52
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH LONG AN TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của các NHTM trên đòa
bàn tỉnh Long An.
Ra đời sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đến nay Ngân hàng Long
An gần tròn 30 năm. Với khoảng thời gian chưa dài so với lòch sử hình thành và phát
triển ngành Ngân hàng trong cả nước. Nhưng Ngân hàng Long An đã có những đóng
góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
2.1.1. Giai đoạn trước khi có 2 pháp lệnh Ngân hàng
Những ngày đầu mới giải phóng 30-04-1975, chỉ vài chục cán bộ ở Ban kinh
tài của 2 tỉnh Long An và Kiến tường, vào tiếp quản các ngân hàng thuộc chính
quyền Sài Gòn cũ quản lý như: Ngân hàng Nông thôn Long An (nay là trụ sở Ngân
hàng Nhà nước), Ngân hàng Nông nghiệp Kiến tường (nay là trụ sở Ngân hàng
Nông nghiệp huyện Mộc Hóa), Việt Nam Thương tín (nay là trụ sở Ngân hàng Nông
nghiệp tỉnh), Đại Á Ngân hàng (nay là trụ sở phòng giao dòch Ngân hàng Công
thương), Tín nghóa Ngân hàng (nay là trụ sở Công ty kinh doanh vàng bạc đá quý
tỉnh)...Tiếp theo Ban kinh tài hai tỉnh đã thu nhận một số anh chò em có nhiệt tình
tham gia cách mạng từ những ngày đầu giải phóng và bộ đội chuyển ngành vào làm
việc. Ngân hàng Long An và Kiến Tường thuộc chính quyền cách mạng lâm thời
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam.
Đến năm 1976, Ngân hàng hai tỉnh Long An và Kiến Tường sáp nhập thành Ngân
hàng nhà nước tỉnh Long An. Lúc bấy giờ chỉ vỏn vẹn vài trăm cán bộ nhân viên.
Trình độ nghiệp vụ còn thấp, phần lớn chưa qua đào tạo. Nhưng với tinh thần cách
mạng, cán bộ nhân viên ngân hàng đã từng bước trưởng thành và phát triển, làm
54
Từ tháng 7/1988 hệ thống Ngân hàng 2 cấp được hình thành theo Nghò đònh
53 của Hội Đồng Bộ Trưởng đã thể hiện một tư duy kinh tế mới mở ra hướng đi cho
việc cải tổ hệ thống Ngân hàng , từ Ngân hàng duy nhất trong nền kinh tế tập trung
bao cấp sang thành đònh chế Ngân hàng 02 cấp tạo ra bước ngoặc quan trọng trong
lòch sử ngành Ngân hàng mà nội dung đổi mới cơ chế hoạt động Ngân hàng như sau:
a/ Kiện toàn Ngân hàng Nhà nước; Ngân hàng Nhà nước là cơ quan cuả
Chính Phủ để thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lónh vực: tiền tệ , tín dụng
(quản lý hành chánh kinh tế) đồng thời làm chức năng Ngân hàng của các Ngân
hàng. Có trách nhiệm quản lý, giám sát mọi hoạt động kinh doanh của hệ thống
Ngân hàng trong cả nước .
b/ Thành lập các Ngân hàng chuyên doanh, hạch toán kinh tế độc lập gồm:
- Ngân hàng Nông nghiệp và Ngân hàng Công thương, kinh doanh trên các
lónh vực tiền tệ, tín dụng và các dòch vụ Ngân hàng.
- Công ty kinh doanh vàng bạc kinh doanh vàng bạc, đá quý.
Thực hiện QĐ21/NH-TCCB –ĐT ngày 20/6/1988 cuả Tổng Giám Đốc Ngân
hàng Nhà Nước Việt Nam ( nay là Thống Đốc ) tỉnh Long An đã tách Ngân hàng
Nông - Công - Thương Tỉnh Long An thành 03 Ngân hàng : Ngân hàng Nhà Nước,
Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Nông Nghiệp. Sau đó tháng 3/1990 tách bộ
phận tín dụng đầu tư xây dựng cơ bản cuả Ngân hàng Nông Nghiệp thành lập Ngân
hàng Đầu tư và phát triển. Đến 01/1996 thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo.
2.1.3. Giai đoạn từ sau Luật NHNN và Luật các TCTD
Phát triển 2 Pháp lệnh Ngân hàng phù hợp với sự đòi hỏi của thời kỳ mới,
ngày 26-12-1997 Luật ngân hàng nhà nước và Luật các TCTD ra đời và có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 01-10-1998. Cũng với hệ thống ngân hàng hai cấp đó là Ngân
hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý về hoạt động tiền tệ ngân hàng tại đòa
Trong những năm qua, các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn Tỉnh Long An
đã từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động; mở rộng mạng lưới, nâng cao trình độ
56
nghiệp vu, đổi mới tác phong giao dòch của cán bộ; áp dụng lãi suất huy động linh
hoạt, đưa ra các dòch vụ ngân hàng mới. Nhằm thu hút tối đa mọi nguồn vốn nhàn
rổi trong xã hội vào Ngân hàng để đầu tư cho các dự án phát triển sản xuất kinh
doanh.
Trên đòa bàn Tỉnh có 04 chi nhánh NHTM quốc doanh, 1 NHTM cổ phần
nông thôn (và 2 Chi nhánh NHTM cổ phần mới thành lập năm 2004). Mạng lưới của
các NHTM đã rộng khắp đến tận vùng sâu, vùng xa, thò phần của các NHTM cũng
đã dựa theo từng thế mạnh của mình, tạo nên môi trường cạnh tranh khá sôi nổi,
đặc biệt là về mặt lãi suất và các chính sách thu hút khách hàng.
Hoạt động nổi bật nhất của các NHTM trên đòa bàn Tỉnh Long An trong giai
đoạn năm 2000-2005 là đã tạo lập được nguồn vốn ổn đònh và ngày càng tăng
trưởng vững chắc , phục vụ kòp thời và có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên, khi nền kinh tế của Tỉnh có bước tăng trưởng kháthì tốc độ tăng
trưởng dư nợ của các Ngân hàng luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn.
Các hình thức huy động vốn truyền thống như: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ
chức kinh tế, kỳ phiếu, trái phiếu, với nhiều kỳ hạn khác nhau ( 1 tháng, 3 tháng, 6
tháng, 12 tháng ) khó có thể thu hút thêm vốn tạm thời nhàn rổi trong xã hội, mà
đòi hỏi phải có nhiều biện pháp, nhiều hình thức huy động tiền gửi mới linh hoạt hơn
đáp ứng được nhu cầu gửi tiền và rút tiền ngày càng thuận lợi và hiệu quả hơn.
Chúng ta cùng tham khảo số liệu hoạt động của các NHTM Long An qua các
biểu sau:
Bảng 2.1. CƠ CẤU NGUỒN VỐN (1998-2003)
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
1998 1999 2000 2001 2002 2003
Năm
Tỉ lệ
Nguồn vốn huy động Nguồn vốn điều hòa
*Ghi chú
: Tỷ trọngvốn tính % trên tổng nguồn vốn .
Bảng 2.2. NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG (1998-2003)
Đ/v: tỷđồng
NĂM
CHỈ TIÊU
1998 1999 2000 2001 2002 2003
Tổng nguồn vốn huy động 647 569 861 1.184 1.547 2.158
1.NHTM quốc doanh 626 546 934 1.151 1.510 2.089
2.NHTM cổ phần 21 23 27 33 37 69
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Long An 1998-2003) [27] 58
Qua 2 biểu số liệu (2.1 và 2.2) có thể nhận xét chung về tình hình huy động
vốn của các NHTM Long An qua sáu năm 1998-2003 đã cho thấy tốc độ tăng
- Vốn huy động - 12% + 51,3% + 37,5% + 30,6% + 39,4%
(Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Long An 1998-2003) [27]
Qua bảng 2.3 cho ta thấy, tổng nguồn vốn hoạt động của hệ thống NHTM
Long An tăng mạnh hàng năm. Năm 2002 tăng 50% so với năm 2001. Năm 2003
tăng 40% so với năm 2002. Trong đó, vốn huy động của các NHTM Tỉnh Long An
hàng năm đều tăng một cách vững chắc, bình quân tăng trên 35%/năm góp phần đẩy
59
mạnh nguồn vốn đầu tư phát triển đòa phương. Trong vốn huy động, chủ yếu là vốn
tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tiết kiệm của dân cư. Với cơ cấu vốn tiền gửi
của các tổ chức kinh tế ngày càng tăng (năm 1998: 19,4% ; năm 2003: 43,2%). Cụ
thể qua bảng số liệu 2.4 như sau:
Bảng 2.4
: CƠ CẤU NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG (1998-2003)
Năm Nguồn vốn huy động
Cơ cấu
( 100% )
( tỷ đồng ) Tiền gửi các
TCKT(%)
Tiền gửi tiết kiệm
dân cư (%)
1998 647 19,4 80,6
1999 569 28,6 71,4
2000 861 30,5 69,5
2001 1.184 40,3 59,7
2002 1.547 41,0 59,0
2003 2.158 43,2 56,8
1226
0%
20%
40%
60%
80%
100%
1998 1999 2000 2001 2002 2003
Năm
Tỉ lệ
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Long An 1998-2003) [23]
Tiền gửi tổ chức kinh tế Tiền gửi tiết kiệm dân cư
Bảng 2.5: TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG NGUỒN VỐN VÀ VỐN HUY ĐỘNG
So với năm 1998
Đơn vò tính: %
Năm 1999 so
1998
2000 so
1998
2001 so
1998
2002 so
1998
2003 so
1998
Chỉ tiêu
Tăng(+)
giảm (-)
so với năm 1998 rất cao. Cụ thể: Năm 2002, tổng nguồn vốn tăng 137% so với năm
1998; Năm 2003, tổng nguồn tăng 231% so với năm 1998 . Như vậy, tổng nguồn vốn
của các NHTM Long An tăng liên tục qua các năm.
Cùng với việc tăng tổng nguồn, vốn huy động của các NHTM Long An cũng
tăng. Cụ thể, năm 2003 vốn huy động tăng 232% so với năm 1998. Đây là một tín
hiệu khả quan cho hệ thống NHTM Long An trong việc khai thác và huy động mọi
nguồn vốn nhàn rổi để đầu tư tín dụng ở đòa phương.
Nhìn chung, Các NHTM trên đòa bàn đã chủ động triển khai nhiều biện pháp
tích cực, linh hoạt để huy động nguồn vốn tại chổ theo hướng phát huy nội lực, đặc
biệt chú trọng công tác tuyên truyền quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại
chúng, mở rộng mạng lưới huy động, đa dạng hóa các hình thức gửi tiền; phát hành
kỳ phiếu với mức lãi suất kỳ hạn hợp lý, trả lãi thích hợp cho các khoản tiền gửi rút
trước hạn, thực hiện tốt công tác khách hàng, các dòch vụ về thanh toán chuyển tiền,
chi trả kiều hối, tạo ra nhiều sản phẩm mới tiện ích đảm bảo uy tín trong giao dòch
với khách hàng.
Nguồn vốn huy động tại chổ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn có
vai trò rất quan trọng trong việc duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
của các NHTM, giúp các NHTM chủ động trong hoạt động, góp phần nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn toàn xã hội để đầu tư phát triển kinh tế đòa phương, đáp ứng
nhu cầu cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân . Muốn
thế, NHTM cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ trong huy động vốn, nhất là hình
thức huy động vốn trung, dài hạn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mua sắm thiết bò hiện
đại, đổi mới công nghệ…. góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa-hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn theo Nghò quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và
Nghò quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Long An lần thứ VII.
62
Dư nợ tín dụng (chủ yếu là hoạt động cho vay) tăng trưởng liên tục qua từng
năm, nhất là trong những năm (2000 – 2003) tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bình
quân tương đương 35%/năm. Trong đó, năm 2001 tăng 30,5% so với năm 2000; năm
2002 tăng 54,3% so với năm 2001 và năm 2003 tăng 34,7% so với năm 2002. Khi so
sánh thời điểm 31/12/2003 với 06 năm trước (31/12/1998) thì sự tăng trưởng của dư
nợ cho vay qua 06 năm là 3,4 lần. Điều này cho thấy hoạt động tín dụng của các
NHTM đã đạt được những kết quả rất khả quan .
63
* Doanh số cho vay và thu nợ qua bảng số liệu 2.7 sau:
Bảng 2.7. DOANH SỐ CHO VAY, DOANH SỐ THU N VÀ
DƯ N CỦA CÁC NHTM (1998-2003).
Đơn vò: tỷ đồng
NĂM
CHỈ TIÊU
1998 1999 2000
2001 2002 2003
1/DS cho vay 2.107 2.554 2.363 2.956 4.075 5.525
NHTMQD
2.010 2.452 2.245 2.818 3.933 5.353
NHTMCPNT
97 102 118 138 142 172
2/DS thu nợ 1.933 2.633 1.989 2.507 3.033 4.497
NHTMQD
1.903 2.540 1.882 2.375 2.914 4.359
2959
5525
4497
3987
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
T y û đ o àn g
Biểu đồ 2.3. Doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ của
1998 1999 2000 2001 2002 2003
Năm
DS Cho vay DS Thu nợ Dư nợ
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Long An 1998-2003) [27]
Biểu đồ 2.4.
Tốc độ đầu tư về doanh số của các NHTM
2010
2452
khẳng đònh các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn, đã có nổ lực vượt bậc trong huy
động mọi nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của các chủ thể sản
xuất kinh doanh trong Tỉnh đặc biệt là trong những năm (1998 – 2003).
Như vậy, các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn đã bám sát mục tiêu, yêu
cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh qua từng năm, tập trung mọi
nguồn vốn đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, các dự án chương trình
kinh tế trọng điểm, xây dựng kết cấu hạ tầng, thực hiện công nghiệp hóa nông
nghiệp- nông thôn … từ đó doanh số cho vay của các Ngân hàng tăng lên hàng năm
một cách ổn đònh.
Trong đầu tư tín dụng tại đòa phương, các NHTM quốc doanh luôn chiếm
doanh số 96% trong tổng doanh số, còn lại NHTM cổ phần Rạch Kiến chỉ chiếm
khoảng 4% doanh số cho vay toàn đòa bàn.
* Doanh số cho vay , thu nợ, dư nợ theo thành phần kinh tế
, xem xét bảng
số liệu 2.8 sau:
66
Bảng 2.8. DOANH SỐ CHO VAY, DOANH SỐ THU N, DƯ N
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Long An 1998-2003) [27]
Qua bảng 2.8 cho ta thấy doanh số cho vay và doanh số thu nợ của các NHTM
đều tăng qua các năm. Riêng năm 2000, doanh số cho vay và thu nợ tại các NHTM
quốc doanh giãm so với năm 1999 chủ yếu là do năm 2000 lũ lụt xảy ra gây thiệt hại
cho sản xuất nông nghiệp làm ảnh hưởng đến công tác thu hồi nợ, mặt khác cũng
67
làm ảnh hưởng việc đầu tư mới. Trong tổng doanh số cho vay thì cho vay doanh
nghiệp nhà nước và hộ nông dân-sản xuất là chủ yếu, các thành phần kinh tế khác
chiếm tỷ trọng không đáng kể. Cụ thể, trong doanh số cho vay năm 2003:
+ Doanh số cho vay hộ nông dân-sản xuất là 3.514tỷ, chiếm 63% trong tổng
doanh số cho vay.
+ Doanh số cho vay doanh nghiệp nhà nước là 1.014tỷ, chiếm 18% trong tổng
doanh số cho vay.
Thực hiện phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghóa xã hội, tín dụng Ngân hàng cũng đã có những chuyển biến tích cực
trong việc cho vay đối với các thành phần kinh tế, Doanh số cho vay không ngừng
tăng lên. Mặc dù tỷ trọng vốn đầu tư các thành phần kinh tế không đồng đều, nhưng
qua bảng 2.8 đã cho thấy tín dụng Ngân hàng đã xâm nhập khá toàn diện trong cho
vay đối với các thành phần kinh tế.
Từ bảng 2.8 cho ta thấy: Dư nợ theo thành phần kinh tế từ năm 1998 đến năm
2003 ( không kể kinh tế HTX ) đều tăng. Trong đó: Dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc
doanh và hộ nông dân-sản xuất tư nhân cá thể tăng ổn đònh. Các Ngân hàng thương
mại trên đòa bàn đã có sự nổ lực rất lớn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, mở
rộng đối tượng đầu tư đến tất cả các thành phần kinh tế trên đòa bàn. Tuy nhiên, năm
2003 trên đòa bàn tỉnh Long An có một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, giải thể làm
1.094 1.468 1.917 2.959 3.987
+ Ngắn hạn 930 843 1.143 1.416 1.948 2.471
+Trung,dài hạn 243 251 325 501 1.011 1.516
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Long An 1998-2003) [27] 69
Biểu đồ 2.5: Dư nợ phân theo ngắn, trung dài hạn
930
843
1143
1416
1948
2471
243
251
325
501
1011
1516
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
Đơn vò : tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
1998 1999 2000 2001 2002 2003
1-Nông lâm, thủy sản 532 602 999 1.076 1.332 2.037
2-Công nghiệp 136 141 119 132 225 279
3-Xây dựng 76 81 57 99 198 282
4-Thương mại dòch vụ 60 80 162 456 611 707
5-Khác 369 190 131 154 593 682
TỔNG DƯ N
1.173
1.094 1.468 1.917 2.959 3.987
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Long An 1998-2003) [27]
Biểu đồ 2.6: Dư nợ phân theo ngành kinh tế
2037
1332
1076
999
602
532
561
423
231
176
222
212
1389
1020
471
175
chỉ chiếm 18% thò phần. Tuy nhiên, hiện nay Chi nhánh Ngân hàng Công thương
Tỉnh và Chi nhánh Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long đang tiếp
tục mở rộng đầu tư tín dụng. Mặt khác, một số Ngân hàng thương mại tại Thành phố
Hồ Chí Minh đang mở rộng thò phần ra các Tỉnh trong đó có Long An cho nên trong
thời gian tới, các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn Tỉnh Long An sẽ phải đối mặt
với mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên thò phần tín dụng. Đây cũng là điều
kiện thuận lợi cho việc tăng cường số lượng và chất lượng tín dụng của các NHTM
trong thời gian tới
. 72
Biểu đồ 2.7: Thò phần đầu tư tín dụng của các NHTM
bình quân qua các năm
55%
17%
10%
10%
8%
NHNo&PTNT NHCT NHĐT&PT
NHNh NHTMCP
( Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động Ngân hàng Long An 1998-2003) [27]
Điều cần quan tâm ở đây là sự cạnh tranh giữa các NHTM trên đòa bàn nhằm
đem lại những tiện ích từ các dòch vụ tài chính của Ngân hàng cho khách hàng. Tuy
nhiên, cũng cần phải kiểm soát được sự cạnh tranh để hạn chế và loại bỏ sự cạnh
tranh không lành mạnh, bất chấp các qui đònh chung dẫn đến sự bất ổn trong hoạt
* Về nguyên nhân khách quan
:
- Do tỉnh Long An là tỉnh nhỏ phát triển nông nghiệp là chủ yếu, xuất khẩu
chậm phát triển do đó lượng ngoại tệ ra vào đòa phương ít.
- Ranh giới hành chính tỉnh giáp với TP Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của
cả nước nên đã chiếm lónh thò phần về kinh doanh ngoại tệ; vì Thành phố Hồ Chí
Minh có nhiều tổ chức được phép kinh doanh ngoại tệ dày dặn kinh nghiệm trên
thương trường trong nước cũng như quốc tế. Do đó làm mất đi khả năng cạnh tranh
của một tỉnh nhỏ như Long An.
- Sự đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào đòa phương còn ít, mặt khác
các doanh nghiệp này chỉ giao dòch thông qua các Ngân hàng ở TP Hồ Chí Minh.
* Về nguyên nhân chủ quan
:
- Do trình độ quản lý kinh doanh về ngoại hối của các NHTM trên đòa bàn
còn nhiều hạn chế, cho nên không dám mạnh dạn đầu tư lónh vực này.
74
- Hệ thống trang thiết bò phục vụ công tác thanh toán quốc tế của các NHTM
Long An còn lạc hậu.
- Các NHTM còn cơ chế hành chánh rườm rà, không thu hút được vốn đầu tư
từ nước ngoài.
- Một số chính sách nhà nước ban hành còn chồng chéo làm cho việc quản lý
kinh doanh ngoại hối tại đòa phương còn gặp trở ngại.
- Long An chưa phát huy được thế mạnh là tỉnh có cửa khẩu biên giới giáp với
Campuchia để thu hút nguồn ngoại tệ vào ngân hàng.
- Long An chưa có NHTM chuyên kinh doanh và làm dòch vụ về ngoại tệ như
Ngân hàng ngoại thương.
* Vốn điạ phương
:
Để cân đối nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế, ngoài việc nhận vốn điều
hoà từ Trung Ương. Hệ thống NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần Rạch Kiến tích
cực huy động vốn tại chổ để đầu tư cho vay với những giải pháp tích cực như:
- Nhanh chóng mở rộng điạ bàn hoạt động, trang bò cơ sở vật chất phục vụ, vi
tính hoá các khâu giao dòch thanh toán, mở thêm nhiều chi nhánh. Cụ thể:
+ Ngân hàng Nông Nghiệp & phát triển nông thôn mở thêm Ngân hàng
Huyện Châu Thành, huyện Tân Hưng, các Ngân hàng khu vực: Gò Đen( Bến Lức ),
Cầu Voi (Thủ Thừa ), Đức Hoà, Tân Mỹ ( Đức Hoà ),số 2, số 3 ( Thò xã Tân An ),
Gò Mối (Đức Hoà).
+ Ngân hàng Công Thương mở thêm các phòng giao dòch ở huyện Bến Lức,
Đức Hoà, thò xã Tân An và chi nhánh Huyện Châu Thành.
+ Ngân hàng thương mại cổ phần Rạch Kiến mở thêm phòng giao dòch thò
trấn Cần Đước huyện Cần Đước .
+ Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long mở thêm chi nhánh
Đồng Tháp Mười, Tân An, Đức Hoà và phòng giao dòch Bến Lức.
- Mở ra nhiều hình thức huy động vốn: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán,
phát hành kỳ phiếu có mục đích, kỳ phiếu đảm bảo giá trò vàng, tiết kiệm ngoại tệ,
trái phiếu Ngân hàng thương mại ...v.v. với thời hạn đa dạng từ 3 tháng, 6 tháng, 9
tháng , 1 năm, 2 năm….
76
Trên cơ sở đó, nguồn vốn huy động của Ngân hàng được tăng trưởng khá lớn
qua các năm, nâng tỷ trọng vốn huy động ngày càng cao trong tổng nguồn. Trong
đó:
- Vốn huy động của NHTMQD là chủ yếu và chiếm tỷ trọng cao. Góp phần