Luận văn
Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng
Thương Mại trên địa bàn tỉnh Long An
1
PHẦN MỞ ĐẦU 1.Ý nghóa nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài .
Công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng từ sau Đại hội VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam đến nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển mạnh sang nền
kinh doanh của các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn tỉnh Long An” nhằm
phát triển thêm luận cứ khoa học về chức năng lẫn nghiệp vụ cụ thể trong hoạt động
kinh doanh của các NHTM theo cơ chế thò trường, đònh hướng XHCN; đặc biệt là
trong giai đoạn hiện nay, thực hiện Hiệp đònh thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, tiến tới
hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Hy vọng đề tài nghiên cứu này sẽ đóng góp
một phần vào việc giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn cần nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của các NHTM ở nước ta nói chung và các NHTM trên đòa
bàn tỉnh Long An nói riêng.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
Để hình thành nên đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh đã trải qua một thời
gian nghiên cứu lý thuyết khoa học, tích lũy kiến thức về hoạt động của Ngành ngân
hàng, kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tỉnh Long An qua công tác tổng
kết, sơ kết báo cáo hoạt động niên độ và các cuộc hội nghò chuyên đề về hiệu quả
hoạt động kinh doanh, khảo sát thực tế một số NHTM cơ sở. Đặc biệt là thông qua
vai trò quản lý nhà nước về tiền tệ-tín dụng-Ngân hàng tại đòa phương, từ đó nghiên
cứu sinh quyết đònh nghiên cứu: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An”.
3. Những nội dung nghiên cứu trong luận án:
Xuất phát từ những lý luận khoa học về NHTM, đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ
và phát triển thêm một số luận cứ khoa học về sự cần thiết khách quan của NHTM
trong nền kinh tế thò trường; các chức năng hoạt động và hiệu quả trong kinh doanh
3
của các NHTM. Đồng thời qua nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh của các
NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An đặt trong mối quan hệ so sánh với NHTM của hai
tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, từ đó phân tích những mặt tích cực, tồn
tại và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở đó nghiên cứu sinh sẽ đưa ra một số giải pháp
hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.
Nếu xét về bản chất kinh tế – xã hội của NHTM theo gốc độ phạm trù kinh
tế, thì thực chất: NHTM là hệ thống quan hệ tiền tệ hoạt động dưới hình thái tín
dụng( vay, cho vay, trả lãi tiền vay) nhằm huy động và cung ứng vốn tiền tệ từ nơi
có vốn cung cấp đến nơi có nhu cầu về vốn với mục đích đầu tư phát triển và các
nhu cầu xã hội khác.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trung gian có vò trí trọng yếu trong
hệ thống Ngân hàng. Tổng tài sản có của Ngân hàng thương mại luôn luôn có khối
lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng. Mặc khác, khối lượng séc hay tài
khoản tiền gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cung
tiền tệ của cả nền kinh tế.
Theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước xác
đònh: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo Luật các TCTD ngày 12/12/1997:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo qui đònh của luật này
và các qui đònh khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dòch vụ
5
ngân hàng với nội dung chủ yếu nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cung cấp tín
dụng, cung ứng các dòch vụ thanh toán.
Để làm rõ khái niệm trên cần phân tích sâu hơn về nội dung quan hệ tiền tệ
và tính chất tín dụng của NHTM:
Về nội dung quan hệ tiền tệ của NHTM : Được thể hiện trên bốn phương
diện chủ yếu:
Thứ nhất, quan hệ giữa NHTM với Nhà nước: Thông qua việc vay vốn và tiền
Thứ ba, hoạt động tín dụng NHTM mang tính chất hoàn trả và có lợi tức. Điều
này đòi hỏi hoạt động tín dụng phải tính toán hiệu quả và luôn thích ứng với đặc
điểm hoạt động của thò trường tài chính trong và ngoài nước.
Từ phân tích trên, có thể thấy, quan hệ tín dụng NHTM có phạm vi hoạt động
rộng, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các khâu và các cấp độ hoạt
động của nền kinh tế quốc dân.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của NHTM trong nền kinh tế thò trường:
Nền sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển thì quy luật cung cầu ngày càng
thể hiện rõ nét, nhất là trong nền kinh tế thò trường nảy sinh ra nhiều mối quan hệ về
cung cầu trong đó cung cầu về vốn đóng vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy các mối
quan hệ khác phát triển.
Cầu về vốn trong nền kinh tế nảy sinh do: các doanh nghiệp, cá nhân có nhu
cầu vốn để sản xuất kinh doanh; cá nhân có nhu cầu tiêu dùng và Nhà nước có nhu
cầu vốn do thiếu hụt ngân sách.
Cung về vốn trong nền kinh tế nảy sinh do: Cung về vốn của các tổ chức cho
vay; các khoản tiết kiệm trong dân dư và tiền cung ứng của NHNN.
Do yêu cầu điều tiết các mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế đòi
hỏi phải có một tổ chức trung gian để nhận khoản cung về vốn và phân phối khoản
cầu về vốn. Chính vì thế trong nền kinh tế thò trường xuất hiện một ngành kinh
7
doanh đặc biệt đó là ngành kinh doanh tiền tệ do những doanh nghiệp chuyên hoạt
động lónh vực này là các ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại có hoạt động gần gũi nhất với nhân dân và nền kinh
tế. Các nước phát triển, hầu như không có công dân nào không có quan hệ giao dòch
với một ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hoạt động và dòch vụ của ngân hàng
thương mại càng đi vào tận cùng ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống của con
nhất đònh, có những đơn vò kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi (thừa vốn) và có
những đơn vò khác tạm thời thiếu vốn. Đây là hiện tượng mang tính chất tạm thời
nhưng xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bất kỳ nền kinh tế nào, làm nẩy sinh
yêu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết cho được vấn đề điều hoà vốn. Ngân
hàng thương mại với vai trò là trung gian tín dụng đứng ra tập trung và phân phối lại
vốn tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn trong các doanh nghiệp, đã góp phần điều tiết
các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp không bò gián đoạn.
Để mở rộng sản xuất, đối với từng doanh nghiệp yêu cầu về vốn là một trong
những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Các doanh nghiệp không thể trông chờ
vào vốn tự có, mà còn phải biết dựa vào vốn của nhiều nguồn khác nhau trong xã
hội. Ngân hàng thương mại với tư cách là nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi, sẽ
là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát triển. Như vậy, tín dụng
ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích luỹ vốn nhanh
chóng cho đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ tập trung và
tích luỹ vốn cho nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại tập hợp nguồn vốn của khách hàng này đem chuyển
cho người khác sử dụng theo phương thức kinh doanh “vay để cho vay”. Đó chính là
vai trò trung gian của Ngân hàng. Như vậy xuất hiện một nét đặc thù chính của
Ngân hàng khi đóng vai trò trung gian: thu thập những đồng tiền đã có sẳn (như
nhận tiền gửi; tiền tiết kiệm) và đem cho vay đối với người cần tiền để sử dụng cho
9
nhu cầu sản xuất kinh doanh, sinh hoạt và đời sống. Vai trò trung gian này trở nên
phong phú hơn khi việc phát hành thêm cổâ phiếu, trái phiếu, phát hành chứng chỉ
tiền gửi và hiện nay phổ biến là tiền gửi tiết kiệm có xổ số,… cũng được coi là
những hình thức thu thập nguồn vốn.
thiện đời sống nhân dân.
1.2.2- Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh
toán:
Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng Ngân hàng là thủ quỹ
của các doanh nghiệp, tức là Ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi
trả theo lệnh của chủ tài khoản. Công việc của người thủ quỹ chính là ở chổ làm
trung gian thanh toán. Hoạt động thanh toán của Ngân hàng là cơ sở hoạt động tín
dụng ngày nay. Khi một khách hàng thiếu tiền để thanh toán, Ngân hàng sẽ trả hộ
và khoản trả hộ đó sẽ trở thành khoản vay của khách hàng. Trong Ngân hàng thương
mại, chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với chức năng trung
gian tín dụng: Ngân hàng dùng số tiền gửi thanh toán của người này để cho người
khác vay. Xuất phát từ chức năng là người thủ quỹ của các doanh nghiệp, Ngân
hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dòch vụ thanh toán theo sự uỷ nhiệm của
khách hàng. Khi các khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an
toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi, nhất
là đối với các khoản thanh toán có giá trò lớn, ở mọi đòa phương, nếu khách hàng tự
làm sẽ rất tốn kém, khó khăn và không an toàn. Khi Ngân hàng thương mại ra đời
và phát triển, hầu hết các khoản thanh toán chi trả về hàng hoá, dòch vụ giữa các
chủ thể kinh tế (doanh nghiệp và cá nhân) đều được chuyển giao cho Ngân hàng
thực hiện, việc thanh toán trở nên tiện lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí, mọi quan hệ
thanh toán được thực hiện bằng cách các chủ thể mở tài khoản tại Ngân hàng và yêu
cầu Ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc uỷ nhiệm cho Ngân hàng thực hiện
việc thu nhận các khoản tiền vào tài khoản của mình.
11
Trong khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng tạo ra những công cụ lưu
thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ
tính của các Ngân hàng thương mại trong nước, nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài
khoản người mua sang tài khoản người bán một cách nhanh chóng.
Quá trình lưu thông chuyển vốn từ tài khoản người mua sang tài khoản người
bán có một đặc điểm phi vật chất, vì không giống như đồng tiền giấy được chuyển
trao tay thực sự từ người này sang người khác, mà nó chính là đồng tiền ghi sổ, rất
thích ứng với từng nhu cầu của giao dòch.
Cùng với sự phát triển của đồng tiền ghi sổ, tiền tệ nói chung đã trở thành
một công cụ hết sức mềm dẽo, nó không tồn tại dưới dạng vật chất. Séc và chuyển
khoản chỉ là cách thực hiện, nó cho phép lưu thông đồng tiền ghi sổ. Cơ sở của việc
phát hành séc hay thanh toán qua chuyển khoản đó chính là tài khoản tại Ngân
hàng.
1.2.3 – Chức năng tạo “ bút tệ” theo cấp số nhân:
Từ khi Ngân hàng ra đời, hoạt động kinh doanh tiền tệ có được bước phát
triển mới. Trong quá trình kinh doanh tiền tệ, các Ngân hàng nhận thấy khách hàng
đã sử dụng giấy chứng nhận tiền gửi mà Ngân hàng đã cấp cho họ để chi trả các
khoản nợ. Vì thế, các Ngân hàng đưa vào lưu thông các loại tiền giấy Ngân hàng
được chuyển đổi ra vàng qua nghiệp vụ tín dụng thay thế cho tiền vàng. Đây chính
là một phát minh có giá trò trong lòch sử hoạt động của tiền tệ.
Vào cuối thế kỷ 19, hệ thống Ngân hàng hai cấp được hình thành, các Ngân
hàng không còn hoạt động riêng lẽ mà đã tạo ra một hệ thống, trong đó Ngân hàng
Nhà nước là cơ quan quản lý về tiền tệ- tín dụng, là ngân hàng của các ngân hàng.
Các Ngân hàng còn lại chuyên kinh doanh tiền tệ, nhờ hoạt động trong hệ thống các
Ngân hàng thương mại đã tạo ra “ bút tệ” thay thế cho tiền mặt. Đây là sáng kiến
quan trọng thứ hai trong lòch sử hoạt động ngân hàng. Chính nhờ phương thức tạo
13
14
nhiên dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại chỉ tạo
tiền “bút tệ” trong một giới hạn nhất đònh. Chức năng tạo tiền của Ngân hàng
thương mại chỉ thực hiện được khi Ngân hàng thương mại huy động đã cho vay và số
tiền vay đó phải luân chuyển trong hệ thống Ngân hàng thương mại. Do vậy, nếu
Ngân hàng thương mại không tạo được tiền có nghóa là Ngân hàng thương mại đã
không không tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất.
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung , Ngân hàng Việt Nam không mở
rộng việc thu nhận tiền gửi vào tài khoản séc, việc thanh toán bằng séc trong dân cư
không được phổ biến. Ngân hàng ít cung cấp tín dụng qua tài khoản tiền gửi và tài
khoản vãng lai , nên khả năng sáng tạo bút tệ của Ngân hàng rất hạn hẹp, không
tạo ra được bội số của tiền gửi ban đầu, mà chỉ có một tỷ lệ phần trăm nhỏ của số
tiền gửi ấy trở lại Ngân hàng dưới dạng gia tăng ký thác ứng lập.
Muốn tạo ra bút tệ phải sử dụng cả hệ thống Ngân hàng. Một Ngân hàng
đơn độc khó có khả năng tạo tiền, hoặc việc tạo tiền diễn ra ở một Ngân hàng
thương mại chỉ là tạm thời trong một lúc nào đó. Một Ngân hàng thương mại duy
nhất không thể tạo dựng bức tranh toàn cảnh về quá trình tạo tiền. Hay nói cách
khác, quá trình tạo tiền là hệ quả tổng hợp của hoạt động nhận tiền gửi, thanh toán
hộ và cho vay của các Ngân hàng thương mại và luôn có sự trợ giúp của Ngân hàng
Nhà nước. (Ngân hàng Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để gia tăng
hay khống chế khả năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại theo ý đồ của mình).
Việc tạo tiền của Ngân hàng thương mại đến lúc nào đó, giới hạn nào đó sẽ lôi cuốn
việc phát hành thêm tiền của Ngân hàng Nhà nước, bởi vì việc tạo tiền có khả năng
là cho các Ngân hàng thương mại mất khả năng chi trả tiền mặt và lúc đó Ngân
hàng Nhà nước phải cho các Ngân hàng thương mại vay để bù đắp thiếu hụt thanh
khoản; trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước không cho vay các tổ chức tài chính phi
ngân hàng vì chúng không tạo ra tiền.
16
* Tài khoản tiền gửi thanh toán ( tài khoản giao dòch hay tài khoản séc), tài
khoản này có số dư có, khách hàng chỉ được sử dụng trong phạm vi tiền gửi của
mình.
*Tài khoản vãng lai : tài khoản này có thể dư có hoặc dư nợ, nghóa là khách
hàng ngoài việc sử dụng vốn tiền gửi của mình còn được dùng khoản tiền do Ngân
hàng cho vay theo sự thỏa thuận trước giữa Ngân hàng và khách hàng.
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế : Là loại tiền gửi mà các tổ chức, doanh
nghiệp thường xuyên gửi tại NHTM.
Tiền gửi các tổ chức kinh tế có thể chia ra : tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ
hạn:
*Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời
nhàn rổi, họ gửi tiền vào Ngân hàng không chú trọng mục đích sinh lời , mà vì mục
đích an toàn tài sản, khi cần có thể rút ra một cách dể dàng.
*Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được ủy thác vào Ngân hàng , có sự
thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa Ngân hàng với khách hàng. Tiền gửi có kỳ hạn
được hưởng lãi suất cố đònh. Tuy nhiên, giữa các loại tiền gửi có kỳ hạn khác nhau
thì lãi suất sẽ khác nhau, thời hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao bởi vì Ngân
hàng có thể dùng tiền gửi này để đầu tư vào những dòch vụ hoặc sản xuất lâu dài,
lợi tức cao và ổn đònh hơn.
-Tiền gửi tiết kiệm
: chủ yếu là tiết kiệm của dân cư, gồm các loại sau:
+Tiết kiệm không kỳ hạn:
Là khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà
không phải báo trước. Số dư tài khoản này thường không lớn , nhưng có ưu điểm
hơn so với tiền gửi thanh toán vì số dư của loại tiền gửi này ít biến động.
+ Tiết kiệm có kỳ hạn:
: Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn
trên thò trường vốn dưới hình thức giấy nhận nợ do các tổ chức tín dụng phát hành
18
để huy động vốn, trong đó cam kết trả lãi và gốc cho người mua (hoặc người sở
hữu) sau một thời gian nhất đònh. Về phía người mua, trái phiếu Ngân hàng là giấy
chứng nhận việc đầu tư vốn và quyền được hưởng thu nhập của người mua trên số
tiền mua trái phiếu Ngân hàng.
Thực chất, hình thức tạo vốn này đã giúp cho các Ngân hàng thương mại chủ
động trong việc huy động vốn để thực hiện các dự án đầu tư dài hạn vì nguồn vốn
này có tính ổn đònh cao về thời gian sử dụng và lãi suất.
1.3.2. Hoạt động tín dụng
.
Chúng ta biết rằng: Tín dụng là một phạm trù kinh tế, nó đã tồn tại và phát
triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội. Nếu hiểu theo nghóa hẹp thì tín dụng là sự
vay mượn trong đó hai chủ thể người đi vay và người cho vay , sẽ thỏa thuận một
thời hạn nợ và mức lãi suất cụ thể. Nếu hiểu theo nghóa rộng thì tín dụng là sự vận
động của các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Từ tín dụng được sử dụng ngày nay (tiếng Anh: Credit, Pháp: Crédit) xuất
phát từ gốc Latin Creditum là lòng tin và sự tín nhiệm. Ở đây muốn nói về niềm tin
mà người cho vay hướng về người đi vay khi đem tiền bạc, tài sản ra cho vay, họ
phải có cơ sở tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả nợ đúng hạn và ngược lại người đi
vay cũng tin tưởng vào Ngân hàng khi đem tài sản của mình thế chấp, cầm cố vào
Ngân hàng. Nói cách khác để quan hệ tín dụng tồn tại đòi hỏi phải tạo lập được
niềm tin và đây là cơ sở quan trọng cho quan hệ tín dụng hình thành. Như vậy khái
niệm tổng quát về tín dụng có thể đưa ra là: tín dụng là một quan hệ vay mượn dựa
trên nguyên tắc có hoàn trả (cảø vốn và lãi) sau một thời gian nhất đònh.
- Khâu phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng là nơi đáp ứng nhu cầu vốn cho
doanh nghiệp, các cá nhân và cho cả ngân sách.
Khác với phương pháp ngân sách, việc phân phối mang tính chất cấp phát
không hoàn trả phục vụ chủ yếu cho lónh vực phi sản xuất; phân phối vốn qua hệ
thống tín dụng trên cơ sở hoàn trả, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu sản xuất lưu thông
20
và dòch vụ. Qua đó, góp phần đáng kể vào nhòp độ tăng trưởng của nền kinh tế trong
từng thời kỳ nhất đònh.
Trên thực tế, vận dụng chức năng của tín dụng được thể hiện thông qua hoạt
động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Đây là loại hình tín dụng gián tiếp của xã
hội, nghóa là quá trình tập trung và phân phối phải qua các tổ chức trung gian. Ngoài
ra, trong điều kiện kinh tế thò trường tín dụng còn thể hiện bằng loại hình tín dụng
trực tiếp như: mua bán chòu hàng hoá giữa các doanh nghiệp, các doanh nghiệp hay
nhà nước sẽ tự huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu trên thò trường chứng
khoán.
Như vậy, nếu trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch chức năng
tập trung và phân phối lại vốn của tín dụng chỉ được thực hiện hầu hết qua các tổ
chức trung gian, thì trong điều kiện cơ chế thò trường cùng với sự đa dạng các hình
thức tín dụng, việc tổ chức phân phối vốn tín dụng cũng được phong phú hơn, tạo
điều kiện điều phối vốn linh hoạt và hiệu quả hơn.
Thực hiện chức năng này, tín dụng còn góp phần tiết kiệm tiền mặt và các chi
phí lưu thông cho xã hội, biểu hiện cụ thể qua những điểm sau:
Qua quá trình huy động kòp thời những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội,
những khoản vốn này đang tạm thời đứng yên sẽ được đưa vào chu chuyển, nghóa là
tín dụng đã tăng nhòp độ vòng quay của đồng tiền, giảm đồng tiền dư thừa nhằm ổn
đònh lưu thông tiền tệ. Hơn nữa, trong điều kiện hệ thống Ngân hàng phát triển thì
Ngoài ra, thông qua việc tổ chức công tác thanh toán không dùng tiền mặt còn
tạo điều kiện để Ngân hàng tăng cường vai trò kiểm soát bằng đồng tiền đối với các
đơn vò kinh tế, vì mọi quá trình hình thành và sử dụng vốn của doanh nghiệp đều
được phản ánh và lưu giữ qua số liệu trên tài khoản tiền gửi. Từ đó, Ngân hàng có
cái nhìn tương đối tổng quát về cấu trúc tài chính của các đơn vò.
Như vậy, với chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế sẽ góp
phần giải quyết tình trạng mất cân đối cục bộ của nền kinh tế với những giải pháp
22
khắc phục kòp thời, nhằm phát huy vai trò quản lý và điều tiết vó mô của nhà nước.
Điều này cũng có nghóa là tín dụng cần phải được vận dụng như một trong những
đòn bẩy kích thích kinh tế không thể thiếu trong quá trình tổ chức quản lý kinh tế-
tài chính, kiểm soát và thúc đẩy các hoạt động kinh tế quốc dân.
1.3.2.2 – Vai trò của tín dụng
:
Nói đến vai trò tín dụng, nghóa là nói đến sự tác động của tín dụng đối với
nền kinh tế – xã hội. Vai trò của tín dụng bao gồm hai mặt: mặt tích cực và mặt tiêu
cực. Chẳng hạn nếu để tín dụng phát triển tràn lan không kiểm soát, thì không
những không làm cho nền kinh tế phát triển mà còn làm cho lạm phát có thể gia
tăng, gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế – xã hội. Mặt tích cực, tín dụng có vai trò
to lớn sau đây:
. Thứ nhất
: Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá.
- Tín dụng, trước hết là nguồn cung ứng vốn cho các doanh ngiệp, các tổ chức
kinh tế .
- Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu
trong nền kinh tế.
trong các công cụ điều tiết vó mô của nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu của chính
sách tiền tệ trong từng thời kỳ, thì lãi suất tín dụng đã trở thành công cụ điều tiết
linh hoạt và nhạy bén của nền kinh tế.
.Thứ ba
: Tín dụng góp phần ổn đònh đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn
đònh trật tự – xã hội.
Vai trò này của tín dụng có thể nói là hệ quả tất yếu của 2 vai trò nêu trên.
Một mặt, do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hoá
và dòch vụ ngày càng gia tăng góp phần thoả mãn nhu cầu đời sống của người lao
động. Mặt khác, do vốn tín dụng cung ứng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác
các tiềm năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động, đất đai…
Do đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội để tạo ra lực lượng sản
xuất mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
24
Hoạt động tín dụng không chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp mà
còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư. Trong nền kinh tế, bên cạnh các Ngân hàng
còn có hệ thống các tổ chức tín dụng dân cư sẵn sàng cung ứng nhu cầu vay vốn
hợp lý của cá nhân như: phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh
hoạt…. Nắm bắt tình hình đó, ngoài việc phát triển các loại hình như : Ngân hàng
phục vụ người nghèo ( nay là Ngân hàng Chính sách xã hội), Quỹ xóa đói giảm
nghèo…. … nhằm mục đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân tạo công ăn
việc làm, giãm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó, góp phần ổn đònh trật tự xã hội.
Ngoài ra, tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng, phát triển các mối
quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế . Sự phát triển của tín dụng
không những ở phạm vi quốc nội mà còn mở rộng ra cả phạm vi quốc tế, nhờ đó nó
thúc đẩy mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại; nhằm giúp đỡ và giải