1
PHẦN MỞ ĐẦU 1.Ý nghóa nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài .
Công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng từ sau Đại hội VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam đến nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển mạnh sang nền
kinh tế thò trường đònh hướng XHCN. Hoạt động Ngân hàng cũng đã có sự đổi mới
một cách căn bản, sâu sắc. Đó là, từ ngân hàng một cấp, hệ thống Ngân hàng Việt
Nam đã chuyển thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về tiền tệ- tín dụng- ngân hàng và hệ thống các Ngân hàng
thương mại (NHTM) trực tiếp kinh doanh tiền tệ – tín dụng và làm các dòch vụ Ngân
hàng theo cơ chế thò trường.
Với sự phân cấp đó, hệ thống các NHTM được đa dạng hoá loại hình, sở hữu,
không ngừng hiện đại hoá các khâu nghiệp vụ, mở rộng các loại hình dòch vụ nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của mình.
Thực tiễn hơn 10 năm qua cho thấy hoạt động của hệ thống NHTM ở nước ta
đã góp phần to lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, ổn đònh và nâng cao
đời sống nhân dân. Tuy nhiên, nhìn chung quy mô hoạt động vẫn còn nhỏ bé, mạng
lưới tổ chức chưa rộng khắp, hiệu quả tín dụng Ngân hàng chưa cao, hình thức khai
thác vẫn còn đơn điệu, trình độ tư vấn kinh tế – kỹ thuật đối với từng dự án và từng
doanh nghiệp còn thấp. Đáng chú ý hơn còn có một số tổ chức tín dụng (TCTD)
ngoài quốc doanh chạy theo lợi nhuận đơn thuần nên thường va vấp trong hoạt động
kinh doanh, đã rơi vào nguy cơ phá sản, mất khả năng thanh toán. Ngày nay, lónh
vực kinh doanh tiền tệ-tín dụng-ngân hàng đang ngày càng sôi động và quyết liệt
nhằm để phân chia thò phần lẫn nhau, không còn giới hạn trong phạm vi quốc gia mà
lan rộng sang phạm vi khu vực và quốc tế. Điều đó đòi hỏi các NHTM càng phải
3
của các NHTM. Đồng thời qua nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh của các
NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An đặt trong mối quan hệ so sánh với NHTM của hai
tỉnh trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, từ đó phân tích những mặt tích cực, tồn
tại và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở đó nghiên cứu sinh sẽ đưa ra một số giải pháp
chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTM nói chung, các NHTM
trên đòa bàn tỉnh Long An nói riêng.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Với phương pháp biện chứng; sử dụng lý thuyết cơ bản về tiền tệ, tín dụng,
kinh tế vó mô và kinh tế vi mô; Sử dụng các phương pháp diễn giải, qui nạp, có phân
tích so sánh đối chiếu và khảo sát thực tế. Qua đó phân tích đánh giá những tồn tại,
nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh
mạnh dạn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của
các NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An.
5. Kết cấu luận án: Luận án có khối lượng 187 trang, 15 bảng, 7 biểu đồ,
ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý luận về NHTM và các hoạt động của NHTM.
Chương 2:Thực trạng hoạt động kinh doanh của các NHTM trên đòa bàn tỉnh Long
An.
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
NHTM trên đòa bàn tỉnh Long An.
4
5
ngân hàng với nội dung chủ yếu nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cung cấp tín
dụng, cung ứng các dòch vụ thanh toán.
Để làm rõ khái niệm trên cần phân tích sâu hơn về nội dung quan hệ tiền tệ
và tính chất tín dụng của NHTM:
Về nội dung quan hệ tiền tệ của NHTM : Được thể hiện trên bốn phương
diện chủ yếu:
Thứ nhất, quan hệ giữa NHTM với Nhà nước: Thông qua việc vay vốn và tiền
dự trữ bắt buộc ở Ngân hàng Nhà nước (NHNN), vay vốn Kho bạc Nhà nước; phối
hợp với Ngân sách Nhà nước và NHNN điều hoà tiền mặt trong lưu thông, ổn đònh
tiền tệ, ổn đònh sức mua, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, quan hệ giữa NHTM với các doanh nghiệp (tổ chức kinh tế ) bằng
việc huy động vốn và cho vay vốn phục vụ hoạt động kinh doanh; hoặc phát hành
chứng khoán (chứng khoán nợ, chứng khoán vốn) để huy động vốn; các quan hệ tín
dụng liên Ngân hàng và các quan hệ thanh toán để làm khai thông các nguồn vốn tín
dụng trong quá trình kinh doanh.
Thứ ba, quan hệ giữa NHTM với các tầng lớp dân cư: Quan hệ này thể hiện
ở việc NHTM huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư để tăng vốn tín dụng
hoặc cho vay thế chấp và tín chấp cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của thể nhân và
cá nhân trong các trường hợp cần thiết.
Thứ tư, quan hệ giữa NHTM và thò trường tài chính (TTTC): Cấu thành của
TTTC gồm thò trường tiền tệ (ngắn hạn) và thò trường vốn (trung dài hạn). Các thành
phần tham gia trên TTTC gồm: công ty cổ phần, thò trường chứng khoán, NHTM,
các TCTD phi Ngân hàng, các Công ty tài chính, Quỹ đầu tư, Bảo hiểm… Trong đó,
NHTM giữ vai trò quan trọng, chiếm tỷ phần khá lớn và tác động mạnh mẽ đến cả
thò trường tiền tệ và thò trường vốn thông qua tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn.
7
doanh đặc biệt đó là ngành kinh doanh tiền tệ do những doanh nghiệp chuyên hoạt
động lónh vực này là các ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại có hoạt động gần gũi nhất với nhân dân và nền kinh
tế. Các nước phát triển, hầu như không có công dân nào không có quan hệ giao dòch
với một ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hoạt động và dòch vụ của ngân hàng
thương mại càng đi vào tận cùng ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống của con
người. Mọi công dân đều chòu tác động của ngân hàng, dù họ là khách hàng gửi, một
người vay, hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và
sử dụng các dòch vụ ngân hàng.
Từ lâu, ngân hàng thương mại là một đònh chế tài chính quen thuộc trong đời
sống kinh tế. Chính vì thế Ngân hàng thương mại ra đời, tồn tại và phát triển cùng
với nền kinh tế thò trường là một thực tế khách quan.
1.2. Các chức năng của NHTM:
1.2.1 – Chức năng trung gian tín dụng:
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại và có
ý nghóa đặc biệt trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có
nhu cầu tiền tệ cần bổ sung gặp phải nhiều hạn chế. Hoạt động tín dụng của Ngân
hàng thương mại đã góp phần khắc phục hạn chế đó.
Thực hiện chức năng này, một mặt NHTM huy động tập trung các nguồn vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế hình thành nguồn vốn cho
vay; mặc khác, trên cơ sở số vốn đã huy động được, Ngân hàng cho vay để đáp ứng
nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng ….. của các chủ thể kinh tế, góp phần
đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế- xã hội, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Như vậy, Ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay,
9
nhu cầu sản xuất kinh doanh, sinh hoạt và đời sống. Vai trò trung gian này trở nên
phong phú hơn khi việc phát hành thêm cổâ phiếu, trái phiếu, phát hành chứng chỉ
tiền gửi và hiện nay phổ biến là tiền gửi tiết kiệm có xổ số,….. cũng được coi là
những hình thức thu thập nguồn vốn.
Ngày nay, sự phát triển của thò trường tài chính làm xuất hiện những khía
cạnh khác của chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng. Ngân hàng có thể đứng ra
làm trung gian giữa công ty (khi phát hành cổ phiếu) với những nhà đầu tư: chuyển
giao các mệnh lệnh trên thò trường chứng khoán; đảm nhận việc mua bán trái phiếu
công ty theo cách này Ngân hàng làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vay
vốn trên thò trường.
Do đó, Ngân hàng không chỉ làm trung gian giữa người gửi tiền và người vay
tiền, mà còn làm trung gian giữa người đầu tư và người vay vốn trên thò trường.
Những trung gian tài chính làm việc này để kiếm lời bằng việc đặt một lãi suất cao
hơn cho các món vay so với món lãi họ thanh toán cho người cho vay (người tiết
kiệm). Như vậy, do hoạt động trong quá trình tài chính gián tiếp, những trung gian
tài chính có thể đem lại cho họ thu nhập tiền lãi cao và có thể giúp những người vay
các món tiền nhỏ, nay có thể vay được tiền vốn mà họ không có cách nào để có
được. Ngoài ra, đối với người vay món tiền lớn cũng hưởng lợi, bởi vì quá trình trung
gian tài chính tập trung được nhiều vốn hơn cho người vay trong thò trường tài chính.
Tác dụng của trung gian tài chính là giảm thiểu những chi phí thông tin và chi
phí giao dòch trong nền kinh tế. Hơn nữa, tín dụng Ngân hàng còn là một trong
những nguồn hình thành vốn lưu động và vốn cố đònh của doanh nghiệp. Vì vậy, tín
dụng Ngân hàng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh được liên tục, là cầu nối giữa tiết kiệm, tích luỹ, đầu tư, động
viên vật tư hàng hoá đưa vào sản xuất lưu thông, mở rộng nguồn vốn thúc đẩy tiến
bộ kỹ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất.
việc thu nhận các khoản tiền vào tài khoản của mình.
11
Trong khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng tạo ra những công cụ lưu
thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển ngân, thẻ
thanh toán) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ lưu
chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá. Ban đầu Ngân hàng đã sử dụng
tiền Ngân hàng thay cho tiền vàng trong lưu thông tiết kiệm được chi phí đúc tiền,
vận chuyển, bảo quản và hao mòn tiền vàng trong lưu thông. Kế tiếp, Ngân hàng sử
dụng các công cụ lưu thông tín dụng như: séc, thẻ thanh toán để thay thế cho tiền
mặt, đã tiết kiệm được chi phí trong việc in, đếm và vận chuyển tiền. Từ các phương
tiện thanh toán, khách hàng của Ngân hàng không phải chi trả với nhau bằng tiền
mặt, mà chỉ cần ra lệnh Ngân hàng thương mại thông qua các phương tiện, Ngân
hàng sẽ ghi nợ cho tài khoản người này và ghi có tài khoản người kia một cách kòp
thời.
Việc làm trung gian thanh toán của Ngân hàng ngày nay đã phát triển đến
tầm mức rất đa dạng, không chỉ là trung gian thanh toán truyền thống như trước mà
còn quản lý các phương tiện thanh toán. Đây là vai trò ngày càng chiếm vò trí rất
quan trọng, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ở các nước
phát triển, phần lớn công tác thanh toán được thực hiện thông qua séc và phần lớn
séc thanh toán trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ thông qua hệ thống
Ngân hàng thương mại. Nếu việc phát hành séc để rút tiền từ tài khoản tiền gửi và
thanh toán trong cùng một Ngân hàng, thì chỉ là một động tác chuyển dòch vốn từ tài
khoản này sang tài khoản khác và nếu séc thanh toán trong cùng đòa bàn thì phải
thông qua thanh toán bù trừ.
Khoa học công nghệ ngày càng hiện đại, các Ngân hàng thương mại từng
bước trang bò đầy đủ máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật khác, tạo điều kiện
Các Ngân hàng còn lại chuyên kinh doanh tiền tệ, nhờ hoạt động trong hệ thống các
Ngân hàng thương mại đã tạo ra “ bút tệ” thay thế cho tiền mặt. Đây là sáng kiến
quan trọng thứ hai trong lòch sử hoạt động ngân hàng. Chính nhờ phương thức tạo
13
tiền này mà Ngân hàng chẳng những bảo đảm cho sự phát triển của mình, mà còn
trở thành trung tâm tiền tệ của đời sống kinh tế hiện đại.
Quá trình tạo tiền của Ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua hoạt
động tín dụng và thanh toán trong hệ thống Ngân hàng trong mối liên hệ chặt chẽ
với hệ thống Ngân hàng Nhà nước. Chúng ta giả đònh rằng tất cả các Ngân hàng
thương mại đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức qui đònh, các tờ séc không chuyển
thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp khác được bỏ qua thì tiền “ bút tệ” do các
Ngân hàng thương mại tạo ra bằng cách biến mức tiền gửi ban đầu tại một Ngân
hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực
hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua nhiều Ngân hàng. Một Ngân hàng cho
vay xong thì số vốn đó lại chuyển sang Ngân hàng khác và sẽ trở thành vốn tiền gửi
của các Ngân hàng khác.
Ngày nay, tiền của hệ thống NHTM chiếm bộ phận lớn trong tổng khối tiền tệ
ở các nước có nền kinh tế phát triển. Một nền kinh tế càng đi dần vào hiện đại,
càng phát triển bao nhiêu, nền kinh tế ấy càng sử dụng nhiều hơn tiền do các Ngân
hàng thương mại tạo ra. Các công cụ tạo ra tiền của Ngân hàng thương mại thật sự
thúc đẩy việc tăng trưởng nền kinh tế. Vì vậy, sự tạo tiền của các Ngân hàng thương
mại có ý nghóa to lớn và toàn diện: một hệ thống tín dụng năng động có vai trò cực
kỳ quan trọng như là người mở đầu, người tham gia và là người quyết đònh đối với
mọi quá trình sản xuất. Nhờ tín dụng tạo tiền mà quá trình sản xuất trôi chảy, trên cơ
sở đó tạo nguồn tích luỹ cho bản thân Ngân hàng thương mại và nền kinh tế. Đồng
thời có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, vì tín
việc phát hành thêm tiền của Ngân hàng Nhà nước, bởi vì việc tạo tiền có khả năng
là cho các Ngân hàng thương mại mất khả năng chi trả tiền mặt và lúc đó Ngân
hàng Nhà nước phải cho các Ngân hàng thương mại vay để bù đắp thiếu hụt thanh
khoản; trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước không cho vay các tổ chức tài chính phi
ngân hàng vì chúng không tạo ra tiền.
15
1.3. Hoạt động kinh doanh Ngân hàng thương mại:
1.3.1. Huy động vốn
.
Huy động vốn là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của Ngân hàng thương
mại, là mối quan tâm hàng đầu của các Ngân hàng. Nguồn vốn huy động chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng.
Về phương diện pháp lý, người gửi tiền có quyền lựa chọn các loại tiền gửi
theo yêu cầu và được hưởng các dòch vụ ngân quỹ do Ngân hàng Nhà nước cung ứng
hoặc được hưởng lãi suất, đồng thời Ngân hàng tùy nghi sử dụng tiền gửi đó vào
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng với cam kết thực hiện việc hoàn trả vào thời
điểm mà người gửi yêu cầu đối với từng loại tiền gửi. Luật pháp cũng qui đònh rỏ
trách nhiệm và quyền lợi của Ngân hàng khi nhận tiền gửi của khách hàng, và
chính nghiệp vụ gửi tiền là một tiêu chuẩn để phân biệt giữa Ngân hàng thương
mại và các tổ chức tài chính trung gian khác. Ngân hàng thương mại trở thành người
bảo quản các số tiền đó, được phép sử dụng vào hoạt động chuyên môn của mình,
nhưng đồng thời cũng có trách nhiệm hoàn lại vốn trong các điều kiện đã được qui
đònh.
Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức sau:
-Tiền gửi thanh toán
: Là loại tiền gửi được các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi
-Tiền gửi tiết kiệm
: chủ yếu là tiết kiệm của dân cư, gồm các loại sau:
+Tiết kiệm không kỳ hạn:
Là khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà
không phải báo trước. Số dư tài khoản này thường không lớn , nhưng có ưu điểm
hơn so với tiền gửi thanh toán vì số dư của loại tiền gửi này ít biến động.
+ Tiết kiệm có kỳ hạn:
17
Ngân hàng thương mại thường huy động tiết kiệm với kỳ hạn từ ba tháng
đến một năm. Về nguyên tắc, một khi khách hàng đã gửi tiền vào tài khoản này, sẽ
không được rút ra trước hạn. Để tăng sức cạnh tranh trong thu hút tiền gửi , một số
Ngân hàng thương mại vẫn cho khách hàng rút tiền trước hạn, nhưng trong trường
hợp này tiền gửi của khách hàng chỉ được tính theo lãi suất không kỳ hạn.
+Tiết kiệm dài hạn: đối với tài khoản này, bất kỳ lúc nào chủ tài khoản cũng
có thể gửi tiền vào tài khoản với số lượng không hạn chế, nhưng chỉ được rút ra khi
đến hạn. Đây là loại hình tiết kiệm mà Ngân hàng cần tận dụng nhằm tạo các
nguồn vốn có tính ổn đònh cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn .
Ngoài các hình thức tiền gửi, các Ngân hàng thương mại còn huy động vốn
dưới các hình thức khác để thu hút các khoản tiền nhàn rổi của các chủ thể trong
nền kinh tế bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu. Cả hai hình thức
huy động này đều phát hành từng đợt và mổi lần phát hành phải được phép của
Ngân hàng Nhà nước hoặc của y ban chứng khoán quốc gia.
-Phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn
: Việc huy động các chứng chỉ
tiền gửi thuộc loại này có ý nghóa quan trọng trong việc quản lý tài sản nợ hơn là
biện pháp để các Ngân hàng thương mại huy động vốn vì nó chỉ được sử dụng khi
phát từ gốc Latin Creditum là lòng tin và sự tín nhiệm. Ở đây muốn nói về niềm tin
mà người cho vay hướng về người đi vay khi đem tiền bạc, tài sản ra cho vay, họ
phải có cơ sở tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả nợ đúng hạn và ngược lại người đi
vay cũng tin tưởng vào Ngân hàng khi đem tài sản của mình thế chấp, cầm cố vào
Ngân hàng. Nói cách khác để quan hệ tín dụng tồn tại đòi hỏi phải tạo lập được
niềm tin và đây là cơ sở quan trọng cho quan hệ tín dụng hình thành. Như vậy khái
niệm tổng quát về tín dụng có thể đưa ra là: tín dụng là một quan hệ vay mượn dựa
trên nguyên tắc có hoàn trả (cảø vốn và lãi) sau một thời gian nhất đònh.
Từ khái niệm trên cho thấy trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ nhượng
lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất đònh. Tuy nhiên,
người đi vay không có quyền sở hữu trên số vốn ấy nên phải hoàn trả lại cho người
đi vay khi đến thời hạn đã thoả thuận. Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về
19
mặt giá trò mà vốn tín dụng còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức. Ở đây, quá
trình vận động mang tính chất hoàn trả của tín dụng là biểu hiện đặc trưng nhất về
sự khác biệt giữa quan hệ tín dụng và các mối quan hệ khác.
Quan hệ tín dụng dù vận động ở phương thức sản xuất nào, đối tượng vay
mượn là hàng hoá hay tiền tệ thì tín dụng cũng mang ba đặc điểm cơ bản:
- Người cho vay chuyển giao một lượng tài sản do mình sở hữu cho người đi
vay được quyền sử dụng trong một thời gian nhất đònh.
- Thời hạn tín dụng được xác đònh do thoả thuận giữa người cho vay và người
đi vay.
- Người sở hữu tín dụng được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức.
1.3.2.1- Chức năng của tín dụng
: trong nền kinh tế hàng hoá, tín dụng thể hiện
2 chức năng cơ bản sau:
thức tín dụng, việc tổ chức phân phối vốn tín dụng cũng được phong phú hơn, tạo
điều kiện điều phối vốn linh hoạt và hiệu quả hơn.
Thực hiện chức năng này, tín dụng còn góp phần tiết kiệm tiền mặt và các chi
phí lưu thông cho xã hội, biểu hiện cụ thể qua những điểm sau:
Qua quá trình huy động kòp thời những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội,
những khoản vốn này đang tạm thời đứng yên sẽ được đưa vào chu chuyển, nghóa là
tín dụng đã tăng nhòp độ vòng quay của đồng tiền, giảm đồng tiền dư thừa nhằm ổn
đònh lưu thông tiền tệ. Hơn nữa, trong điều kiện hệ thống Ngân hàng phát triển thì
song song với quá trình tổ chức nghiệp vụ tín dụng sẽ là việc mở rộng nghiệp vụ
thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện cho sự ra đời của bút tệ, điều này làm
giảm nhu cầu tiền mặt trong lưu thông, đồng thời giảm những chi phí in ấn giấy bạc,
chi phí bảo quản tiền, vận chuyển tiền,….
Tóm lại, chức năng tập trung và phân phối lại vốn là chức năng cơ bản và
quan trọng nhất của tín dụng: ngoài tác dụng chủ yếu là thúc đẩy nền kinh tế tăng
21
trưởng, sự vận dụng chức năng trên thực tế còn góp phần tiết kiệm tiền mặt và chi
phí lưu thông cho xã hội.
b/ Phản ánh các hoạt động kinh tế:
Chức năng này được phát huy tác dụng phụ thuộc vào sự phát triển của chức
năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả nêu trên, cụ thể là:
Thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng góp phần phản
ánh được mức độ phát triển của nền kinh tế về các mặt như: khối lượng tiền nhàn
rỗi trong xã hội, nhu cầu vốn trong từng thời kỳ…. từ đó giúp chúng ta có cái nhìn
tổng quát về những quan hệ cân đối lớn trong nền kinh tế đặc biệt là quan hệ giữa
tích luỹ và tiêu dùng như: trong tổng nguồn vốn tích luỹ thì kết cấu gồm những
khoản nào, được huy động từ những thành phần và đối tượng nào, với khối lượng và
tăng, gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế – xã hội. Mặt tích cực, tín dụng có vai trò
to lớn sau đây:
. Thứ nhất
: Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá.
- Tín dụng, trước hết là nguồn cung ứng vốn cho các doanh ngiệp, các tổ chức
kinh tế .
- Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu
trong nền kinh tế.
- Tín dụng không những là công cụ tập trung vốn mà còn là công cụ thúc đẩy
tích tụ vốn cho xí nghiệp, tổ chức kinh têá.
Có thể nói, trong nền kinh tế –xã hội, tín dụng đều phát huy vai trò to lớn nói
trên của nó.
+ Đối với doanh nghiệp: Tín dụng góp phần cung ứng vốn bao gồm vốn cố
đònh và vốn lưu động.
+ Đối với dân chúng: Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
+ Đối với toàn xã hội: Tín dụng làm tăng hiệu suất sử dụng đồng vốn.
Tất cả đều hợp lực tác động lên đời sống kinh tế – xã hội kiến tạo ra động
lực phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được.
23
Thực hiện vai trò này, tín dụng luôn là người trợ thủ đắc lực cho các doanh
nghiệp và là người bạn đồng hành trong quá trình phát triển kinh tế.
. Thứ hai
: Tín dụng góp phần ổn đònh tiền tệ, ổn đònh giá cả:
Với chức năng tập trung và tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín
dụng đã trực tiếp giãm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông. Lượng tiền dôi
thừa nầøy nếu không được huy động và sử dụng kòp thời có thể gây ảnh hưởng xấu
hoạt…. Nắm bắt tình hình đó, ngoài việc phát triển các loại hình như : Ngân hàng
phục vụ người nghèo ( nay là Ngân hàng Chính sách xã hội), Quỹ xóa đói giảm
nghèo…. … nhằm mục đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân tạo công ăn
việc làm, giãm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó, góp phần ổn đònh trật tự xã hội.
Ngoài ra, tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng, phát triển các mối
quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế . Sự phát triển của tín dụng
không những ở phạm vi quốc nội mà còn mở rộng ra cả phạm vi quốc tế, nhờ đó nó
thúc đẩy mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại; nhằm giúp đỡ và giải
quyết các nhu cầu lẫn nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho
các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển.
1.3.2.3. Các hình thức của tín dụng trong nền kinh tế thò trường:
Trong nền kinh tế thò trường, tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú.
Trong quản lý tín dụng tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà có cách phân loại khác
nhau.
1.3.2.3.1. Căn cứ theo thời hạn :
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân .
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm,
được sử dụng để mua sắm tài sản cố đònh, cải tiến hoặc đổi mới thiết bò công nghệ,
mở rộng sản xuất kinh doanh …
25
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên. Đây là loại
hình tín dụng được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn: xây dựng nhà ở, các thiết
bò, phương tiện vận tải có qui mô, xây dựng các xí nghiệp mới…