MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và sự phát triển bền vững của giai
cấp nông dân đang được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Điều đó đã được cụ
thể hoá bằng Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05-8-2008 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng (khoá X). Lý do quan trọng, đồng thời là trực tiếp nhất, vì nông thôn là
địa bàn rộng lớn gồm tất cả các vùng miền, chiếm hơn 70% dân số cả nước.
Trên tinh thần đó, trong những năm qua, cấp Ủy, Chính quyền, các ngành,
đoàn thể, lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Nậm Pồ nói riêng
đã tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phổ biến, tuyên truyền, vận động các tầng
lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể, tích cực tham gia vào quá trình xây dựng
nông thôn, chủ động, sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; trong
quá trình tổ chức sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;
trong gìn giữ nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục và đã góp phần quan trọng vào
việc xây dựng hệ thống chính trị - xã hội của tỉnh, của huyện vững mạnh, bảo đảm
an ninh trật tự tại cơ sở. Sau 8 năm triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông
thôn mới, đến nay cả tỉnh có 13/130 xã đạt chuẩn nông thôn mới trong đó huyện
Nậm Pồ có 01/15 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Chương trình xây dựng nông thôn
mới bước đầu tạo được sự chuyển biến tích cực trong đời sống của người dân. Nhận
thức, trách nhiệm của nông dân từng bước được nâng lên, nông dân đã dần xác định
được mình là chủ thể chính trong xây dựng nông thôn mới nên đã chủ động tự giác
đóng góp nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ tài sản chung, giữ gìn môi
trường xanh - sạch - đẹp.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, vai trò chủ thể của người nông dân trong xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện chưa phát huy được nhiều. Việc dân biết,
dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi còn
nhiều hạn chế; nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới vẫn chưa đầy
1
2
3. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao vai trò chủ thể của người nông
dân trong xây dựng NTM ở địa phương?
4. Các giải pháp nào để từng bước nâng cao vai trò chủ thể của người nông
dân trong xây dựng NTM ở địa phương?
2. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Hoàng Văn Hoan (2014), trong công trình nghiên cứu Xây dựng mô hình
nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc nước ta hiện nay đã cho
rằng để tăng cường huy động vốn cho phát triển nông thôn vùng Tây Bắc, cần
những giải pháp cơ bản như: (i) quy hoạch lại dân cư để tránh đầu tư tốn kém ở các
vùng dân cư thưa thớt, (ii) thực hiện lồng ghép các chương trình nhằm tăng thêm
nguồn lực; (iii) huy động vốn phải đi kèm với phân bổ hợp lý, (iv) Nhà nước cần
quy định các doanh nghiệp phải trích một tỷ lệ nhất định lợi nhuận cho XD NTM,
(v) tăng cường tuyên truyền vận động đóng góp của các hộ dân [9].
Nghiên cứu bài học kinh nghiệm thoát nghèo của một số xã đặc biệt khó
khăn [15] của TS Nguyễn Anh Phong, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển
nông nghiệp (IPSARD) - Bộ NN&PTNT (2016). Tác giả đã đi sâu nghiên cứu các
yếu tố góp phần dẫn đến thành công trong việc xóa đói, giảm nghèo của một số xã
thuộc khu vực III, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Qua đó, tác giả cũng khẳng định,
một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong công tác xóa đói, giảm nghèo đó
là ý thức tự chủ vươn lên của người nông dân, các nguồn lực khác chỉ mang tính
chất hỗ trợ, định hướng, tạo điều kiện để nông dân thoát nghèo.
Nguyễn Tiến Định (2012), trong đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất
cơ chế chính sách huy động nội lực từ người dân vùng núi phía Bắc tham gia xây
dựng nông thôn mới. Tác giả đã nêu các lĩnh vực người dân tham gia và các yếu tố
xác định mức độ tham gia được áp dụng bao gồm: Được tham gia vào các cuộc họp
không phát huy được sức mạnh của cộng đồng. Các tác giả cũng đã đi sâu phân tích
đặc điểm tâm lý, nhận thức trong xây dựng NTM của đồng bào DTTS khu vực miền
núi phía Bắc còn bị tác động bởi rào cản tâm lý, đó là khó chấp nhận sự thay đổi do
phải chịu sự ràng buộc bởi các quy định của gia đình, dòng họ, cộng đồng, tộc
người, thêm vào đó là khả năng thích nghi yếu, thiếu sự nhạy bén và khả năng thích
ứng với cái mới, thiếu tính cạnh tranh... Chính vì vậy, khi tiếp xúc với các mô hình
4
kinh tế xóa đói giảm nghèo, họ khó có thể tiếp cận và thực hiện theo hướng dẫn của
các cơ quan chức năng.
Đề tài Phát triển nguồn nhân lực vùng DTTS đến năm 2015 và 2020 của Ủy
ban Dân tộc Trung ương [21]. Đề tài đã đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân
lực ở vùng DTTS còn rất nhiều hạn chế, là nút thắt cản trở quá trình CNH, HĐH và
hội nhập quốc tế. Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là do tỷ lệ đói nghèo cao
và chất lượng sống của người dân thấp; ý thức nâng cao trình độ học vấn của người
dân còn thấp. Cho đến nay, tình trạng này tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp
ứng được với yêu cầu thực tế.
Luận án Tiến sỹ kinh tế của Đoàn Thị Hân Huy động và sử dụng các nguồn
lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới tại các tỉnh trung du
và miền núi phía Bắc Việt Nam [10]. Theo tác giả thì các tỉnh trong vùng TDMN
phía Bắc đã thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau và đã xây dựng kế hoạch
sử dụng cụ thể các nguồn lực tài chính huy động được cho chương trình. Vùng đã
huy động được một khối lượng lớn nguồn lực tài chính và sử dụng cho chương trình
XD NTM. Tuy nhiên, thiếu nguồn lực tài chính và hiệu quả sử dụng các nguồn lực
tài chính chưa cao vẫn là vấn đề phổ biến trong vùng. Từ đó, tác giả cũng đã đề ra
được nhóm các giải pháp để giải quyết vấn đề huy động nguồn lực tài chính trong
thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Phương pháp thu thập số liệu
5.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp
Những số liệu thứ cấp liên quan đến các vấn đề lý luận về nông thôn mới, về
vai trò chủ thể của người nông dân trong XD NTM, các chủ trương, chính sách của
Đảng, nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới,
cơ cấu dân số, trình độ lao động nông thôn, thu nhập trung bình của người lao động,
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết quả thực hiện XD NTM... được thu thập
thông qua các báo cáo của UBND, các phòng, ban huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
5.1.2. Thu thập số liệu sơ cấp
Các thông tin mới chưa công bố được thu thập thông qua tiến hành điều tra
và phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân bằng bộ câu hỏi đã được xây dựng.
Tiến hành điều tra, phỏng vấn 150 nông dân trên địa bàn huyện Nậm Pồ (lựa
chọn mỗi xã 10 người) thông qua bảng hỏi với các câu hỏi đóng, mở linh hoạt. Các
nông dân được chọn phỏng vấn dựa trên điều kiện kinh tế, thành phần dân tộc, trình
độ học vấn theo tỷ lệ thích hợp. Nội dung phỏng vấn chủ yếu bao gồm: (1) thông tin
cơ bản của người nông dân và hộ gia đình; (2) Tình hình tham gia của người được
6
phỏng vấn trong thực hiện xây dựng nông thôn mới; (3) ý kiến đánh giá của người
được phỏng vấn về vai trò chủ thể của nông dân trong thực hiện XD NTM; (4) ý
kiến đề xuất nhằm nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong thực hiện XD NTM
tại huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
5.2. Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu
Sau khi thu thập được các thông tin cần thiết qua các phiếu điều tra và các
báo cáo, số liệu sẽ được xử lý chủ yếu bằng phần mềm Excel để tính toán, so sánh
các chỉ tiêu, tìm ra được tốc độ phát triển của các chỉ tiêu.
5.2.1. Phương pháp thống kê mô tả
Chủ thể là phạm trù thuộc lĩnh vực triết học. Ở mỗi giai đoạn lịch sử và tùy
vào từng trường phái triết học mà phạm trù chủ thể được nghiên cứu với những góc
nhìn khác nhau. Nhìn chung, các trường phái triết học khi đề cập đến chủ thể cho
rằng chủ thể là con người. Với triết học Mác - Lênin, chủ thể là phạm trù được đề
cập một cách toàn diện nhất so với các trào lưu trước đây. Triết học Mác - Lênin
khẳng định chủ thể chỉ có thể là con người hiện thực và chủ thể là bản chất đặc
trưng của con người. Từ điển Triết học định nghĩa: “Chủ thể là con người hoạt động
tích cực và nhận thức, có ý thức và ý chí” [17, tr.93]. Như vậy, chủ thể - trước hết
phải là con người. Tác giả Dương Thị Liễu tiếp cận phạm trù chủ thể trong mối
quan hệ với khách thể, theo đó: “Chủ thể là con người với những cấp độ tồn tại
khác nhau của nó, đang thực hiện hoạt động nhằm tác động vào khách thể”.
1.1.2. Nông dân
Đi sâu nghiên cứu về chủ thể nông dân, Từ điển tường giải và liên tưởng
tiếng Việt của Nguyễn Văn Đạm định nghĩa nông dân là “Người chuyên sản xuất ra
các loại lương thực, thực phẩm” [6, tr. 614]. Còn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê
chủ biên định nghĩa nông dân là “Người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [14,
tr. 717]. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa về nông dân khá đầy đủ và
toàn diện, theo đó: “Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia
sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các
ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ
lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành
nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội”.
1.1.3. Đặc điểm cơ bản của chủ thể nông dân
8
Thứ nhất, chủ thể nông dân Việt Nam là những người lao động trong lĩnh
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn, do đó cũng có
nhiều khái niệm khác nhau về nông thôn. Một quan điểm khác lại cho rằng, vùng
nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính
của dân cư nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Những ý
kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc
vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ cấu áp dụng cho từng nền kinh tế. Như
vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời
gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu:
"Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông
dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và
môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức
khác" (Mai Thanh Cúc, 2005).
1.1.5. Nông thôn mới
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân
không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.
Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được
xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông
nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá
dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được
nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.
1.1.6. Xây dựng Nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ)
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn từng bước hiện đại; xây dựng
1.1.8. Tính tất yếu của việc nâng cao vai trò chủ thể của người nông dân
trong xây dựng nông thôn mới
1.1.8.1. Nội dung cơ bản về xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Để đảm bảo được sự thống nhất trong thực hiện chương trình XD NTM, Thủ
tướng Chính phủ ra Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành
11
Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày
04/6/2010 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng để triển
khai thực hiện trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở đó, Thông tư số 54/2009/TTBNNPTNN ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tại điều 2,
phần I (Quy định chung) hướng dẫn: “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới là căn
cứ để các địa phương chỉ đạo việc xây dựng, phát triển nông thôn mới; là cơ sở để
đánh giá công nhận xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới” [2].
Trong Bộ tiêu chí quốc gia về XD NTM bao gồm 19 tiêu chí được bố cục
thành 5 phần [Phụ lục 1]:
- Phần I. Quy hoạch: với tiêu chí số 1 (Quy hoạch và thực hiện quy
hoạch).
- Phần II. Hạ tầng KT - XH: với các tiêu chí số 2 (Giao thông), số 3 (Thủy
lợi), số 4 (Điện), số 5 (Trường học), số 6 (Cơ sở vật chất văn hóa), số 7 (Chợ nông
thôn), số 8 (Bưu điện), số 9 (Nhà ở dân cư).
- Phần III. Kinh tế và tổ chức sản xuất: với các tiêu chí số 10 (Thu nhập),
số 11 (Hộ nghèo), số 12 (Cơ cấu lao động), số 13 (Hình thức tổ chức sản xuất).
- Phần IV. Văn hóa - xã hội - môi trường: với các tiêu chí số 14 (Giáo
dục), số 15 (Y tế), số 16 (Văn hóa), số 17 (Môi trường).
- Phần V. Hệ thống chính trị: với các tiêu chí số 18 (Hệ thống tổ chức
chính trị xã hội vững mạnh), số 19 (An ninh, trật tự xã hội).
tương tác lẫn nhau giữa lĩnh vực nông nghiệp với các ngành, các lĩnh vực khác
trong nền kinh tế quốc dân như công nghiệp, dịch vụ thương mại, giao thông vận
tải,… được mở rộng và phát triển. Điều này cho thấy, thông qua nâng cao vai trò
chủ thể của nông dân trong XD NTM sẽ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ, có hiệu
quả sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực khác cho phát triển KT - XH.
Thứ hai, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM góp phần
tích cực ổn định chính trị, thực hiện tốt thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân
dân trên địa bàn nông thôn.
Lãnh thổ Việt Nam có diện tích 331.212 km2 bao gồm khoảng 327.480 km2
đất liền và hơn 4.200 km2 biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn
nhỏ, gần và xa bờ. Phía Bắc giáp Trung Quốc với đường biên giới khoảng 1.400
13
km, phía Tây giáp Lào với đường biên giới dài 2.067 km và giáp Campuchia với
đường biên giới dài 1.080 km, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp vịnh Thái
Lan với bờ biển dài 3.260 km [16, tr.334, 338-339]. Với đặc điểm về điều kiện tự
nhiên đa dạng, địa hình phức tạp và vị trí địa lý như trên, Việt Nam là quốc gia biển,
có vị trí địa - kinh tế, địa - chính trị đặc biệt quan trọng không chỉ trong khu vực
Đông Nam Á mà cả châu Á Thái Bình Dương. Các khu vực biên giới, hải đảo tiền
tiêu của nước ta chính là địa bàn nông thôn có vị trí chiến lược trọng yếu về quốc
phòng an ninh. Do vậy, nông thôn cũng chính là khu vực nhạy cảm, dễ bị các lực
lượng thù địch trong và ngoài nước cấu kết với nhau, lấy đó làm địa bàn trọng điểm
để lôi kéo, kích động, xúi giục nhân dân gây nên các điểm nóng chính trị mà sự kiện
“Vương quốc Mông” tại Mường Nhé là một điển hình. Cho nên, việc phát huy vai
trò chủ thể của nông dân trong XD NTM thực chất là thực hiện nền quốc phòng
toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong
việc đảm bảo an ninh nông thôn, giữ vững chủ quyền biên giới đất liền và chủ
quyền biển đảo, nhất là trong tình hình căng thẳng, xung đột, tranh chấp liên quan
dạng sinh học. Tuy nhiên, trên thực tế môi trường tự nhiên ở nông thôn nước ta
đang đối mặt với nhiều thách thức, đang ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và sức
khỏe của nông dân. Cho nên, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM
không những bảo vệ môi trường cảnh quan tự nhiên, mà còn góp phần duy trì, phát
triển mối quan hệ hài hòa vốn có giữa con người với thiên nhiên nhằm hướng đến
một không gian nông thôn xanh, sạch, đẹp, văn minh và hiện đại. Hơn nữa, nông
thôn Việt Nam còn là địa bàn có đầy tiềm năng để khai thác du lịch sinh thái với sự
tham gia của cộng đồng dân cư nông thôn. Môi trường cảnh quan thiên nhiên đang
thực sự tạo ra sinh kế cho nông dân, góp phần quan trọng trong phát triển KT - XH
ở các địa phương, đồng thời bản thân dân cư nông thôn chính là chủ thể trực tiếp
tham gia và thụ hưởng những thành quả do ngành du lịch đem lại.
Như vậy, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM thông qua
bốn nội dung trên làm cho các mặt này không ngừng phát triển nhưng đồng thời,
đến lượt nó, tác động trở lại làm cho cuộc sống của các chủ thể nông dân ngày một
tốt hơn, tiến bộ hơn.
Thứ năm, nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD NTM góp phần
làm tốt công tác giám sát các hoạt động trong XD NTM
15
Trong XD NTM, ngân sách để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kinh
tế, xã hội là rất lớn. Việc kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư của các cơ quan nhà
nước đã giúp cho nguồn vốn không bị thất thoát, các công trình được đảm bảo về
chất lượng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, ở nhiều nơi, các cơ quan có chức năng và
nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chưa làm tốt vai trò của mình, còn buông lỏng quản lý,
cấu kết làm sai để hưởng lợi. Mặt khác, do khối lượng đầu tư xây dựng nhiều trong
khi đó nhân lực trong các cơ quan quản lý ít nên nhiều lúc, nhiều nơi không giám
sát, kiểm tra hết được. Do vậy, sự tham gia của người dân trong công tác kiểm tra,
giám sát sẽ giúp cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của nhà nước hiệu quả hơn,
thiệt thòi trên mọi phương diện. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế của đất nước còn
nhiều khó khăn, nên bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước thì việc xây dựng kết cấu hạ
tầng KT - XH ở các địa bàn nông thôn cần được xã hội hóa bằng sự chung tay góp
sức của cả cộng đồng, trong đó không thể thiếu sự tham gia của dân cư nông thôn.
Đó là việc nông dân tự nguyện, tự giác hiến đất, hoa màu, vật kiến trúc, tiền của,
đóng góp ngày công lao động trong khả năng và mức độ phù hợp để xây dựng
những công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh như: làm đường giao thông
nông thôn, xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ, xây dựng trường học, cơ sở
vật chất văn hóa (nhà văn hóa thôn, ấp), kéo mạng lưới điện, từng bước xóa bỏ nhà
tranh tre nứa lá phấn đấu xây nhà ở dân cư đạt chuẩn.
1.2.3. Nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong tổ chức sản xuất và đổi
mới các hình thức sản xuất
Xây dựng NTM trước hết cần tập trung vào sản xuất phát triển kinh tế, làm
thay đổi căn bản và toàn diện đời sống của nông dân theo hướng ngày càng tốt hơn.
Đây mới là vấn đề cốt lõi, chiều sâu của chương trình XD NTM. Từ chỗ xuất phát
điểm của nền nông nghiệp nước ta còn ở trình độ thấp, qui mô sản xuất nhỏ bé, hiệu
quả kinh tế chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế. Cho nên, trong tổ chức sản xuất,
ưu tiên hàng đầu là phải đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế nông nghiệp gắn với đổi
mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, từng bước xóa bỏ lối sản xuất nhỏ
lẻ, manh mún, phân tán và cá thể đã tồn tại lâu dài trong tập quán sản xuất của nông
dân. Thông qua phát huy vai trò chủ thể của nông dân để “Đồng khởi khởi nghiệp”
trong tổ chức sản xuất và đổi mới các hình thức sản xuất.
17
1.2.4. Nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển văn hóa, xã
hội, bảo vệ môi trường
Về giáo dục, vai trò chủ thể của nông dân được thể hiện trước hết bằng tinh
những nét chân quê, sự mộc mạc lại là cái hay, nét đẹp đáng trân trọng.
Về môi trường, bảo vệ môi trường tự nhiên ở địa bàn nông thôn là trách
nhiệm của toàn xã hội, của bản thân người nông dân vì lợi ích của cộng đồng không
chỉ cho hôm nay mà còn vì các thế hệ mai sau. Trong điều kiện hiện nay, khi tình
hình môi trường trên địa bàn nông thôn ngày càng suy thoái do hậu quả của chiến
tranh, do thiên tai, do biến đổi khí hậu và cả từ quá trình sản xuất của con người thì
vai trò chủ thể nông dân cần nâng cao nhiều hơn để đảm bảo môi trường luôn được
xanh, sạch, đẹp. Theo đó, phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong bảo vệ môi
trường không hẳn là những việc lớn lao mà nó được thể hiện từ những việc nhỏ,
đơn giản ngay trong hoạt động sinh hoạt và sản xuất hằng ngày. Đó là chủ động
đảm bảo vệ sinh trong ăn uống, đảm bảo nguồn nước hợp vệ sinh, nước sạch trong
sinh hoạt. Trong sản xuất và sinh hoạt, nông dân không có các hoạt động gây suy
giảm hay tác động tiêu cực đến môi trường, chất thải được nông dân thu gom và xử
lý đúng quy trình, quy định.
1.2.5. Nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong tham gia xây dựng hệ
thống chính trị và giữ vững trật tự, an ninh xã hội
Để xây dựng HTCT ở cơ sở ngày càng trong sạch vững mạnh không phải
chỉ dừng lại trong bản thân nội bộ của HTCT, mà điều cần thiết và không kém phần
quan trọng là phải có sự tham gia của người dân . Nâng cao vai trò chủ thể của nông
dân tham gia xây dựng HTCT trong sạch vững mạnh ở địa bàn nông thôn trên thực
tế dễ nhận thấy đó chính là việc nông dân chủ động thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11
về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn [22] với nhiều hình thức hoạt động
phong phú, đa dạng bao gồm dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện [22, tr.167].
Công tác đấu tranh đẩy lùi các TNXH, giữ vững an ninh trật tự, đảm bảo
quốc phòng an ninh trên địa bàn nông thôn trong tình hình mới là công việc khó
khăn cần có sự kiên trì, xuyên suốt và phải có sự cộng đồng trách nhiệm của toàn xã
hội chứ không phải là việc riêng của các cơ quan chức năng nhất là lực lượng vũ
cả những yếu tố thuận lợi trên đang ảnh hưởng tích cực đến việc phát huy vai trò
chủ thể của nông dân trong XD NTM tập trung vào việc phát triển kinh tế và tổ
chức sản xuất (tương ứng từ tiêu chí số 10 đến tiêu chí 13).
20
Tuy nhiên, những khó khăn, thách thức từ các xu thế của thời đại là không
nhỏ, có ảnh hưởng đáng kể đến việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong
XD NTM. Đó là áp lực từ xu hướng kết tinh hàm lượng tri thức ngày càng cao vào
quá trình sản xuất trong khi trình độ của nông dân nước ta còn nhiều hạn chế; việc
tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn và luật pháp quốc tế trong
khi nông dân nước ta vẫn còn thói quen, tập quán sản xuất nông nghiệp lạc hậu, tùy
tiện,… Mặt khác, việc hình thành nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của nước ta còn non trẻ, các doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm, hệ
thống pháp luật chưa hoàn thiện, ý thức chấp hành pháp luật trong sản xuất kinh
doanh chưa cao, mối liên kết và cộng đồng trách nhiệm giữa “Bốn nhà” chưa thật
bền vững mà trong mối liên kết đó thì nông dân luôn là người bị thua thiệt. Trong
điều kiện như thế, vai trò chủ thể của nông dân khó được phát huy có hiệu quả.
1.3.2. Hệ thống chính trị cơ sở
Những chuyển biến tích cực của HTCT hiện nay đang có sự tác động mạnh
mẽ đến các phong trào của nông dân. Hệ thống chính trị đang thực sự đóng vai trò
đầu tàu, dẫn dắt, định hướng nông dân trong XD NTM, vì như chủ nghĩa Mác đã
từng khẳng định: một mình nông dân không có khả năng làm cách mạng. Sự đồng
thuận và quyết tâm của cả HTCT trong XD NTM thể hiện thông qua sự chỉ đạo
quyết liệt, kịp thời của các cấp ủy Đảng, của người đứng đầu; là sự nêu cao tinh
thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đồng hành và chia sẻ cùng nông dân. Một
khi cả HTCT thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ sẽ là chỗ dựa tinh thần quan trọng,
là động lực to lớn cho các chủ thể nông dân phát huy tốt vai trò của mình trong XD
hay tham mưu, đề xuất cho các cơ quan chức năng nghiên cứu tháo gỡ chưa cao,
chưa làm tốt vai trò là cầu nối giữa HTCT với nông dân. Những hạn chế, yếu kém,
bất cập, sai phạm trong HTCT ở cơ sở làm cho lòng tin và tình cảm của nông dân ít
nhiều bị giảm sút. Một khi sự mất lòng tin, sự hoài nghi và cả sự không hài lòng gia
tăng sẽ là tỷ lệ nghịch đối với việc nâng cao vai trò chủ thể của nông dân trong XD
NTM.
1.3.3. Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn
Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của vấn đề nông nghiệp, nông
dân, nông thôn đối với quá trình phát triển KT - XH của đất nước, trong những năm
22
qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết thể hiện sự
quan tâm sâu sắc đến vấn đề “Tam nông” và tạo được sự đồng thuận cao trong nhân
dân như: Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung
ương khóa X năm 2008 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân [7], Quyết định số
205-QĐ/TW của Ban Bí thư Ngày 30/12/2008 về việc thành lập Ban chỉ đạo thí
điểm chương trình NTM, Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban
hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 ban
hành Chương trình mục tiêu quốc gia về XD NTM giai đoạn 2010 - 2020 [19];
Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 về sửa đổi một số tiêu chí trong Bộ tiêu
chí quốc gia về NTM [20]; Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 về việc
ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (gọi tắt là
Bộ tiêu chí xã). Đây là những văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục cụ thể hóa quan
điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân; là cơ sở
pháp lý quan trọng, cần thiết, có tính định hướng để triển khai đồng bộ và rộng khắp
trên phạm vi toàn quốc.
thực tế sẽ khó áp dụng rộng rãi và khó thực hiện. Vì rằng, nhiều xã, nhất là vùng sâu
vùng xa, người nông dân không đủ khả năng và nguồn lực để thiết lập HTX, lại là
HTX kiểu mới hoạt động có hiệu quả và bền vững. [Phụ lục 2].
1.3.4. Trình độ, nhận thức của nông dân
Trong những năm trước đây, nhất là trong thời kỳ dưới ách áp bức và thống
trị của thực dân phong kiến, trình độ học vấn của nông dân nước ta nhìn chung rất
thấp, năng lực nhận thức của người dân nhất là nông dân vùng sâu vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số rất hạn chế. Điều này gây khó khăn và ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt của bản thân người nông dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới gắn với
CNH, HĐH đất nước, công tác giáo dục và đào tạo rất được quan tâm nhằm “nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” ngay trong lực lượng nông dân
phải được quan tâm chú trọng, vừa là yêu cầu cấp bách vừa có ý nghĩa chiến lược
lâu dài. Nhìn chung, đến nay trình độ học vấn, năng lực nhận thức của nông dân
nước ta về cơ bản được cải thiện, từng bước được nâng cao. Đây là yếu tố nội sinh
có tính căn bản và bền vững giúp cho việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân
24
trong XD NTM đem lại hiệu quả ngày càng tốt hơn. Chẳng hạn, chính sự quyết tâm,
nỗ lực trong việc tự học, tự rèn để nâng cao năng lực tư duy, trình độ học vấn giúp
cho nhiều chủ thể nông dân tự tin tiếp cận tốt những thành tựu khoa học, kỹ thuật và
công nghệ (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, kỹ
thuật canh tác mới,…) vào quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, trên thực tế xét về quy mô, chất lượng và hiệu quả của nguồn
nhân lực ở địa bàn nông thôn nước ta vẫn còn nhiều bất cập. Trình độ học vấn, năng
lực nhận thức của một bộ phận không nhỏ trong nông dân chưa ngang tầm đang ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả chương trình XD NTM. Một khi trình độ