dân

Mang dấu (+) trong Tổng cục

số của một tỉnh

hàm hồi quy.

hàm hồi quy.

Nguồn

thống kê.

Mang dấu (+) trong Tổng cục
hàm hồi quy.

thống kê.

thống kê.

7


Tỷ lệ lao động từ 15
tuổi trở lên đã qua
Labor đào tạo.
(Đơn vị : %)


thống kê.

Mang dấu (+) trong Tổng cục
hàm hồi quy.
thống kê.

Nhóm kỳ vọng tất cả dấu của các biến độc lập trong hàm hồi quy mang dấu dương vì
những lý do sau đây:
Về biến thu nhập bình quân đầu người Inc, thu nhập bình quân đầu người tăng, đồng
nghĩa với việc họ sẵn sàng bỏ nhiều tiền hơn để thỏa mãn nhu cầu của mình, từ đó nhu
cầu của thị trường sẽ tăng lên. Do vậy khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì lượng
vốn FDI tăng.
Về biến tỷ lệ gia tăng dân số Per, tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm cao, dẫn đến việc tỉnh
này sẽ có nhiều lao động trong tương lai. Do vậy, khi tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm tăng
thì lượng vốn FDI tăng.
Về biến dân số của một tỉnh Pop, số lượng dân cư của một tỉnh càng cao thì lượng người
trong độ tuổi lao động càng lớn, sẽ là điều đáng lưu ý với các nhà đầu tư. Do vậy, khi dân
số của một tỉnh tăng thì lượng vốn FDI tăng.
Về biến tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo
Labor, giá trị này càng cao thể hiện lượng lao động đã qua đào tạo càng lớn. Do đó,
những người sử dụng lao động không cần mất nhiều chi phí để đào tạo lại lao động nữa.
Do vậy, khi tỷ lệ lao động từ tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo
tăng, lượng vốn FDI tăng.

8


Về biến khối lượng hàng hóa vận chuyển M, khối lượng hàng hóa vận chuyển của một
tỉnh có thể đại diện cho trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, cụ thể là hạ tầng giao thông.

nhất

11.11956
61.308
0.7765723
3.51
1309.686
8297.5
7.344954
42.9
23093.28
117306.5
2.929301
70
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán

Giá trị nhỏ
nhất

Số quan sát

14.652
0.04
319
8.6
939.9
52.99

63
63


4

6.35%

59.5 – 62.4 (Trung bình)

18

28.57%

28
56.5 – 59.5 (Tương đối thấp)
< 59.5 (Thấp)
11
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán

44.44%
17.46%

Đối với biến PCI, hầu hết các tỉnh có chỉ số PCI nằm trong khoảng từ 56.5 đến 65.4, chiếm
73.01% trên tổng số địa phương. Các chỉ số nằm trong khoảng này có ý nghĩa năng lực cạnh
tranh từ tương đối thấp cho đến trung bình khá. Trên cả nước có 2 địa phương có chỉ số năng
lực cạnh tranh đạt mức từ tốt trở lên và 11 tỉnh có năng lực cạnh tranh thấp.

Giá trị Pop

Số lần xuất hiện

Xác suất

Giá trị Per
< 0.5
0.5 - 10
1.0 – 1.5
1.5 – 2.0
2.0 – 2.5
2.5 – 3.0
>3

Số lần xuất hiện
16
21
12
6
6
0
2
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán

Xác suất
25.04%
33.33%
19.05%
9.52%
9.52%
0.00%
3.17%

10


Đối với biến Labor, đa số các tỉnh có tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong
nền kinh tế đã qua đào tạo đạt từ 10 - 30% trên tổng số dân, chiếm 87.3% số tỉnh. Ngoài
ra, có 3 tỉnh có tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua
đào tạo đạt dưới 10%, chỉ có 5 tỉnh đạt trên 30%.
Các giá trị Inc

Số lần xuất hiện
6

< 10

Xác suất
9.52%

10-20
20-30

6

9.52%

19

30.16%

30-40

21

> 40

11


10000 - 15000

9

14.29%

15000 - 20000

6

9.52%

20000 - 25000

4

6.35%

25000 - 30000

6

9.52%

35000 - 40000

1


PCI

1.0000

Pop

0.2483

1.0000

Per

-0.0640

0.0648

1.0000

Labor

0.4913

0.4846

0.1960

1.0000

Inc


0.2858
0.5588
0.7530
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán

0.8056

FDI

1.0000

Thông qua bảng trên ta thấy, biến FDI có tương quan (+) với tất cả các biến. Về độ mạnh
yếu, biến FDI có tương quan mạnh với các biến Pop, Inc và rất mạnh với M (Evans,
1996). Dự đoán 3 biến pop, inc và m có khả năng sẽ có ý nghĩa thống kê trong mô hình.

12


Biến pci chỉ có tương quan đáng kể với biến inc và labor, với các biến còn lại tương quan
yếu, pci chỉ có tương quan âm với biến per.
Biến pop có tương quan rất mạnh với biến m (Evans, 1996), dự đoán mô hình xảy ra đa
cộng tuyến không hoàn hảo. Biến pop gần như không đáng kể với biến per (độ tương
quan là 0.0648).
Biến per có tương quan yếu với tất cả các biến, tương quan âm với biến pci.
Biến labor có tương quan (+) với tất cả các biến và có tương quan mạnh với biến m
(Evans, 1996).
Biến inc có tương quan (+) với tất cả các biến, trong đó có tương quan mạnh với biến phụ
thuộc và m (Evans, 1996).
Biến m có tương quan (+) với tất cả các biến, trong đó có tương quan mạnh với các biến

Phần dư

8218504.18

56

146759.003

Tổng

43995153.7

62

709599.254

FDI

Hệ số
hồi quy

inc
per
pop
labor
m
PCI
Hệ số chặn

38.2656

1.97
-0.31
2.64
-2.31
1.39

0.000
0.018
0.054
0.761
0.011
0.025
0.170

Khoảng tin cậy với
độ tin cậy 95%
(24.54845 ; 51.9829)
(28.39777 ; 293.0323)
(-0.00228 ; 0.28597)
(-23.71142 ; 17.44006)
(0.00310 ; 0.022795)
(-96.39566 ; -6.87035)
(-730.932 ; 4041.713)

Bảng 1: Kết quả hồi quy OLS
(Nguồn: Nhóm tác giả tính toán)
3.2 Phân tích kết quả
3.2.1 Mô hình hồi quy mẫu
Ta có mô hình hồi quy mẫu:
̂̂


inc

Tốc độ gia tăng
dân số

per

160.715

2.43

0.018 (28.39777 ; 293.0323)

Dân số

pop

0.142

1.97

0.054 (-0.00228 ; 0.28597)

Tỷ lệ trên 15 tuổi
đã qua đào tạo

labor

-3.136


0.170 (-730.932 ; 4041.713)

Hệ số chặn
2

R
Số lượng quan sát

0.8132
63

Theo kết quả chạy hồi quy bằng phương pháp OLS trên phần mềm STATA, chúng ta thu
được hàm hồi quy mẫu (SRF) như sau:
̂̂

= 1655.391+ 38.266*inc + 160.715*per + 0 .142*pop - 3.136*labor + 0.013*m – 51.633*pci

3.2.2 Ý nghĩa các hệ số hồi quy



̂
Hệ số chặn = 1655.391: khi giá trị các biến độc lập trong mô hình bằng 0 thì tổng

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào 63 tỉnh thành là 1655.391 triệu USD.
̂

Hệ số = 38.266: khi thu nhập bình quân đầu người theo năm tăng lên 1 triệu đồng


3.136%, với điều kiện các yếu tố khác không đổi. Kết quả này trái với kỳ vọng.


̂
Hệ số = 0.013: khi khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 1 nghìn tấn thì tổng số





vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào 1 tỉnh thành tại Việt Nam tăng 0.013 nghìn
tấn, với điều kiện các yếu tố khác không đổi. Kết quả này hợp với kỳ vọng.
̂

Hệ số = – 51.633: khi chỉ số năng lực cạnh tranh tăng 1 đơn vị thì tổng số vốn



đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào 1 tỉnh thành tại Việt Nam giảm 51.633 đơn vị với
điều kiện các yếu tố khác không đổi. Kết quả phù trái với kỳ vọng.
3.2.3 Phân tích các số liệu liên quan








Số quan sát Obs = 63


Có ý nghĩa thống kê

inc

̂̂

per

̂̂

pop

̂̂

(-0.00228 ; 0.28597)



labor

̂̂

(-23.71142 ; 17.44006)



m

̂̂

Kiểm định hệ số hồi quy bằng phương pháp P-value:

17


Biến độc lập
inc

Hệ số hồi quy

per
pop

̂̂

labor

̂̂

pci

0.000

̂̂

̂̂

m

P-value

Biến per có hệ số p-value = 0.018 < 0.05, nghĩa là biến per có ý nghĩa thống kê với
mức ý nghĩa là 5%.
Biến pop có hệ số p-value = 0.054 > 0.05, nghĩa là biến pop không có ý nghĩa thống
kê với mức ý nghĩa là 5%.
Biến labor có hệ số p-value = 0.761 > 0.05, nghĩa là biến labor không có ý nghĩa
thống kê với mức ý nghĩa là 5%.
Biến m có hệ số p-value = 0.011 < 0.05, nghĩa là biến per có ý nghĩa thống kê với mức ý
nghĩa là 5%.
Biến pci có hệ số p-value = 0.025 < 0.05, nghĩa là biến per có ý nghĩa thống kê với mức ý
nghĩa là 5%.
Tóm lại, có 4/6 biến độc lập được đưa ra có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%, đó
là các biến inc, per, m, pci. 2 biến không có ý nghĩa thống kê trong mô hình là biến pop
và labor.
3.2.4.2. Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Kiểm định này nhằm xem xét trường hợp các tham số của biến số độc lập ̂i đồng thời bằng 0 có xảy ra không.

Giả thuyết thống kê:

̂
̂
̂
̂
̂
̂
{H0:1= 2= 3= 4= 5= 6=0

̂

̂


Trong STATA, ta gõ lệnh estat ovtest
Phân tích kết quả:
F(3, 53) =
Prob > F =

22.13
0.0000

Kết quả kiểm định cho ta p-value = 0.0000 < 0.05  Bác bỏ H0, chấp nhận H1: mô hình
bỏ sót biến.
Phân tích nguyên nhân của hiện tượng bỏ sót biến trong mô hình nghiên cứu:
Hiện tượng bỏ sót biến xảy ra khi mô hình lý thuyết đưa ra nghiên cứu là chưa vững.
Theo Pham (2002), vốn FDI đổ vào các địa phương trong phụ thuộc vào quy mô thị
trường, giáo dục và cơ sở hạ tầng. Meyer và Nguyen (2005) cho rằng quy mô thị trường
(đo bằng GDP), dân số, giáo dục và vận tải là những yếu tố có ý nghĩa thống kê đối với
biến phụ thuộc FDI. Anwar và Nguyen (2010) sử dụng mô hình GMM để kiểm tra yếu tố
tác động đến FDI trong giai đoạn 1996–2005 và tìm thấy mối quan hệ với các yếu tố
tăng trưởng kinh tế, quy mô thị trường, đầu tư trong nước, chất lượng lao động, chi phí
lao động, cơ sở hạ tầng và tỉ giá hối đoái. Những nghiên cứu này đều đưa ra những nhân
tố chính tác động đến FDI nhưng chưa có nghiên cứu nào tổng hợp được đầy đủ tất cả
các yếu tố.
Nguyên nhân của việc bỏ sót biến trong mô hình là do có những yếu tố ảnh hưởng đến
FDI mà nhóm tác giả không thể thu thập được số liệu, cũng không có thước đo chính xác

19


để lượng hóa các yếu tố ấy (sự hoàn thiện và phù hợp của hệ thống pháp luật, các chính
sách, quy định về quản lý của bộ máy nhà nước, tình hình kinh tế - chính trị của quốc gia,
…). Một biến quan trọng mà mô hình bỏ qua là sự hiện diện của tương tác không gian

0.266586
0.408293
0.415901
0.552484
0.899669
2.83

Ta thấy, giá trị trung bình của VIF = 2.83 > 2 nên mô hình có dấu hiệu đa cộng tuyến.
Tuy nhiên giá trị đa cộng tuyến của tất cả biến độc lập đều nhỏ hơn 10 nên có thể bỏ
qua vì vấn đề không quá nghiêm trọng.
3.2.4.2.3. Kiểm định phương sai sai số (PSSS) thay đổi
Kiểm định này nhằm xét xem mô hình PSSS thay đổi hay không.
Giả thuyết thống kê:
{H0:

mô hình không có PSSS thay đổi.

H1: mô hình có PSSS thay đổi.

20


Nếu giá trị p-value nhỏ hơn mức ý nghĩa = 0.05 thì bác bỏ H0, chấp nhận H1 tức là mô
hình có PSSS thay đổi.
Kết quả sử dụng kiểm định B-P:
Trong STATA, ta nhập lệnh estat, hettest
chi2(1) = 8.95
Prob > chi2 = 0.0028
Kết quả kiểm định cho ta p-value = 0.0028 < 0.05  Bác bỏ H0, chấp nhận H1: mô hình
có PSSS thay đổi.


56

251773.201

Tổng

43995153.7

62

709599.254

FDI

Hệ số
hồi quy

lninc
lnper
lnpop

1180.084
234.3234
682.7721

Hệ số xác định R = 0.6795
Hệ số xác định hiệu chỉnh
2
R = 0.6452

443.9626
-18.549
-4594.013
9231.345

249.8427
104.3883
1707.194
6431.7

1.78
-0.18
-2.69
1.44

0.081
0.860
0.009
0.157

(-56.53242 ; 944.4576)
(-227.664 ; 190.566)
(-8013.934 ; -1174.093)
-3652.899 ; 22115.59)

Kiểm định lại PSSS thay đổi bằng kiểm định B-P:
chi2(1) = 17.33
Prob > chi2 =
0.0000
Kết quả kiểm định mô hình lin-log ta được p-value = 0.0000 < 0.05 Không bác bỏ

22


CHƯƠNG 4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ
4.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ phần trăm tự tăng dân
số một tỉnh, khối lượng hàng hóa vận chuyển và chỉ số năng lực cạnh tranh là 4 yếu tố
ảnh hưởng đến tổng số vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào 63 tỉnh thành tại Việt Nam.
Mô hình lựa chọn vẫn còn mắc khuyết tật bỏ sót biến. Nguyên nhân của việc bỏ sót biến
trong mô hình là nhóm tác giả không thể thu thập được số liệu, cũng không có thước đo
chính xác để lượng hóa một số yếu tố ảnh hưởng đến FDI (sự hoàn thiện và phù hợp của
hệ thống pháp luật, các chính sách, quy định về quản lý của bộ máy nhà nước, tình hình
kinh tế - chính trị của quốc gia, mức độ đô thị hóa ở các tỉnh thành…). Một biến quan
trọng mà nhóm tác giả đã bỏ qua vì không có đủ điều kiện thu thập số liệu và phân tích là
sự hiện diện của tương tác không gian giữa các tỉnh. Mô hình cũng vẫn còn khuyết tật
phương sai sai số thay đổi sau khi khắc phục bằng phương pháp logarit các biến.
4.2. Kiến nghị giải pháp
Qua việc tìm hiểu các nghiên cứu đi trước và sử dụng phương pháp OLS để phân tích ảnh
hưởng của một số yếu tố đến thu hút FDI ở 63 tỉnh thành Việt Nam, nhóm tác giả xin
trình bày một số giải pháp nhằm nâng cao dòng vốn FDI vào từng tỉnh như sau:
Thứ nhất, để tăng thu nhập bình quân đầu người, cần đảm bảo sự phát triển liên tục và
bền vững của nền kinh tế và giữ tốc độ gia tăng dân số trong phạm vi kiểm soát. Trong
đó, phát triển kinh tế là giải pháp dễ tận dụng hơn, nếu ta phát huy tốt các cơ hội từ hội
nhập kinh tế quốc tế, khai thác tối đa các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do, cũng
như tác động tích cực từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời đẩy nhanh tốc độ
chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu và gia tăng năng suất lao động. Trong mô
hình hồi quy, hệ số hồi quy của biến tỷ lệ phần trăm gia tăng dân số tự nhiên mang dấu
âm, điều này có thể được giải thích rằng trong năm 2016 tốc độ gia tăng dân số cao hơn
tốc độ phát triển kinh tế, vì vậy thu nhập bình quân đầu người giảm, làm cho FDI giảm.
Thứ hai, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, cụ thể về hệ thống vận tải như hệ thống

yếu tố có tác động tiêu cực khiến môi trường đầu tư ở Việt Nam trở nên kém hấp dẫn.
Tuy nhiên, do tồn tại nhiều hạn chế về kiến thức, kỹ năng, bài nghiên cứu của nhóm cũng
không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế về các mặt khác nhau. Chính vì vậy, nhóm
tác giả mong nhận được những đóng góp, bổ sung của cô để có thể hoàn thiện được đề tài
của mình nhất. Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn cô.

24


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Dunning, J. H. (1977), Trade, location of economic activity and the MNE: a search for an

eclectic approach. In: Ohlin B.. Hesselborn PO., Wijkman P.M. (eds) The
International Allocation of Economic Activity, Palgrave Macmillan, London.
2. Hans-Rimbert Hemmer, Nguyen Thi Phuong Hoa (2002): Contribution of Foreign
Direct Invesment to Poverty Reduction: The case of Vietnam in the 1990s. University
Giessen.
3. J. Peter Neary: World Economy FDI: The OLI framework, University of Oxford and
CERF.
4.

Malesky, E. (2007). ‘Provincial Governance and Foreign Direct Investment in
Vietnam’. 20 Years of Foreign Investment: Reviewing and Looking Forward (1987–
2007). Knowledge Publishing House

5. Sajid Anwar (2010): Foreign direct investment and economic growth in Vietnam.
University of the Sunshine Coast.
6. Bulent Esiyok and Mehmet Ugur (2015): A SPATIAL REGRESSION APPROACH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status