SKKN đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh - Pdf 64

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dục Việt
Nam cũng đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện. Nếu như trước đây
giáo dục nước ta chú trọng mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh và giúp người
học hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ thì ngày nay, điều đó vẫn còn
đúng, còn cần nhưng chưa đủ.
Thật vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với
những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và
tiến bộ của thông tin, truyền thông, giáo dục cần phải giúp người học hình thành
một hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới. Hệ thống phẩm
chất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lý của
người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học. Theo đó, những
phát triển của phẩm chất, năng lực người học trong quá trình giáo dục cũng sẽ là
quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người.
Giáo dục học sinh nói chung và giáo dục đạo đức, hình thành và phát triển
năng lực, phẩm chất HS nói riêng là một quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch đến HS nhằm hình thành và bồi dưỡng những nét tính cách của con người
mới phù hợp mục đích giáo dục. Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học phải biết chú
trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc rất quan trọng”. Giáo
dục đạo đức học sinh là công việc vô cùng quan trọng, đặc biệt chú trọng phát triển
năng lực và phẩm chất học sinh (đức, tài) để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới
được quan tâm nhấn mạnh. Quá trình này cần có sự vào cuộc hành động của cả
một hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp, các ngành. Trong đó có vai trò to lớn của
đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp.
Nghị quyết 88 của Quốc hội về đổi mới chương trình, Sách giáo khoa Giáo
dục phổ thông xác định mục tiêu đổi mới là: “Đổi mới toàn diện mục tiêu, nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất
lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh”.
Là một giáo viên đang công tác tại trường THPT Anh Sơn 2 với hơn mười
năm làm chủ nhiệm lớp, tôi nhận thấy công tác chủ nhiệm có vai trò rất lớn đến

Sử dụng linh hoạt các phương pháp sau: Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu,
thông tin; phương pháp khảo sát thực tế trước và sau khi tác động; phương pháp so
sánh trước và sau khi tác động; phương pháp thống kê, xử lí số liệu, tranh ảnh,…
4. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung đề tài gồm:
- Cơ sở lí luận
- Thực trạng về vấn đề hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của
“người học sinh mới” thông qua công tác chủ nhiệm tại trường THPT Anh Sơn 2,
Nghệ An
- Một vài giải pháp nhằm đổi mới công tác chủ nhiệm góp phần hình thành và
phát triển phẩm chất, năng lực của “người học sinh mới” tại trường THPT Anh
Sơn 2, Nghệ An
- Kết quả đạt được

5


B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
1.1. Giáo viên chủ nhiệm
GVCN là nhà quản lí, nhà sư phạm đại diện cho Hiệu trưởng truyền đạt
những chủ trương, yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường đến với HS và tập
thể học sinh. Bằng phương pháp thuyết phục, sự gương mẫu, kinh nghiệm sư phạm
và uy tín của mình, GVCN giúp cho mỗi học sinh và tập thể lớp có trách nhiệm
tuân thủ và tự giác thực hiện nghiêm túc những yêu cầu này.
GVCN là linh hồn của lớp học, là người góp phần không nhỏ hình thành và
nuôi dưỡng nhân cách học sinh - những chủ nhân tương lai của đất nước. Nói như
PGS.TS Đặng Quốc Bảo - Học viện quản lý giáo dục thì: GVCN lớp là nhà quản
lý không có dấu đỏ. Ngày nay, với sự nhận thức ngày càng đúng đắn và sâu sắc về
giáo dục, có thể coi GVCN như một nhà quản lý với các vai trò: Người lãnh đạo

nhiệm vụ của mình, việc học hỏi và không ngừng trau bản thân là yếu tố tiên quyết
của một GVCN.
1.2. Giới thuyết về Năng lực
Phạm trù năng lực thường được hiểu theo những cách khác nhau và mỗi cách
hiểu có những thuật ngữ tương ứng: (1) Năng lực (Capacity/Ability) hiểu theo
nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia
một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định; (2) Năng lực (Compentence)
thường gọi là năng lực hành động: là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/
một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu
biết, kỹ năng, kỹ xảo và sự sẵn sàng hành động.
Từ các cách hiểu trên, có nhiều định nghĩa khác nhau về Năng lực. Ví dụ:
Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành
công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002). Năng lực được xây
dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình
thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John
Erpenbeck 1998). Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân
hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực
cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã
hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong
những tình huống thay đổi (Weinert, 2001).
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1992), năng lực được giải
thích với hai nghĩa: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có
để thực hiện một loạt hành động nào đó; Năng lực là: Phẩm chất tâm lý và sinh lý
tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng
cao [7, tr.656].
Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố,
đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng,... mà cả niềm tin,
giá trị, trách nhiệm xã hội... thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong
môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.
Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái

Năng lực chuyên biệt: là những năng lực được hình thành và phát triển trên
cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại
hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho
những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như
toán học, âm nhạc, mĩ thuật, thể thao... Đó là những năng lực chuyên môn được
hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất
định, bao gồm: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên
và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể
chất,…
1.3. Giới thuyết về Phẩm chất
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: Phẩm chất là cái làm nên
giá trị của người hay vật [7, 760]. Hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành
vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người
được hình thành sau một quá trình giáo dục.
1.4. Học sinh THPT
Học sinh THPT ở lứa tuổi khoảng từ 15-18 tuổi, đây là lứa tuổi có nhiều biến
đổi về tâm sinh lí. Độ tuổi này tâm lí, tình cảm của các em đa dạng, phong phú và
cũng rất phức tạp. Điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, vui
buồn chuyển hoá dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột. Nhiều khi do hoạt
8


động hệ thần kinh không cân bằng, thường thì quá trình hưng phấn mạnh hơn quá
trình ức chế, đã khiến các em không tự kiềm chế được. Học sinh THPT bước vào
thời kỳ đầu của tuổi thanh niên về sinh học, cấu trúc não đã phát triển tương đối
hoàn thiện, các khả năng tư duy, phân tích, đánh giá, cảm giác, tri giác,... cũng dần
phát triển. Ở lứa tuổi này, các em thích khẳng định cái tôi bản ngã, muốn được đối
xử như người lớn, được thoát ra khỏi sự ràng buộc của cha mẹ, thích được độc lập
suy nghĩ và hành động. Bên cạnh đó, nhiều em cũng có biểu hiện lệch lạc về nhân
cách, sống ích kỉ, thiếu đạo đức, bắt chước, đua đòi, sống bất cần,...

- Năng lực tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; Biết
cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các
9


công cụ tính toán và dụng cụ đo,…; đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình
huống có ý nghĩa toán học.
- Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội: Hiểu biết kiến thức khoa học; Tìm
tòi và khám phá thế giới tự nhiên; Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự
nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Nắm được
những tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học xã hội; Hiểu và vận dụng
được những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội;
Nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loài người; Vận dụng được những tri
thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống.
- Năng lực ngôn ngữ: là khả năng làm một việc gì đó bằng cách sử dụng
ngôn ngữ (sử dụng ngôn ngữ nói và viết, cũng như đọc những gì những khác viết
ra hoặc nghe những gì người khác sẽ nói).
- Năng lực Công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá.
- Năng lực Tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệ
thống tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xử
phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền
kinh tế tri thức; Nhận biết và giải quyết vấn đề trong môi trường xã hội và nền
kinh tế tri thức; Học tập, tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông; Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác phù hợp với thời đại xã hội
thông tin và nền kinh tế tri thức.
- Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,
cái chân, cái thiện, cái cao cả); Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Tái hiện,
sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ.
- Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường; Nhận biết và
có các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và hình thành các tố

nhiệm lớp.
GVCN có trình đào tạo trên chuẩn, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình
với học sinh. Đội ngũ GVCN nhìn chung đã nhận thức được đúng đắn vai trò của
người thầy đối với quá trình giáo dục, hình thành nhân cách của HS. Họ có khả
năng nắm bắt được mục tiêu, kiến thức giáo dục, dạy tốt lớp phụ trách, lập được kế
hoạch chủ nhiệm lớp. Ban Giám hiệu các trường THPT đã quan tâm đến công tác
chủ nhiệm lớp thông qua các việc: Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch chủ nhiệm,
duyệt và góp ý cho giáo viên về kế hoạch chủ nhiệm đều đặn, giao chất lượng giáo
dục học sinh cho giáo viên, định ra các tiêu chí thi đua cho các lớp và cho giáo
viên, khen thưởng cho giáo viên đạt thành tích lao động tiên tiến, lao động xuất
sắc, lớp tiên tiến, lớp xuất sắc, học sinh đạt các thành tích trong năm học. Đồng
thời nhà trường đã luôn chú ý kết hợp với các tổ chức đoàn thể trong trường để tổ
chức cho các em tham gia các phong trào do các cấp, các ngành tổ chức cũng như
các hoạt động tập thể như quyên góp ủng hộ, làm kế hoạch nhỏ,... giúp HS dần
hình thành và phát triển nhiều phẩm chất, năng lực tích cực.
2.2.2. Hạn chế
Tuy nhiên, một số hiện tượng tiêu cực diễn ra trong ngành giáo dục nước
nhà khiến chúng ta phải trăn trở, quan tâm nhiều hơn đối với công việc “trồng
người” nhất là trong việc giáo dục đạo đức học sinh, bồi dưỡng cho các em lý
tưởng, quan điểm sống đúng đắn. Có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan
từ phía gia đình, nhà trường và xã hội khiến cho đôi lúc uy tín người thầy bị sa sút,
các giá trị truyền thống "Tôn sư trọng đạo" bị nhìn nhận một cách méo mó, bị vật
chất hóa, thực dụng; có trường hợp người thầy không giữ được tư cách đáng kính
trọng trong quan hệ thầy trò. Đâu đó, còn có những hiện tượng suy thoái về đạo
đức, mờ nhạt về lý tưởng, thích chạy theo lối sống thực dụng, vô cảm, thờ ơ trước
những biến động tâm lý của HS… Điều đó đã có tác động trực tiếp đến việc hình
thành và phát triển nhân cách học sinh, đến an ninh trật tự xã hội. Nhiều vụ việc về
bạo lực học đường (đâm bạn, lột đồ bạn để đánh đập hay bắt bạn quỳ để dằn mặt,
…), xâm hại tình dục, suy đồi đạo đức, lối sống của HS,… diễn ra trong thời gian
gần đây ngày càng trầm trọng đã làm cho xã hội nhức nhối, chúng ta đau lòng và


Câu trả lời

Tần số

Tỉ lệ %

Câu 1: Theo thầy (cô),
việc hình thành và phát
triển phẩm chất, năng lực
cho học sinh thông qua
công tác chủ nhiệm có
quan trọng không?

Không quan trọng

3

6

Bình thường

11

22

Quan trọng

36


Bảng 2. Câu hỏi dành cho học sinh
Theo em, công tác chủ nhiệm lớp có vai trò quan trọng trong việc góp phần
hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh không?
Câu trả lời

Tần số

Tỉ lệ %

Hoàn toàn không có ý nghĩa

3

2,7 %

Không quan trọng

7

6,4%

Bình thường

30

27,3%

Quan trọng

50

trong học tập và rèn luyện.
Trường có khuôn viên rộng với tổng diện tích trên 50.000 m 2, có hệ thống
tường rào được xây kiên cố, có khu hiệu bộ, các phòng học, phòng chức năng được
bố trí hợp lý, cảnh quan hài hòa, tạo môi trường xanh, sạch, đẹp và thân thiện. Hiện
tại trường có 27 lớp với gần 1000 học sinh và 31 phòng học đủ tiêu chuẩn, đảm
bảo cho học một ca. Ngoài các phòng học văn hoá, trường có đủ các phòng thực
hành thí nghiệm Vật lý, Hóa học, Sinh học – Công nghệ, sân bóng đá, bóng
chuyền, cầu lông,... Năm học 2015 - 2016, trường được công nhận là trường chuẩn
quốc gia.
1
3


* Khó khăn:
Chất lượng học sinh đầu cấp còn thấp, thái độ - ý thức - động cơ học tập và
rèn luyện của một bộ phận học sinh chưa cao. Gia đình HS cơ bản khó khăn, thiếu
thốn về điều kiện vật chất vì hoàn cảnh gia đình các em đều là con nhà nông, gia
đình hộ nghèo và cận nghèo. Một số giáo viên trẻ có nhiệt tình nhưng thiếu kinh
nghiệm trong giảng dạy và giáo dục, chủ nhiệm học sinh. Vẫn còn một số GV có
sức ỳ lớn, ít chịu khó học hỏi, đổi mới, chưa bắt nhịp được với yêu cầu của thời
đại. Cơ sở vật chất, thiết bị chưa đảm bảo cho việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy, giáo dục học sinh. Vẫn còn tình trạng học sinh học lực yếu, lưu
ban, bỏ học, nhiều HS chưa phát huy tốt khả năng tự học, tự rèn luyện phẩm chất
đạo đức, một số em còn bị bạn bè lôi kéo và sa vào những cám dỗ của mạng xã
hội, vấn đề hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực HS chưa thực sự được
quan tâm, chú ý nhiều.
2.2.2. Những ưu điểm, hạn chế trong việc góp phần hình thành và phát
triển năng lực, phẩm chất của học sinh thông qua công tác chủ nhiệm tại
trường THPT Anh Sơn 2
Bên cạnh những mặt ưu điểm và hạn chế chung về công tác chủ nhiệm trong

được phân công chủ nhiệm lớp thì công việc tìm hiểu nhân cách, tâm lý, hoàn cảnh
của học sinh ở một số GV còn xem nhẹ, qua loa chiếu lệ. Công tác phối hợp với
các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường thiếu đồng bộ, không chặt chẽ.
Giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục toàn diện học sinh. Hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp, các tiết chủ nhiệm lớp, sinh hoạt tập thể chưa được chú
trọng đúng mức. Một số em còn lười học, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao. Một số
phụ huynh học sinh còn mang tư tưởng "khoán trắng" cho nhà trường. Họ coi việc
giáo dục học sinh là trách nhiệm của nhà trường, của các thầy các cô. Đa số phụ
huynh học sinh không có thời gian quản lý, kiểm tra đôn đốc nhắc nhở việc học
hành cho con em. Hơn nữa, việc chú trọng để hình thành và phát triển phẩm chất,
năng lực học sinh thông qua công tác chủ nhiệm còn hết sức hạn chế hoặc nếu chú
ý thì GVCN còn đang thực hiện một cách cảm tính, mơ hồ, chưa có tính chiến
lược, hệ thống và bền vững.
Qua khảo sát 180 học sinh, trong đó 60 HS khối 10, 60 HS khối 11, 60 HS
khối 12 được lựa chọn ngẫu nhiên của trường THPT Anh Sơn 2 trong năm học
2016 - 2017:
Câu hỏi: Em có hứng thú với các hoạt động của lớp không?
Khối
Số câu trả lời
Chưa bao giờ

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Khối 10

13

38

Khối 10

16

6

Khối 11

12

42

6

Khối 12

15

35

10

1
5


Riêng ở lớp 10D trong năm học 2016- 2017 mà bản thân tôi chủ nhiệm, tôi
cũng tiến hành khảo sát, với số lượng 34 HS thì thu được kết quả như sau:
Câu hỏi
Số câu trả lời

hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh không?
Câu trả lời
Tần số
Tỉ lệ %
Hoàn toàn không có ý nghĩa

1

2.9 %

Không quan trọng

3

8,8%

Bình thường

22

64,7%

Quan trọng

6

17,7%

Rất quan trọng


Anh Sơn 2, Nghệ An
3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp
- Phải đáp ứng yêu cầu phát triển nhân cách của học sinh
Phẩm chất và năng lực là hai thành phần chủ yếu cấu thành nhân cách con
người. Do vậy có thể xem quá trình hình thành và phát triển nhân cách gắn liền với
quá trình tích tụ, phát triển các yếu tố của phẩm chất và năng lực. Mặt khác, nhân
cách được xem là một chỉnh thể thống nhất giữa hai mặt phẩm chất và năng lực
(đức và tài). Do vậy, quá trình phát triển phẩm chất và năng lực phải có sự cân đối
và tương thích theo xu hướng đức và tài hài hòa nhau “tài đức vẹn toàn”. Đức và
tài không cân xứng nhau sẽ cho ra một nhân cách chưa hoàn thiện.Trong quá trình
giáo dục, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học là một phương pháp
dạy học ưu thế hướng người học tiếp cận gần hơn tới sự phát triển nhân cách của
mình. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã nêu rõ: Con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là
thực thể xã hội, nhưng con người có cá tính riêng. Chính vì vậy, trong quá trình lựa
chọn các giải pháp GD, chúng tôi nhận thấy cần áp dụng các giải pháp phát huy
cao nhất các yếu tố hình thành, phát triển nhân cách của HS, đảm bảo tính tự nhiên
trong phát triển con người và nâng cao năng lực tự chủ của mỗi cá nhân.
- Đảm bảo quan điểm giáo dục theo phương pháp sư phạm tương tác
Trong quá trình học tập ở trường THPT, mỗi HS không chỉ phải tự mình
chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng mà còn cần hội tụ đủ khả năng vươn lên thích
ứng với những yêu cầu do thực tiễn xã hội và cách mạng khoa học, công nghệ đặt
ra. HS có khả năng tư duy độc lập, có óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định,
hoài nghi và tự xây dựng cho mình phương pháp phấn đấu, rèn luyện phù hợp để
hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực HS. Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT
ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học
phổ thông và trường trung học phổ thông có nhiều cấp học, đưa ra tiêu chuẩn về
hoạt động giáo dục HS cũng chỉ ra: Giáo dục kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận
thức, kỹ năng ra quyết định, suy xét và giải quyết vấn đề, kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ
năng ứng phó, kiềm chế, kỹ năng hợp tác và kỹ năng làm việc theo nhóm cho HS;
Giáo dục, rèn luyện kỹ năng sống cho HS thông qua giáo dục ý thức chấp hành

GVCN trở thành người trung gian trao đổi thông tin giữa Nhà trường và gia
đình, thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội và truyền đạt những chủ trương của Nhà trường
đến với gia đình đồng thời thu nhận ý kiến, nguyện vọng của gia đình để báo cáo
lại lãnh đạo Nhà trường. Qua đó gắn kết được trách nhiệm giữa Nhà trường và gia
đình trong việc giáo dục HS. Khi chủ nhiệm lớp, người GVCN cần phải nắm vững
quyền hạn và trách nhiệm của mình theo Luật giáo dục; Điều lệ trường THCS,
trường THPT và trường THPT có nhiều cấp học. Đồng thời người GVCN cần phải
xác định được vai trò, vị thế của mình trong nhiệm vụ giáo dục HS lớp mình được
phân công làm chủ nhiệm lớp. Thực tế, hoạt động của GVCN hết sức phong phú,
phức tạp và ôm chứa nhiều hoạt động nhỏ thuộc nhiều lĩnh vực trong đó.
Công tác chủ nhiệm là tổng thể hàng loạt những công việc liên quan đến
khâu quản lý, tổ chức, điều hành, giám sát, kiểm tra, đưa ra kế hoạch hoạt động
cho một tập thể học sinh trong một lớp học nhất định. Quy trình giáo dục học sinh
là một quy trình mang tính toàn vẹn và thống nhất từ: Lập kế hoạch đến tổ chức
thực hiện; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá kết quả; là sự kết hợp giữa các tổ chức, cá
nhân nhà trường – gia đình và xã hội. Tuy rằng mỗi tổ chức, cá nhân có vai trò,
chức năng khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen và bổ sung cho
nhau; thực hiện tốt chức năng này sẽ tạo cơ sở, điều kiện cho các chức năng tiếp
theo. Thông thường, hoạt động của một GVCN bao gồm:
Một là, tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh lớp mình chủ
nhiệm.
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lớp gương mẫu, nhiệt tình, có tinh thần trách
nhiệm cao.

1
8


Ba là, phân chia tổ và phân công nhiệm vụ cho các em một cách cụ thể, hợp
lý, rõ ràng.

Từ trước đến nay, tiết sinh hoạt lớp diễn ra hàng tuần ở mọi lớp học. Đây là
tiết học để GVCN điều hành sinh hoạt lớp. Trong tiết học này, lâu nay chủ yếu là
GVCN làm việc với HS từ đầu đến cuối tiết, HS chỉ ngồi nghe, lĩnh hội và tuân
thủ, chấp hành những việc GVCN giao. Vì thế, cả thầy cô giáo và trò đều cảm thấy
áp lực, nhàm chán, mệt mỏi. Ở nhiều đơn vị lớp, HS cảm thấy rất sợ tiết sinh hoạt
vì tuần nào nó cũng diễn ra hết sức căng thẳng với cùng một kịch bản. Thậm chí sợ
luôn, chán luôn cả GVCN. Đây là điều tôi luôn trăn trở và tìm cách thay đổi
1
9


* Mục đích: Tiết sinh hoạt lớp là thời gian để giáo viên hoặc cán sự lớp tổ
chức, điều hành lớp chủ nhiệm tổng kết, đánh giá, nhận xét về mọi hoạt động trong
tuần vừa qua và triển khai, phổ biến kế hoạch tuần tới, tuyên dương những học
sinh có nhiều điểm tốt hoặc hoạt động tích cực đồng thời phê bình, xử lí các học
sinh vi phạm nội quy trong tuần. Qua đó, tiết sinh hoạt lớp góp phần để hình thành
và phát triển nhiều phẩm chất, năng lực quan trọng cho HS.
* Thời gian thực hiện: Thông thường giờ sinh hoạt lớp diễn ra vào tiết 5
ngày thứ bảy cuối tuần. Trong 45 phút đó, tôi chỉ dành 10 phút đầu giờ để tổng kết,
đánh giá và triển khai kế hoạch tuần tới (do Ban cán sự lớp đã chủ động tổng kết,
nắm bắt tình hình của lớp vào chiều thứ 6 và do GVCN đã ứng dụng Công nghệ
thông tin vào quản lý, điều hành lớp học nên giảm thời gian cho những công việc
mang tính thủ tục, thông báo, điều này tôi sẽ chia sẻ cụ thể hơn ở mục 3.2.3), còn
35 phút tôi dành cho việc để HS điều hành, tổ chức các hoạt động tập thể nhằm
hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực quan trọng hoàn thiện nhân
cách “người học sinh mới”.
* Các bước thực hiện:
- Bước 1: Xây dựng mục tiêu của tiết sinh hoạt lớp:
+ Tổng kết, đánh giá toàn bộ hoạt động của HS trong một tuần học (ưu điểm,
hạn chế, có khen thưởng, phê bình, kỷ luật và xếp loại từng HS)

chuyển đến cho người có tên trong mẩu giấy ấy. Có lúc tôi cho các em ghi lại cảm
nhận của mình về lớp học trong tuần qua và dán lại trên giấy A0. Buổi sinh hoạt
diễn ra trong không khí dân chủ, thoải mái nhưng nghiêm túc và đầy yêu thương,
đoàn kết.
* Kết quả đạt được:
- HS được hình thành và phát triển phẩm chất: nhân ái (các em tôn trọng sự
khác biệt của các bạn, yêu quý và giúp đỡ bạn hoàn thiện mình), trung thực (trung
thực khi đánh giá nhận xét bạn và bản thân), trách nhiệm (có trách nhiệm với tập
thể lớp, với bạn và với mình).
- HS được hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự học (tự biết nên nhận
xét điều gì về lớp, về bạn, về bản thân thông qua đó tự rút ra bài học), năng lực
giao tiếp và hợp tác (nói cho các bạn khác nghe và lắng nghe, chia sẻ với các bạn
khác), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (phát hiện ra những ưu nhược điểm
của bản thân và các bạn khác, tìm cách khắc phục nhược điểm), năng lực tìm hiểu
xã hội (tìm hiểu lớp học, bạn bè xung quanh và bản thân mình), năng lực ngôn
ngữ (nói và viết), năng lực thẩm mỹ (phát hiện ra những ưu điểm, mặt tốt của
mình và bạn).

Lớp trưởng và bí thư K31D điều hành sinh hoạt lớp
2
1


Điều HS cảm nhận về lớp trong tuần học
3.2.1.2. Tổ chức tiết sinh hoạt lớp thành một buổi hội thảo nhỏ, chia sẻ
kinh nghiệm học tập, kinh nghiệm sống
* Mục đích: Học sinh biết tìm hiểu vấn đề đặt ra từ đời sống xã hội xung
quanh hoặc trên internet, trên mạng xã hội mà dư luận đang quan tâm và có ý nghĩa
quan trọng đối với giới trẻ. Từ đó, đánh giá, nhận xét, thể hiện quan điểm, ý tưởng
đối với những hiện tượng, những vấn đề ấy. Mục đích cuối cùng là giúp các em tự

GVCN cũng có thể nhanh chóng tổ chức buổi thảo luận theo phương pháp: think –
pair- share. Đây là cách thảo luận mang tính hợp tác. Theo đó, sự tham gia của
mỗi thành viên trong một nhóm sẽ góp phần vào kết quả chung. HS sẽ học cách xử
lý mọi vấn đề qua 3 bước sau: Think (Nghĩ): HS suy nghĩ độc lập về vấn đề được
nêu ra; tự hình thành nên ý tưởng của mình; Pair (Bắt cặp): HS được ghép cặp với
nhau để thảo luận về những ý tưởng vừa có. Bước này giúp HS thể hiện ý tưởng
của mình, xem xét ý tưởng của bạn; Share (Chia sẻ): HS chia sẻ ý tưởng vừa thảo
luận với nhóm lớn hơn. Thông thường, các em sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi giới
thiệu ý tưởng đến cả nhóm nếu được sự hỗ trợ của bạn bắt cặp với mình. Hơn nữa,
ý tưởng của từng HS sẽ được củng cố và nâng cao hơn trong quá trình thực hiện 3
bước này. Tất cả đều có cơ hội được bày tỏ suy nghĩ và quan điểm sống của mình.
Khi tiến hành buổi sinh hoạt thành một buổi hội thảo, bản thân tôi nhận thấy
các em rất hào hứng và thể hiện hết mình. Qua đó, các em sẽ học cách duy trì tình
bạn lành mạnh thông qua chia sẻ, lắng nghe và học hỏi lẫn nhau.
* Kết quả đạt được:
- HS được hình thành và phát triển phẩm chất: yêu nước (liên quan đến vấn đề
bảo tồn, phát huy di sản văn hóa,…), nhân ái (các em biết đồng cảm, chia sẻ với
bạn, yêu quý ý tưởng của bản thân và của bạn bè), trung thực (nêu lên quan điểm,
chính kiến của bản thân về các vấn đề xung quanh, về quan điểm của các bạn
khác), trách nhiệm (có trách nhiệm góp ý cho bạn và hoàn thiện bản thân đồng thời
biết liên hệ thấy rõ vai trò của bản thân đối với các vấn đề đặt ra), chăm chỉ (các
em tự tìm hiểu, tìm kiếm thông tin về các vấn đề đưa ra để hội thảo, lắng nghe
những ý kiến của bạn để học hỏi, làm đầy kiến thức, kỹ năng cho mình).
- HS được hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự học (tự biết nên tìm
hiểu những thông tin liên quan đến vấn đề hội thảo, tự tìm cách thể hiện vấn đề tốt
nhất cho nhóm và tự học thông qua việc tìm kiếm thông tin, làm việc nhóm, chủ
động trình bày ý tưởng, quan diểm của mình và lắng nghe các ý kiến, chủ động học
hỏi), năng lực giao tiếp và hợp tác (kỹ năng thuyết trình, phản biện, lắng nghe),
năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (cách giải quyết của bản thân trước những
vấn đề được đưa ra thảo luận và đưa ra các giải pháp tích cực, hiệu quả), năng lực


thoải mái, đoàn kết hơn và khiến cho HS yêu lớp học của mình hơn. GVCN nên
hòa đồng và là người đi đầu đóng góp tiết mục văn nghệ nào đó để tiết sinh hoạt
trở nên thú vị hơn, khoảng cách giữa GVCN với HS trở nên gần nhau hơn.

HS tự tổ chức và điều hành buổi văn nghệ chúc mừng
8/3 * Kết quả đạt được:
- HS được hình thành và phát triển phẩm chất: yêu nước (các ca khúc, câu
chuyện, bài thơ về chủ đề quê hương, đất nước), trung thực (nêu lên cảm nhận, suy
nghĩ, bài học các em tự rút ra được từ thực tế cuộc sống hoặc từ câu chuyện các em
đọc trên sách báo), trách nhiệm (bản thân phải góp một tiết mục văn nghệ trong
buổi biểu diễn văn nghệ, quan tâm tới các bạn trong lớp), nhân ái (các em trở nên
mạnh dạn, tự tin, càng thêm yêu quý bản thân mình, các bạn mình và lớp học, biết
yêu thương, quan tâm nhau), chăm chỉ (các em tự tìm kiếm một tiết mục văn nghệ
phù hợp với năng khiếu của bản thân, lắng nghe và xem các bạn khác biểu diễn để
học hỏi, trau dồi thêm cho mình).
- HS được hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác (kỹ năng
biểu diễn, trao đổi với tập thể lớp), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (tìm ra
tiết mục văn nghệ phù hợp và tìm cách biểu diễn trước tập thể một cách ấn tượng,
hấp dẫn), năng lực tìm hiểu xã hội (tìm hiểu về ý nghĩa của các ngày lễ, các bài hát,
câu chuyện, bài thơ, vở kịch,…), năng lực ngôn ngữ (cách kể chuyện, cách diễn
đạt, trao đổi với tập thể lớp), năng lực thẩm mỹ (nhận biết các yếu tố về cái đẹp,
cái bi, cái hài, cái chân, cái thiện, cái cao cả trong các tiết mục văn nghệ mà
2
5


các bạn chuyển tải; Phân tích, đánh giá về cách biểu diễn và nội dung của các tiết
mục văn nghệ; Tái hiện, sáng tạo khi biểu diễn các tiết mục văn nghệ), năng lực
thể chất (qua các tiết mục nhảy).

đổi, hợp tác trong đội, nhóm), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (tìm ra
phương án trả lời, cách thức tiếp thu và thực hiện luật chơi đúng nhất), năng lực
tìm hiểu tự nhiên và xã hội (tìm hiểu về thế giới tự nhiên và những vấn đề xã hội
xung quanh để có câu trả lời đúng nhất, thực hiện đúng theo quy định của luật
chơi,…), năng lực ngôn ngữ ( năng lực lắng nghe để làm theo lệnh, ngôn ngữ cơ
thể theo các động tác trong các trò chơi), năng lực thẩm mỹ (nhận biết các yếu tố
về cái đẹp, cái hài trong các trò chơi; phân tích, đánh giá về những người tham gia
2
6


trò chơi), năng lực thể chất (khi HS tham gia các trò chơi vận động hay các hình
thức phạt sau khi không thực hiện đúng luật chơi hoặc khi thua cuộc).

GVCN cùng các em tổ chức trò chơi: Nhìn hình đoán chữ
3.2.1.5.Tổ chức tiết sinh hoạt cho các em “lắng nghe” chính mình
* Mục đích: Nhằm để cho HS có những giây phút lặng, phút “sống chậm” để
các em “ngẫm”, “ngợi”, nhìn nhận mọi điều liên quan đến mình. HS được chia sẻ,
tâm sự với GVCN, với bố mẹ, với bạn bè và với chính bản thân mình. Từ đó, giúp
các em lấy lại niềm tin, động lực và phương hướng phấn đấu, bồi dưỡng lý tưởng,
khát vọng sống cao đẹp cho các em.
* Nội dung và hình thức sinh hoạt:
Nội dung: Các em viết những dòng tâm sự về cuộc sống, về những người
xung quanh (bố mẹ, thầy cô, bạn bè), về những gì đang diễn ra, về ước mơ, về
tương lai của bản thân, … với những chủ đề: Mưa điều ước, Thư gửi thầy /cô, Thư
gửi bố / mẹ (hoặc bố mẹ), Gửi tôi ở tương lai,…
Hình thức sinh hoạt: Tôi thường cho các em viết thư hoặc ghi vào tờ note gửi
thầy (cô), bố (mẹ), cho chính mình hiện tại và tương lai (mấy chục năm sau này),
… Ở đây mỗi HS sẽ ghi ba điều ước về mục tiêu của bản thân trong năm học, ba
điều ước về bố mẹ, ba điều ước về thầy cô, sau đó các em trang trí theo từng nhóm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status