tiểu luận kinh tế lượng các yếu tố ẢNH HƯỞNG đến GIÁ cổ PHIẾU TRÊN sàn GIAO DỊCH THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH GIAI đoạn 2007 2018 - Pdf 64

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

BÀI GIỮA KỲ MÔN KINH TẾ LƯỢNG
ĐỀ TÀI
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN SÀN GIAO
DỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2007-2018
Nhóm thực hiện:
Lớp tín chỉ:
Giảng viên:

Nhóm 10
KTE309.2
TS. Chu Thị Mai Phương

STT
1
2

Họ và tên
Lê Thị Ngọc Hân
Trương Linh Ngân

Mã sinh viên
1811110187
1811110436

3

Phạm Kiều Thanh Thanh


Thị trường chứng khoán đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Việt
Nam vì nó là một kênh huy động vốn cho nền kinh tế. Với tốc độ phát triển khá sôi nổi,
thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành một kênh đầu tư khá hấp dẫn đối với các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, với bản chất là một thị trường mới nổi, non trẻ, thị
trường chứng khoản Việt Nam cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Điều này được thể hiện rất rõ
thông qua tình hình biến động của chỉ số VN-Index vào khoảng năm 2007-2008 khi lạm
phát gia tăng tác động xấu tới toàn bộ nền kinh tế nước ta tạo nên một bức tranh ảm đạm
trên thị trường chứng khoán. Yếu tố quyết định hiệu quả khi đầu tư cổ phiếu là kinh
nghiệm tích lũy từ phía nhà đầu tư khi tham gia thị trường là điều rất quan trọng. Đối với
những nhà đầu tư mới tham gia thị trường thì điều này càng trở nên khó khăn hơn gấp
nhiều lần. Cùng với đó sự ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, thị trường bất động
sản, vàng,...đã làm cho thị trường chứng khoản nước ta có nhiều biến động đáng kể, biểu
hiện rõ ràng nhất là sự biến động về giá, bởi giá cả chính là yếu tố quyết định trong chứng
khoán.
Theo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tổng vốn hoá thị trường trong năm 2018 đạt
hơn 3,96 triệu tỷ đồng, trong đó vốn hoá tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh (HOSE) là lớn nhất với 2,87 triệu tỷ đồng. Đối với các nhà đầu tư, thị trường chứng
khoán nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng còn là nơi cung cấp cơ hội đầu tư, đầu
cơ kiếm lời. Trong tình hình lên xuống khá thất thường của thị trường chứng khoán Việt
Nam,việc xem xét và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu là vô cùng cẩn
thiết. Giá cổ phiếu luôn phản ánh được sự biến động trên thị trường và tình hình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp phát hành. Vì vậy nó giúp cho các nhà đầu tư có thêm
một công cụ để tham khảo trong quá trình đầu tư của mình. Và đó cũng trở thành lý do
nhóm em lựa chọn đề tài “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN
SÀN GIAO DỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2007-2018”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
• Bài tiểu luận tiến hành nhận dạng và xác định mức độ tác động của các nhân tố đến giá cổ
phiếu của các doanh nghiệp trên sàn giao dịch thành phố Hồ Chí Minh nhằm cung cấp
thêm bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này. Đây cũng là cơ sở góp phần giúp các cơ
quan quản lý, doanh nghiệp, nhà đầu tư và nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện hơn về sự

BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN TP. HỒ CHÍ
MINH
1. Các lý thuyết kinh tế
1.1. Khái niệm cổ phiếu
Cổ phiếu là 1 loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán
ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài
sản hoặc vốn của 1 công ty cổ phần.
Khi mua cổ phiếu, những NĐT (các cổ đông) sẽ trở thành chủ sở hữu đối với công ty.
Mức độ sở hữu đó tùy thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Là chủ sở hữu, các cổ
đông cùng nhau chia sẻ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của
công cty. Trong trường hợp xấu nhất công ty bị thanh lý phá sản cổ đông chỉ nhận được
những gì còn lại sau khi công ty đã trang trải xong các khoản nghĩa vụ khác (như thuế nợ
ngân hàng hay trái phiếu …).
1.2. Đặc điểm của cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn của các cổ đông vào công ty cổ phần. Chỉ có chiều
góp vào, không thể hiện thời hạn hoàn vốn; không có kỳ hạn. (Khi công ty phá sản hoặc
giải thể, thì sẽ không còn tồn tại cổ phiếu).
Cổ tức cổ phiếu thường tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, và vì kết
quả kinh doanh không ổn định nên cổ tức cũng không thể cố định. Khi doanh nghiệp làm
ăn phát đạt thì cổ đông được hưởng lợi nhuận nhiều hơn so với các loại chứng khoán khác
có lãi suất cố định. Ngược lại, khi làm ăn khó khăn hoặc th Cổ tức cổ phiếu thường tùy
thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, và vì kết quả kinh doanh không ổn định
nên cổ tức cũng không thể cố định. Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt thì cổ đông được
hưởng lợi nhuận nhiều hơn so với các loại chứng khoán khác có lãi suất cố định. Ngược
lại, khi làm ăn khó khăn hoặc thua lỗ, cổ tức có thể rất thấp hoặc không có cổ tức.
Giá biến động nhiều nhất là trên thị trường thứ cấp, do giá chịu sự tác động của nhiều
nhân tố, và nhân tố quan trọng đó là kết quả kinh doanh của công ty.
Các loại cổ phiếu:
- Cổ phiếu thường
- Cổ phiếu ưu đãi

nhất mà người bán sẵn sàng bán nó và giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả để mua nó.
Giá trị thị trường cổ phiếu của một công ty phụ thuộc rất nhiều yếu tố, do vậy nó
thường xuyên biến động.
1.3. Sở giao dịch chứng khoán và chỉ số VN-Index
a. Sở giao dịch chứng khoán HOSE
HOSE (Ho Chi Minh Stock Exchange) - Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh được thành lập tháng 7 năm 2000, là một đơn vị trực thuộc Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước và quản lý hệ thống giao dịch chứng khoán niêm yết của Việt Nam. Sở
Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động như một công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên Nhà nước với số vốn điều lệ là một nghìn tỷ đồng. Hiện nay các
sở giao dịch chứng khoán trên thế giới thường hoạt động dưới dạng công ty cổ phần.
b. Chỉ số VN-Index
Khái niệm
Chỉ số giá cổ phiếu trong một thời gian nhất định (phiên giao dịch, ngày giao dịch)
của các công ty niêm yết tại HOSE được gọi là VN-Index, thể hiện biến động giá cổ phiếu
giao dịch tại HOSE. Công thức tính chỉ số áp dụng đối với toàn bộ các cổ phiếu niêm yết
tại sở giao dịch nhằm thể hiện xu hướng giá cổ phiếu hàng ngày.
2. Lý thuyết đưa ra các biến phụ thuộc, biến độc lập vào mô hình

6


2.1.

Tác động của GDP tới biến động giá cổ phiếu niêm yết
GDP (Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả sản phẩm, dịch vụ cuối
cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ và trong một thời gian nhất định, thường là
một năm.
Việc tăng trưởng GDP là tỷ lệ phần trăm tăng lên của tổng sản phẩm nội địa của kỳ
này hoặc của năm nay so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tang trưởng GDP phản ánh tình

Khi lãi suất giảm sẽ có tác động tích cực đến chỉ số giá cổ phiếu. Bởi vì khi giá vốn rẻ
hơn so với trước sẽ giúp các công ty dễ huy động nguồn vốn để thực hiện các dự án đầu

7


tư, cũng như giảm chi phí cho các công ty sử dụng đòn bẩy tài chính lớn từ đó sẽ làm cải
thiện lợi nhuận của công ty và làm tăng giá cổ phiếu của công ty.
Lãi suất tăng - giá cổ phiếu giảm: xảy ra khi các dòng thu nhập tương lai của công ty
tăng không nhiều hoặc thậm chí giảm, vì trước đó công ty phải huy động vốn với lãi suất
cao, đến khi hàng hóa được sản xuất và bán ra thì lại gặp phải sự cạnh tranh gay gắt, trong
khi sức mua lại có hạn, thu nhập của công ty giảm sút, công ty không có khả năng tăng
giá hàng hóa để bù lại mức lạm phát.
Nếu chỉ xét trong mối tương quan giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu thì trên thực
tế, thông thường quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu là mối quan hệ ngược chiều. Điều
này có thể lý giải như sau: khi dự đoán lãi suất thị trường tăng, tức là giá trái phiếu sẽ
giảm, thì người đầu tư có xu hướng chuyển từ cổ phiếu sang mua trái phiếu và làm cho
giá cổ phiếu giảm.
2.4. Tác động của lãi suất bình quân liên ngân hàng tới biến động giá của
phiếu
Trong bài tiểu luận này, do khó khăn trong việc tìm số liệu đáng tin cậy trong khoảng
thời gian tương đối dài, chúng em nghiên cứu ảnh hưởng gián tiếp qua lãi suất bình quân
liên ngân hàng - lãi suất vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng thông qua thị trường liên
ngân hàng. Theo nghiên cứu và khảo sát của một số trang web uy tín như THEBANK…:ý
nghĩa lãi suất liên ngân hàng tăng cao theo các chuyên gia cho thấy thanh khoản hệ thống
ngân hàng sẽ bị eo hẹp hơn trong tương lai. Điều này là một tín hiệu buồn, không có lợi
chút nào đối với doanh nghiệp khi muốn vay vốn kinh doanh.
Mặt bằng lãi suất huy động sẽ có xu hướng tăng nhẹ sau đó, đặc biệt là các kỳ hạn
ngắn. Cũng dễ hiểu vì nhu cầu tăng trưởng tín dụng càng ngày càng cao nếu ngân hàng
nhà nước tiếp tục duy trì động thái như vậy. Các ngân hàng sẽ dè dặt hơn trong việc vay


CHƯƠNG III. MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG KIỂM ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA
NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN VÀ ỔN ĐỊNH LÊN GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN
SÀN HOSE
1.
Mô hình nghiên cứu.
vni = β1 + β2gdp + β3cpi + β4inter+ ui
Giải thích các biến:
• Biến phụ thuộc vni: Chỉ số vnindex
VnIndex được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước tính toán theo phương pháp chỉ số giá
bình quân Passcher với công thức sau

Vn-Index =
Trong đó:
P1i: Giá hiện hành của cổ phiếu i
Q1i: Khối lượng đang lưu hành (khối lượng niêm yết) của cổ phiếu i
P0i: Giá của cổ phiếu i thời kì gốc
Q0i: Khối lượng của cổ phiếu i tại thời kì gốc
(vni không có đơn vị)
vni trong bài được tính trung bình trong quý
Trên thực tế: VNIndex càng lớn càng tốt cho thị trường.
• Các biến độc lập:
- Tổng sản phầm quốc nội (gdp)
Thể hiện giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra
trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất
định (thường là một năm).
Cách tính thông dụng của gdp theo phương pháp chi tiêu
Y = C + I + G + (X - M)
Trong đó:
Y: Tổng sản lượng.

(Trong bài tiểu luận, năm 2005 được chọn làm năm gốc).
Biến cpi được kì vọng có ảnh hưởng tiêu cực đến biến phụ thuộc VNI.
- Lãi suất bình quân liên ngân hàng (inter)
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất vay mượn giữa các ngân hàng với nhau thông qua
thị trường liên ngân hàng khi xảy ra tình trạng thiếu vốn. Lãi suất này sẽ được các tổ chức
công bố thông tin như Ngân hàng Trung ương đưa ra vào mỗi sáng sau khi đã tập hợp các
số liệu từ các ngân hàng.
Lãi suất liên ngân hàng được kì vọng có ảnh hưởng ngược chiều gián tiếp tới biến
vni.
Ngoài ra, trong mô hình còn có U i : sai số ngẫu nhiên đại diện cho sự ảnh hưởng của
các yếu tố khác lên vni mà không được đề cập tới trong mô hình. Các biến đó có thể là:
tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, tỷ giá vàng và bất dộng sản, tình hình chính trị xã hội, quy mô thị trường, trình độ công nghệ kỹ thuật của sàn giao dịch, tâm lý nhà đầu
tư,...
2.
Nguồn dữ liệu.
GDP, VNIndex được lấy từ trang VietStock từ năm 2007 đến năm 2018.
INTER được lấy từ Ngân hàng nhà nước Việt Nam từ năm 2007 đến 2018.
CPI được lấy từ trang thông tin của Tổng cục thống kê.
3.
Mô tả dữ liệu.
3.1 Mô tả thống kê dữ liệu.
Bộ số liệu gồm 48 quan sát, 1 biến phụ thuộc, 3 biến độc lập. Thông tin về bộ số liệu
được mô tả chi tiết ở bảng sau:

11


Giá trị trung
Giá trị lớn
Giá trị nhỏ

3.2 Ma trận tương quan giữa các biến.
vni
gdp
cpi
inter
vni
1
gdp
0.2933
1
cpi
0.0809
0.8740
1
inter
-0.4702
-0.6412
-0.5738
1
Biến

Hệ số tương quan chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa từng cặp biến với nhau. Hệ số
tương quan càng lớn cho thấy mối quan hệ giữa hai biến càng chặt và ngược lại khi hệ số
tương quan thấp diễn tả mối quan hệ giữa hai biến không chặt. Đồng thời với hệ số dương
chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa các cặp biến, hệ số âm cho thấy quan hệ ngược chiều
giữa hai biến.
Nhìn vào số liệu, ta có thể thấy
Tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc:
Biến GDP có tương quan dương với biến VNI (hệ số tương quan là 0.2933), tức là khi
nền kinh tế quốc gia tăng trưởng, các cổ phiếu sẽ có xu hướng tăng theo.



CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ SUY DIỄN THỐNG KÊ
1. Mô hình ước lượng và kết quả hồi quy ban đầu
Bảng 1: Kết quả ước lượng mô hình
F(3,44) = 8.30
P – value (>F) = 0.0002
R2 = 36.14%
Hệ số hồi
vni
quy
gdp
0.0003471
cpi
-3.444541
inter
-30.25688
Hệ số chặn
1280.869

Sai số tiêu
chuẩn
0.0001417
1.108285
9.571241
192.1743

t

P > |t|

• Hệ số hồi quy của biến cpi là -3.444541 có ý nghĩa ở mức 5% và mang dấu “-” nên có
quan hệ nghịch biến với vni, thỏa mãn kỳ vọng ban đầu và phù hợp với lý thuyết, cho
biết: Khi cpi tăng 1% thì vni trung bình giảm 3.44454 điểm trong điều kiện các yếu tố
khác không đổi.
• Hệ số hồi quy của biến inter là -30.25688 có ý nghĩa ở mức 5% và mang dấu “-” nên
có quan hệ nghịch biến với vni, thỏa mãn kỳ vọng ban đầu và phù hợp với lý thuyết,
cho biết: Khi inter tăng 1% thì vni trung bình giảm 30.25688% trong điều kiện các yếu
tố khác không đổi.

2. Kiểm định ý nghĩa thống kê của các ước lượng
1.1. Kiểm định ước lượng của biến gdp
Với mức ý nghĩa α = 5%, ta thực hiện kiểm định:
Bước 1: Thiết lập cặp giả thuyết thống kê H0 và H1:
Ho: Biến gdp không có ý nghĩa thống kê ()
H1: Biến gdp có ý nghĩa thống kê
()
Bước 2: Qua kết quả ước lượng ở Bảng 1, ta thấy: p-value = 0.018 là rất nhỏ.
Bước 3: So sánh: p-value=0.018
15


Suy ra: không bác bỏ H0.
Bước 4: Kết luận:
Vậy, tại mức ý nghĩa 5%, ta có thể nói rằng mô hình không bỏ sót biến.
1.2. Kiểm định đa cộng tuyến
Cách 1: Dựa trên thừa số tăng phương sai:
Với mức ý nghĩa α = 5%, ta thực hiện kiểm định:
Bước 1: Thiết lập cặp giả thuyết thống kê H0 và H1:
H0: mô hình không mắc khuyết tật đa cộng tuyến.
H1: mô hình mắc khuyết tật đa cộng tuyến.
Bước 2: Xác định thừa số tăng phương sai VIF:
Thực hiện lệnh “vif” trong phần mềm Stata, ta thu được kết quả trong bảng sau:
Bảng 3 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến bằng VIF
Biến độc lập
gdp
cpi
inter
Mean VIF
(Nguồn: Nhóm tác giả thực hiện)
Theo kết quả Bảng 3, ta có:

VIFgdp = 4.83
VIFcpi = 4.24
VIFinter = 1.7

Bước 3: So sánh:
Dễ thấy, VIFgdp< 10 (do 4.83 < 10); VIFcpi< 10 (do 4.24 < 10); VIF inter< 10 (do 1.7

H0: mô hình có phương sai sai số không đổi.
H1: mô hình mắc khuyết tật phương sai sai số thay đổi.
Bước 2: Xác định P-value ().
Thực hiện lệnh “imtest, white” trong phần mềm Stata, ta thu được kết quả trong bảng
sau:
Bảng 4: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng White

(Nguồn: Nhóm tác giả thực hiện)
Theo kết quả Bảng 4, ta có: P-value () = 0.0856.
Bước 3: So sánh P-value () với mức ý nghĩa α:
Với mức ý nghĩa α = 5%, dễ thấy: P-value () >α ( do 0.0856 > 0.05).
Suy ra: không bác bỏ H0.
Bước 4: Kết luận:
Vậy, tại mức ý nghĩa α = 5%, ta có thể nói rằng mô hình có phương sai sai số không
đổi.
Cách 2: Kiểm định Breusch - Pagan:
Bước 1: Thiết lập cặp giả thuyết thống kê H0 và H1:
H0: mô hình có phương sai sai số không đổi.
H1: mô hình mắc khuyết tật phương sai sai số thay đổi.
Bước 2: Xác định P-value ().
Thực hiện lệnh “hettest” trong phần mềm Stata, ta thu được kết quả trong bảng sau:
Bảng 5: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng Breusch - Pagan

17


(Nguồn: Nhóm tác giả thực hiện)
Theo kết quả Bảng 5, ta có: P-value () = 0.0517.
Bước 3: So sánh P-value () với mức ý nghĩa α:
Với mức ý nghĩa α = 5%, dễ thấy: P-value () >α ( do 0.0517 > 0.05).

H1: mô hình mắc khuyết tật tự tương quan.
Bước 2: Xác định giá trị thống kê d:
Thực hiện lệnh “dwstat” trong phần mềm Stata, ta thu được kết quả trong bảng sau:
Bảng 7: Kiểm định tự tương quan bằng Durbin - Watson:

18


(Nguồn: Nhóm tác giả thực hiện)
Theo kết quả Bảng 7, ta có: d = 0.6697181.
Bước 3: So sánh giá trị thống kê d với các giá trị tới hạn dU và dL:
Tra bảng thống kê Durbin – Watson ta có: dU = 1.491 và dL = 1.206.
Dễ thấy, d < dL (do 0.6697181 F) = 0.0000
R2 = 36.14%
Giá trị
Sai số
vni
ước


(Nguồn: Nhóm tác giả thực hiện)
Theo kết quả Bảng 8, ta có mô hình hồi quy mẫu khắc phục khuyết tật tự tương quan
là:
= 1280.87 + 0.00035gdp – 3.4445cpi – 30.257inter + ei.
1.5. Kiểm định phân phối chuẩn của nhiễu:
Với mức ý nghĩa α = 5%, ta thực hiện kiểm định:
Bước 1: Thiết lập cặp giả thuyết thống kê H0 và H1:
H0: mô hình có nhiễu phân phối chuẩn.
H1: mô hình có nhiễu không phân phối chuẩn.
Bước 2: Xác định giá trị P-value ().

19


Thực hiện lệnh “predict e, res” trong phần mềm Stata để ước lượng phần dư của mô
hình.
Thực hiện lệnh “sktest e” trong phần mềm Stata, ta thu được kết quả trong bảng sau:
Bảng 9: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của nhiễu
Skewness/Kurtosis tests for Normality
adj
Prob>chi2
chi2(2)
e
48
0.0614
0.2979
4.61
0.0997
(Nguồn: Nhóm tác giả thực hiện)

Pr(Skewness)

Pr(Kurtosis)

20


CHƯƠNG V. KẾT LUẬN VÀ ĐƯA RA KHUYẾN NGHỊ
Với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên sàn giao dịch thành phố Hồ
Chí Minh giai đoạn 2007-2018”, tiểu luận đã kết hợp được những cơ sở lý luận với những
diễn biến thực tiễn trên thị trường cổ phiếu Việt Nam trong 17 năm qua bằng phương
pháp ước lượng bình phương tối thiểu thông thường để lượng hóa, chứng minh được ảnh
hưởng của các nhân tố này tới giá cổ phiếu niêm yết. Qua bài tiểu luận, người đọc sẽ có
cái nhìn tổng quát về TTCK Việt Nam nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng, sự biến
động trong giá cả cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh.
Tuy nhiên, bài tiểu luận chưa đi vào phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ
phiếu giao dịch trên thị trường OTC và những ảnh hưởng của chỉ số giá VN-Index đến
biến động giá cổ phiếu trên thị trường OTC. Đây có thể sẽ là những đề tài hấp dẫn cho
những nghiên cứu tiếp theo về TTCK Việt Nam - một thị trường non trẻ và đầy triển
vọng.
Dưới đây là một số khuyến nghị đề ra:
 Đối với Chính phủ:
Trong thời gian tới, để TTCK hoạt động một cách lành mạnh, ổn định, vững chắc
thực sự trở thành một kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, cần chú ý các giải
pháp trọng tâm sau:
Một là, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Thực tế TTCK Việt Nam cho thấy, sự biến
động đồng giá cổ phiếu có nguyên nhân rất nhiều từ ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, Chính
phủ cần chú trọng cải thiện chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, bảo đảm phát triển
bền vững; Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, bảo đảm ổn định thị trường

giá, đặc biệt trong điều kiện lạm phát cao thì NHNN không nên phá giá. Tỷ giá không
phải là nguyên nhân gây thâm hụt thương mại nên phá giá không phải là một biện pháp
cần thiết trong giai đoạn này. Tình trạng đô la hóa của Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh từ
yếu tố tỷ giá nên duy trì tỷ giá ổn định sẽ góp phần giảm hiện tượng đô la hóa.
Để duy trì tỷ giá ổn định, nghiên cứu đưa ra 3 nhóm giải pháp khuyến nghị đối với
NHNN bao gồm các nội dung: Lựa chọn cơ chế và các công cụ điều hành chính sách tỷ
giá; Ngăn chặn tình trạng đô la hóa nền kinh tế; Điều hành chính sách tỷ giá nhằm gia
tăng niềm tin của người dân đối với giá trị VND
Do các biến số kinh tế vĩ mô đều có ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá và
ngược lại nên các chính sách của NHNN cần thực hiện một cách đồng bộ, nhất quán và
linh hoạt nhằm đảm bảo các mục tiêu đặt ra ban đầu.
 Đối với các nhà đầu tư trên thị trường cổ phiếu:
Để có thể nắm bắt được sự biến động trong giá của cổ phiếu, các nhà đầu tư nên
nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin kinh tế vi mô và vĩ mô. Từ đó, đưa ra mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố này để kiểm soát được rủi ro và tỷ suất lợi nhuận của đồng vốn đầu
tư, tạo ra được lợi nhuận như kì vọng.

22


KẾT LUẬN
Trên đây là tiểu luận của chúng em nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nhân tố tới
sự biến động giá cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, bằng
phương pháp kinh tế lượng, sử dụng bảng số liệu thu thập có độ chính xác cao từ các
trang web uy tín, với phần mềm Stata để ước lượng. Kết quả là chúng e đã đề xuất mô
hình cuối cùng có dạng
VNI = 1280.869 + 0.0003471 GDP - 3.444541 CPI – 30.25688 INTER
Tuy nhiên trong quá trình tiến hành kiểm định, nhóm đã nhận thấy mô hình còn gặp
độ phù hợp chưa cao, tính chất của dữ liệu không đồng đều, gây ra sự mất gai góc của dữ
liệu. Việc này đòi hỏi các thành viên trong nhóm cần tiếp tục nghiên cứu, đọc các tài liệu

%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state
%3D110x1qgzbd_4
4/ Vietstock:
https://finance.vietstock.vn/ket-qua-giao-dich?tab=thong-kegia&exchange=2&code=18&fbclid=IwAR2KMJKtSGh0JSV1R6y9eCRrq9sypsVpi6
SKRcFEy89_f4b80Zn8YNEhrCEThebank
https://thebank.vn/blog/16575-day-la-nhung-dieu-co-ban-nhat-ban-can-biet-ve-laisuat-binh-quan-lien-ngan-hang.html
5/ Bài viết trên Tạp chí Tài chính của tác giả TS. Lê Tấn Phước:
http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/cac-nhan-to-anh-huong-den-gia-co-phieuniem-yet-111663.html?fbclid=IwAR2BY6r971sPj3IYxqomm_mRJZu3WwhSyjrt42obkkcQ8U3UAAliqXrkiY
6/ Các định nghĩa và công thức GDP và CPI trên Wikipedia
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_s%E1%BA%A3n_ph%E1%BA
%A9m_n%E1%BB%99i_%C4%91%E1%BB%8Ba

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status