PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lí do chọn đề tài
Phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực tư duy đang trở thành xu hướng
chung của giáo dục thế giới. Sự phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi mỗi
quốc gia luôn phải sáng tạo và thích ứng với những chuyển biến không ngừng của
cuộc sống. Trong tương lai, 4 kỹ năng và năng lực được coi là quan trọng trong
giai đoạn toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đó là: tư duy phản biện
(phê phán), tư duy máy tính ( điện toán); kỹ năng giải quyết vấn đề phức tạp và
khoa học dữ liệu. Như vậy, năng lực tư duy phản biện là năng lực quan trọng mà
các nền giáo dục trên thế giới hướng đến, phát triển năng lực tư duy phản biện là
nền tảng để phát triển năng lực sáng tạo.
Phát triển năng lực là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của Việt Nam trong
giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Nghị quyết Hội nghị trung ương
8 khóa XI của Ban chấp hành trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục giai đoạn 2011 – 2020 nhấn mạnh mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục:
“Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân,
phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo
đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt
đời”.
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể chính thức được thông qua ngày
17/8/2017 nêu rõ: Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất
và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức cơ bản,
thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến
thức để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học
dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ
chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương
pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục
để đạt được mục tiêu của chương trình giáo dục tổng thể.
Để đạt được mục tiêu đề ra, chương trình giáo dục chú trọng 10 năng lực cốt
vấn đề. Phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh là một trong những giải
pháp để học sinh nhìn nhận đúng về các sự kiện lịch sử, rèn luyện những kĩ năng
phân tích, đánh giá, dự đoán xu hướng phát triển.
Trong những năm gần đây, thực hiện yêu cầu đổi mới trong giáo dục, nhiều
giáo viên giảng dạy môn lịch sử trên địa bàn Nghệ An đã thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực. Những biện pháp đổi mới đó
được đúc rút trong một số sáng kiến kinh nghiệm như:
- “Dạy học tích hợp liên môn đạt hiệu quả cao bài 12 (tiết 2) Lịch sử 12 theo
định hướng phát triển năng lực cho học sinh”, tác giả Trần Thị Lan Anh, trường
THPT Nguyễn Sỹ Sách (năm 2017).
- “Môt số biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy bài ôn
tập, sơ kết, tổng kết môn lịch sử lớp 11 THPT”, tác giả Bùi Thị Duyên, trường
THPT Diễn Châu 3 (năm 2017).
- “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực
học sinh qua bài 8: Nhật Bản – môn lịch sử 12”, tác giả Trần Thị Thu Hương,
trường THPT Tây Hiếu (năm 2017).
- “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử nhằm phát triển năng
lực cho học sinh ở trường THPT”, tác giả Trịnh Thị Thu Hương, trường THPT
Diễn Châu 2 (năm 2018).
- “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong phần lịch sử thế giới
thời trung đại lớp 10 – THPT”, tác giả Phan Thị Hồng, trường THPT Quỳnh Lưu 1
(năm 2018).
Các sáng kiến kinh nghiệm đã đưa ra nhiều biện pháp để phát huy năng lực
nói chung và năng lực tư duy nói riêng trong dạy học lịch sử. Tuy nhiên, các sáng
kiến kinh nghiệm chưa tập trung nghiên cứu về phát triển năng lực tư duy phản
2
biện và chưa đề ra các biện pháp phổ biến, hiệu quả để phát triển năng lực tư duy
phản biện cho học sinh trong môn học lịch sử.
1.3. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc đề tài
1.3.1 Đối tượng, phạm vi
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài được tiến hành thực nghiệm và khảo sát trên các
đối tượng là học sinh các khối 10,11,12 trường THPT Nguyễn Duy Trinh và trường
THPT chuyên Phan Bội Châu1. Để những biện pháp trong đề tài có thể ứng
1 Từ tháng 9/2017 đến tháng 6/2018 tác giả tiến hành ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh. Từ tháng 6/2018
đến tháng 3/2019, tác giả tiến hành ở trường THPT chuyên Phan Bội Châu.
3
dụng phổ biến cho các trường THPT, tác giả chủ yếu tiến hành thực nghiệm và
khảo sát ở các lớp học ban cơ bản.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tiến hành các biện pháp dạy học theo hướng phát
triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh trong chương trình lịch sử lớp 10, 11,
12 ban cơ bản.
1.3.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu tài liệu về phát triển năng lực
tư duy phản biện; các chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục phổ
thông; nghiên cứu một số phương pháp phát triển năng lực tư duy như: phương
pháp giải quyết vấn đề, phương pháp sử dụng bài tập, phương pháp hoạt động
nhóm…
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm, điều tra, khảo sát qua các phiếu điều
tra, bài kiểm tra
- Phương pháp lịch sử
1.3.3. Cấu trúc đề tài
Đề tài được cấu trúc gồm 4 phần với các nội dung cụ thể như sau:
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần II: NỘI DUNG
Phần III: KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
+ TDPB nảy sinh khi gặp những hoàn cảnh có vấn đề, những tình huống có
vấn đề.
+ TDPB vừa là sản phẩm, vừa là quá trình vừa mang tính cá nhân (diễn ra
trong não bộ của con người) vừa mang tính xã hội (gắn với cac hoạt động giao tiếp,
tương tác của con người trong xã hội)… Kết quả của TDPB là những giả thiết, kết
luận, nhận định do cá nhân đưa ra cùng những lí lẽ, minh chứng để giải quyết vấn
đề.
+ TDPB có mối quan hệ với nhận thức cảm tính, có tính trừu tượng và khái
quát cao.
+ TDPB không đơn thuần là sự tiếp nhận thông tin thụ động mà là quá trình
tìm hiểu, nghiên cứu, tự học để làm chủ thông tin, làm chủ tri thức, vận dụng tri
thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
+ TDPB có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ.
5
- Dấu hiệu của năng lực TDPB
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm
việc trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học,
liên quan đến nhiều môn học. Mỗi năng lực chung góp phần tạo nên kết quả có giá
trị cho xã hội và cộng đồng, giúp cho cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của
cuộc sống.
Hiện nay, chương trình tổng thể giáo dục phổ thông ở nước ta hướng đến các
năng lực cơ bản sau: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng
lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Năng lực tư duy phản biện là cơ sở tạo nên năng lực giải quyết vấn đề, năng
lực sáng tạo và tự chủ, tạo điều kiện cho các năng lực khác hình thành và phát
triển.
Năng lực TDPB biểu hiện ở những dấu hiệu sau:
+ Có khả năng tập hợp thông tin và xử lí thông tin, có khả năng xem xét thông
không còn hiện hữu.
Chủ thể của nhận thức lịch sử, luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố, luôn để lại
dấu ấn chủ quan trong tất cả các khâu của hoạt động nhận thức. Cũng giống như
mọi thành viên xã hội khác, nhà sử học luôn thuộc về một giai cấp nhất định và do
đó luôn mang quan điểm giai cấp để khôi phục sự kiện và giải thích lịch sử…
Khoa học lịch sử có khả năng nhận thức được lịch sử nhưng không phải là
nhận thức trực quan, tuyệt đối mà là quá trình tiệm cận với lịch sử, cho nên cùng
một sự kiện, một hiện tượng lịch sử có thể có những quan điểm khác nhau. Trong
quá trình nhận thức lịch sử, nhà sử học bị ảnh hưởng bởi quan điểm thời đại, môi
trường xã hội, những quyền lợi khác nhau. Trong đánh giá, kết luận, nhà sử học
bao giờ cũng thể hiện những quan điểm riêng của mình.
- Năng lực chuyên biệt của môn lịch sử ở trường THPT
Vì những đặc trưng riêng của lịch sử và nhận thức lịch sử cho nên, trong dạy
học lịch sử, ngoài phát triển các năng lực chung của chương trình giáo dục phổ
thông thì trong môn lịch sử còn phát triển các năng lực chuyên biệt. Các năng lực
riêng của môn lịch sử ở trường trung học phổ thông gồm có:
+ Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử
+ Năng lực tư duy: so sánh, phân tích, khái quát hóa, trừu tượng hóa các sự
kiện hiện tượng lịch sử.
+ Năng lực đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử để rút ra bài học kinh
nghiệm.
+ Năng lực giải quyết vấn đề: Phát hiện và giải quyết vấn đề, trình bày vấn đề.
+ Năng lực thực hành bộ môn và vận dung kiến thức của bộ môn vào thực tiễn
cuộc sống.
+ Năng lực tự học lịch sử.
+ Năng lực tư duy phản biện lịch sử.
Trong dạy học lịch sử, các năng lực chuyên biệt được phân theo thang năng
lực như sau:
+ Nhận biết: Ở mức độ này yêu cầu học sinh ghi nhớ được sự kiện lịch sử, kể
tên nhân vật lịch sử cụ thể, nêu diễn biến các cuộc kháng chiến, chiến dịch…
sử, vì vậy, học sinh phải thu thập, xử lí thông tin, suy luận logic để loại bỏ những ý
kiến chưa hợp lí từ đó tiệm cận dần đến chân lí lịch sử.
+ Từ việc nhận thức đúng các vấn đề lịch sử, học sinh có thể rèn luyện khả
năng phán đoán, suy luận các vấn đề đặt ra trong thực tiễn hiện nay.
+ Mức độ cao nhất của tư duy phản biện là năng lực tranh biện.
Giáo viên có thể dựa vào những dấu hiệu tư duy phản biện của học sinh để
đề ra những phương pháp dạy học phù hợp.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, ở các trường trung học phổ thông đang thực hiện đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Nhiều phương pháp dạy
học tích cực đã được giáo viên áp dụng vào dạy học, đặc biệt trong môn lịch sử.
Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng học sinh xem môn lịch sử là một môn học thuộc,
ghi nhớ sự kiện vẫn còn phổ biến.
8
Trong quá trình dạy học ở trường THPT, tôi đã tiến hành điều tra thực trạng
của dạy học theo hướng phát triển năng lực tư duy phản biện trong môn lịch sử ở
trường THPT như sau:
- Mục đích điều tra:
Tìm hiểu thực trạng dạy học theo hướng phát triển năng lực tư duy phản biện
trong môn lịch sử ở trường THPT.
- Đối tượng điều tra:
+ Học sinh lớp 11A3, 10A7, 12A1 trường THPT Nguyễn Duy Trinh.
- Nội dung điều tra: Điều tra theo mức độ hình thành các dấu hiệu của năng
lực tư duy phản biện trong dạy học môn lịch sử
TT
Tiêu chí
Hiếm
Kết quả điều tra lớp 11A3, 10A7, 12A1 trường THPT Nguyễn Duy Trinh
TT
Tiêu chí
1
2
GV đưa ra các tình huống có vấn đề
GV đưa ra các vấn đề có quan điểm đánh
giá đa chiều
Học sinh phải thu thập thêm thông tin, tư
liệu để để khẳng định những nhận định
lịch sử hoặc phản biện những nhận định
cũ.
Học sinh được tổ chức tranh biện, thể
hiện quan điểm cá nhân trong giờ học lịch
sử, được phản bác ý kiến của người khác
và bảo vệ ý kiến của mình
HS được đặt câu hỏi và được GV giải
thích về những vấn đề còn hoài nghi
3
4
5
6
60%
40%
0%
65%
35%
0%
67%
33%
0%
55%
45%
0%
55%
45%
0%
ít khi phải tranh biện về vấn đề, ít khi được thể hiện quan điểm cá nhân của mình.
Trong hoạt động nhóm, vấn đề thảo luận có thể chưa cần huy động tất cả ý
kiến của các thành viên, các thành viên dễ dàng thống nhất ý kiến, không có cơ hội
tranh biện.
Khi thuyết trình, các nhóm khác ít có thời gian và tư liệu để phản biện vấn đề
của nhóm thuyết trình.
+ Tiêu chí HS được đặt câu hỏi và được GV giải thích về những vấn đề còn
hoài nghi: Tỉ lệ 67% hiếm khi, 33% thỉnh thoảng được thực hiện. Trong thực tiễn
dạy học, học sinh thường được truyền tải những kiến thức lịch sử theo hướng một
chiều, thường tiếp nhận thụ động các kiến thức đó cho nên, học sinh ít khi hoài
nghi về những nội dung được truyền tải.
Thời gian trong tiết học không đủ để học sinh trình bày vấn đề hoài nghi và
giáo viên giải đáp thấu đáo vấn đề còn hoài nghi đó.
+ Tiêu chí GV tổ chức cho học sinh phải huy động kiến thức, kĩ năng lịch sử
để giải quyết một vấn đề thực tiễn: Thường các vấn đề liên quan đến vận dụng kiến
thức, kĩ năng lịch sử để giải quyết một vấn đề thực tiễn GV gợi mở cho học sinh
suy nghĩ, không đặt thành nhiệm vụ học tập cho nên, HS ít khi vận dụng kiến thức
lịch sử vào vấn đề thực tiễn.
+ Tiêu chí Trong kiểm tra đánh giá, HS được thực hiện các bài tập có thể
trình bày quan điểm cá nhân, tranh biện các vấn đề lịch sử:
Trong kiểm tra đánh giá, hình thức kiểm tra đánh giá chủ yếu là hình thức trắc
nghiệm khách quan, học sinh ít có cơ hội để thể hiện tư duy phản biện của mình.
Đối với các câu hỏi tự luận trong kiểm tra đánh giá, các câu hỏi thường chủ
yếu các cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, còn mức độ vận dụng cao
chiếm tỉ lệ thấp. Mặt khác, các câu hỏi mở, học sinh được trình bày quan điểm
riêng còn ít.
Như vậy, qua kết quả điều tra cho thấy, vấn đề dạy học lịch sử ở trường THPT
còn nặng về truyền tải kiến thức, chưa phát huy tính chủ động, tích cực của học
sinh. Học sinh chưa cơ hội để phát huy năng lực tư duy phản biện.
11
GV đặt câu hỏi nêu vấn đề: Em hãy nêu những kì tích của dân tộc Việt Nam
trong lịch sử dựng nước và giữ nước?
HS trả lời, GV nhận xét câu trả lời của học sinh (sử dụng hình ảnh
Powerpoint) đồng thời khái quát và đặt ra tình huống có vấn đề: Trong lịch sử
dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam là một nước nhỏ nhưng đã lập được 4 kì
tích:
- Trong thời kì Bắc thuộc, người Việt đã chống đồng hóa, bảo tồn giá trị văn
hóa dân tộc, đồng thời tiến hành các cuộc khởi nghĩa, năm 938, chiến thắng Bạch
Đằng mở ra kỉ nguyên độc lập tự chủ lâu dài cho dân tộc.
- Thế kỉ XIII, Đại Việt 3 lần đánh bại quân Mông Nguyên, đế chế phong kiến
hùng mạnh
- Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ đánh bại thực dân Pháp – giáng đòn
nặng nề vào âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc
- Cuộc kháng chiến chống Mĩ thắng lợi, đánh bại Đế quốc sừng sỏ nhất trên
thế giới.
Việt Nam là một quốc gia nhỏ trên bản đồ thế giới nhưng trong lịch sử, Việt
Nam đã đánh bại những đế quốc sừng sỏ nhất trên thế giới từ thời kì cổ đại, trung
13
đại đến hiện đại, lập nên những kì tích vĩ đại. Vậy, yếu tố nào đã làm nên sức mạnh
của dân tộc Việt Nam? Dân tộc nào cũng có truyền thống yêu nước, nhưng truyền
thống yêu nước Việt Nam có đặc trưng gì? Chúng ta sẽ trả lời câu hỏi đó trong bài
học hôm nay.
Ví dụ minh họa 2: Bài 23: Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) (Lịch sử lớp
11, ban cơ bản).
Phần khởi động, GV nêu vấn đề:
Khi hai người gặp nhau tại Nhật Bản (1906), Phan Chu Trinh đã nói với Phan
GV đặt vấn đề: Vương triều Nguyễn là vương triều cuối cùng trong lịch sử
chế độ phong kiến Việt Nam. Khi đánh giá về triều Nguyễn, có nhiều quan điểm
khác nhau:
Quan điểm thứ 1 cho rằng: Triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng
được dựng lên nhờ thế lực xâm lược của người nước ngoài, dựa vào lực lượng địa
chủ phản động, đàn áp một phong trào nông dân vĩ đại … Triều Nguyễn là vương
triều đại diện cho quyền lợi của những thế lực phong kiến phản động, tàn tạ, hoàn
toàn đối lập với nhân dân và dân tộc.
Quan điểm thứ 2 cho rằng: Vương triều Nguyễn đã có nhiều đóng góp to lớn
vào lịch sử dân tộc, tuy nhiên cuối thế kỉ XIX, trước sự xâm lược của thực dân
Pháp, triều Nguyễn phạm một số sai lầm, cuối cùng để mất nước.
Vậy, vương triều Nguyễn thành lập như thế nào? Đánh giá như thế nào về
vương triều Nguyễn?
Ý nghĩa biện pháp: Khi GV nêu vấn đề theo hướng tư duy đa chiều, sẽ tạo nên
sự băn khoăn cho học sinh đối với vấn đề giáo viên đặt ra, tạo tâm thế để học sinh
trong tiết học sẽ phải tập hợp kiến thức, suy luận, phân tích để tìm ra chân lí.
2.1.3 Vận dụng phương pháp nêu quan điểm trái chiều về vấn đề lịch sử để phát
triển năng lực TDPB cho học sinh trong phần khởi động bài học
Ví dụ minh họa: Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa
tháng Tám (1939 – 1945) nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (Lịch sử lớp
12, ban cơ bản).
Tổ chức hoạt động khởi động:
GV nêu vấn đề: Cách mạng tháng Tám thành công, lật đổ ách thống trị của
chế độ thực dân Pháp và phong kiến tay sai, mở ra kỉ nguyên mới trong lịch sử dân
tộc, tuy nhiên có ý kiến cho rằng: Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam là một “sự ăn
may”.
1
5
TDPB nảy sinh khi gặp tình huống có vấn đề, hoặc chủ đề có nhiều cách nhìn
đa chiều, nhiều ý kiến trái ngược nhau. Vì vậy, để phát huy tư duy phản biện giáo
viên phải lựa chọn chủ đề thảo luận hấp dẫn, có vấn đề, có tính chất kích thích tính
tích cực chủ động của học sinh, vấn đề có nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến đa chiều,
nhiều hướng khai thác khác nhau, nhiều cấp độ nhận thức khác nhau để học sinh
tranh cãi, thảo luận, phát huy sự hợp tác của các thành viên trong nhóm.
+ Tổ chức thuyết trình
Để phát huy TDPB trong dạy học lịch sử hiệu quả thì trong tổ chức thuyết
trình của hoạt động nhóm, giáo viên cần tổ chức cho học sinh không chỉ dừng lại ở
thuyết trình báo cáo nội dung nhóm thảo luận mà phải tổ chức cho các nhóm khác
16
phản biện phần thuyết trình của nhóm trình bày. Hoạt động này tạo cho học sinh cơ
hội để trình bày ý kiến riêng của mình, tạo ra cách nhìn đa chiều về một vấn đề.
+ Hình thức thảo luận nhóm phát triển năng lực tư duy phản biện
+ Sử dụng hình thức thảo luận nhóm truyền thống đối với một tình huống có
vấn đề: Các nhóm cùng thảo luận chung 1 câu hỏi do GV đề ra, các thành viên thảo
luận, thống nhất ý kiến, trình bày vào bảng nhóm, thuyết trình kết quả của nhóm.
+ Sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn trong hoạt động nhóm: Để phát huy TDFB
cho học sinh, hoạt động nhóm theo hình thức khăn trải bàn phát huy được tác dụng
tích cực. Với hình thức này đứng trước một tình huống có vấn đề, mỗi thành viên
trong nhóm trình bày được ý kiến riêng của mình vào phần quy định trong phiếu
hoạt động nhóm, đồng thời, các thành viên phải tích cực, chủ động tranh cãi để đi
đến thống nhất ý kiến cuối cùng vào phần giữa của bảng hoạt động nhóm.
+ Sử dụng hình thức đóng vai trong thảo luận nhóm: GV tổ chức cho học sinh
nhập vai các lực lượng chính trị, các phe phái, giai cấp… hoặc đóng vai các nhân
vật lịch sử để giải quyết một vấn đề lịch sử. Qua đó học sinh tranh luận để đi đến
kết luận vấn đề.
2.2.2 Một số hình thức hoạt động nhóm để phát triển năng lực tư duy phản biện
+ Qua đó, em có nhận xét gì về kết quả các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm
của dân tộc Việt Nam?
HS quan sát bảng thống kê và trả lời các câu hỏi trên, GV kết luận:
+ Dân tộc Việt Nam liên tục phải tiến hành các cuộc đấu tranh chống kẻ xâm
lược. Thời gian chống ngoại xâm kéo dài trong lịch sử dân tộc.
+ Việt Nam luôn phải đối phó với những kẻ xâm lược là những đế quốc hùng
mạnh của thời kì trung đại và hiện đại.
+ Mặc dù là 1 dân tộc nhỏ phải chống lại những đế quốc sừng sỏ trên thế giới
nhưng dân tộc Việt Nam luôn giành thắng lợi.
Mặt khác, trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, để có sức mạnh chống
lại những kẻ thù hùng mạnh, các triều đại và nhân dân luôn phải đoàn kết, khoan
18
thư sức dân, phải xây dựng tiềm lực kinh tế, quân sự vững chắc, phát huy sức
mạnh của nhà nước trung ương tập quyền, xóa bỏ mọi xu thế cát cứ, xây dựng khối
thống nhất dân tộc… tạo nên sức mạnh toàn diện thúc đẩy cuộc đấu tranh giành
thắng lợi.
Như vậy, chống ngoại xâm là đặc trưng nổi bật của truyền thống yêu nước
Việt Nam thời phong kiến.
Ý nghĩa của thảo luận nhóm đối với một vấn đề đa chiều, nhiều lựa chọn:
Thảo luận nhóm đối với một nhiều lựa chọn sẽ tạo nên được sự tranh biện
giữa các thành viên để đưa ra lựa chọn đúng nhất, từ đó phát triển tư duy phản biện
của học sinh.
Sử dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong hoạt động nhóm có thể huy động được
tất cả các thành viên thể hiện ý kiến của mình ở phần phụ của bảng nhóm, sau đó
học sinh mới bàn luận để thống nhất nội dung và ghi vào phần giữa bảng.
2.2.2.2 Sử dụng hình thức đóng vai các lực lượng chính trị trong xã hội trong thảo
Không đủ sức mạnh để duy trì nền Cộng hòa tư sản
Không đề ra được biện pháp hữu hiệu để giải quyết khủng hoảng
Ngày 30/1/1933, tổng thống Hin đen bua chỉ định Hitle làm thủ tướng, lập
chính phủ mới
Năm 1934, tổng thống Hin đen bua qua đời, Hitle tuyên bố hủy bỏ Hiến pháp
Vaima, tự xưng là Quốc trưởng suốt đời, nền Cộng hòa Vaima sụp đổ.
Nhóm 2: Đảng Cộng sản Đức
- Chống lực lượng Phát xit
- Kêu gọi nhân dân đấu tranh thành lập Mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa
Phát xit.
- Đảng xã hội dân chủ từ chối hợp tác
- Đảng Cộng sản Đức đại diện cho nhân dân và lực lượng dân chủ không ngăn
được chủ nghĩa Phát xit lên cầm quyền.
Nhóm 3: Đảng xã hội dân chủ
- Thấy rõ nguy cơ của chủ nghĩa Phát xit, tuy nhiên từ chối hợp tác với những
người cộng sản
- Hậu quả: cô lập Đảng Cộng sản, tạo điều kiện cho Chủ nghĩa Phát xít lên
cầm quyền
20
Nhóm 4: Lực lượng phản động hiếu chiến – Đảng Quốc Xã
- Kích động chủ nghĩa phục thù
- Chống Cộng sản
- Phân biệt chủng tộc
- Chủ trương Phát xít hóa bộ máy nhà nước thiết lập chế độ độc tài khủng bố
công khai, gây chiến tranh, chia lại hệ thống thuộc địa trên thế giới
- Vươn lên tham gia chính quyền: ngày 30/1/1933, tổng thống Hin đen bua chỉ
định Hitle làm thủ tướng, lập chính phủ mới
- Năm 1934, tổng thống Hin đen bua qua đời, Hitle tuyên bố hủy bỏ Hiến
21
Khi tiến hành thực nghiệm ở lớp 10C4 trường THPT Phan Bội Châu, 4 nhóm
học sinh đóng vai vua tôi nhà Trần bàn luận và đưa ra kế sách sau:
+
Nhóm 1: Vua tôi nhà Trần rút từ Vạn Kiếp sang trú chân ở Lào, thoát khỏi
thế bị bao vây, từ căn cứ ở Lào trở về tập kích quân Mông – Nguyên.
+
Nhóm 2: Phản biện: Ở Lào, nhà Trần không có căn cứ, lực lượng nên không
thể thực hiện kế sách được.
+
Nhóm 3: Vua tôi nhà Trần rút từ Vạn Kiếp lên vùng núi Tây Bắc, thoát khỏi
thế bị bao vây, từ Tây Bắc trở về tập kích quân Mông – Nguyên.
+
Nhóm 4: Phản biện: Vùng đồi núi là địa hình mà kị binh có thể phát huy, đó
là ưu thế của quân Mông – Nguyên.2
Sau khi học sinh trình bày, giáo viên trình bày kế sách của nhà Trần: Rút về
mạn ven biển, đợi cho địch tiến ra Thiên Trường thì vòng xuống chiếm Thanh Hóa,
làm bàn đạp tấn công ra Thiên Trường, Thăng Long.
Qua hình thức đóng vai, học sinh sẽ hiểu rõ về tình thế khó khăn của vua tôi
nhà Trần và nghệ thuật quân sự, tài năng quân sự của nhà Trần.
Ví dụ minh họa 2: Bài 13: Nước Mĩ giữa hai cuộc Chiến tranh thế
giới (1918 – 1939) (lớp 11 – Ban cơ bản)
Mục II.2 Chính sách mới của Tổng thống Mĩ Ru dơ ven
Sau khi dạy mục II.1 Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 ở Mĩ, GV nhấn
Mục II.2. Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu
GV chia lớp thành 4 nhóm và phân công nhiệm vụ cho các nhóm trình bày về
các cuộc khởi nghĩa:
Nhóm 1: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Nhóm 2: Khởi nghĩa Lí Bí
Nhóm 3: Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ
Nhóm 4: Chiến thắng Bạch Đằng năm 938
Sau khi các nhóm thảo luận, GV lần lượt gọi từng nhóm lên thuyết trình về
cuộc khởi nghĩa của nhóm mình, sau phần thuyết trình của mỗi nhóm, GV tổ chức
cho các nhóm đặt các câu hỏi phản biện đối với nhóm thuyết trình.
Theo kết quả thực nghiệm3, sau khi nhóm 1 trình bày về cuộc khởi nghĩa Hai
Bà Trưng, các nhóm tranh biện đã đặt 1 số câu hỏi cho nhóm 1 như sau:
- Đặc điểm nổi bật của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng?
3
Minh chứng: Lưu Video trong đĩa
23
- Vì sao nói: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một minh chứng chứng tỏ các
triều đại phong kiến phương Bắc không thể thực hiện được âm mưu đồng hóa đối
với nước ta?
Nhóm 1 trả lời các câu hỏi của các nhóm đặt ra:
Đặc điểm nổi bật: các nữ tướng tham gia cuộc khởi nghĩa ngày càng đông, thể
hiện vai trò của người phụ nữ Việt Nam
Cuộc Khởi nghĩa hai bà Trưng với việc Trưng Trắc lên ngôi đã khẳng định vai
trò của phụ nữ, truyền thống trọng mẫu của người Việt. Mặc dù bọn phong kiến
phương Bắc truyền bá Nho giáo với tư tưởng trọng nam khinh nữ vào nước ta
24
2.3 Dạy học phần kết thúc bài học theo hướng phát triển năng lực tư duy
phản biện của học sinh
- Hoạt động kết thúc giờ học
Hoạt động kết thúc giờ học là những hoạt động cuối cùng, kết thúc bài học và
tạo ra một ấn tượng lâu dài về những gì đã học và tạo nên sự suy ngẫm của người
học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập.
- Ý nghĩa của hoạt động kết thúc bài học:
- Đối với học sinh:
+ Giúp học sinh hệ thống lại, khắc sâu kiến thức của bài
+ Mở rộng, phát triển tư duy cho học sinh
+ Tạo hứng thú học tập, gợi mở những ý tưởng mới, tạo cơ hội để học sinh áp
dụng ý tưởng vào các tình huống mới
+ Học sinh có thể phát biểu ý kiến cá nhân về nội dung bài học
- Đối với giáo viên:
+ Giáo viên nắm được khả năng tiếp thu bài của học sinh, khắc sâu kiến thức
cho học sinh.
+ Giáo viên có thể gợi mở những vấn đề mới, những ý tưởng mới cho học
sinh.
+ Phát triển một số kĩ năng như: tổng hợp, khái quát, so sánh, phản biện cho
học sinh.
- Phương pháp kết thúc bài học theo hướng phát triển năng lực TDPB
cho học sinh
Để kết thúc bài học, GV có thể dùng nhiều cách khác nhau như: Khái quát
bằng lời, sử dụng câu hỏi phát vấn, nêu vấn đề, sử dụng sơ đồ tư duy, sơ đồ, bảng
biểu… để hệ thống bài học, hoặc giáo viên cung cấp thêm thông tin, tư liệu mới,
gợi mở những suy ngẫm, những ý tưởng mới cho học sinh. Trong các biện pháp
đó, biện pháp dùng câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề có vai trò quan trọng trong phát