Chuẩn mực kếtoán việt nam vềhàng tồn kho - những ảnh hưởng đến chế độ kế toán hiện hành và nội dung giảng dạy kế toán trong nhà trường - Pdf 65

1
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VỀ HÀNG TỒN KHO - NHỮNG ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HIỆN HÀNH VÀ NỘI DUNG GIẢNG DẠY KẾ TOÁN TRONG
NHÀ TRƯỜNG

Vũ Hữu Đức
Dẫn nhập 1
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ VỀ HÀNG TỒN KHO
 Lược sử phát triển các chuẩn mực về hàng tồn kho trên thế giới
Trước các chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho 2
Ảnh hưởng của IAS 2 đến các quốc gia 3
 Các nội dung cơ bản của của chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho (IAS 2 –
1993 và SIC 1-1997) 4
Phạm vi chi phối của chuẩn mực
Khái niệm hàng tồn kho và điều kiện ghi nhận 5
Đánh giá hàng tồn kho 6
Ghi nhận hàng tồn kho vào chi phí 7
Trình bày và công bố 8
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VỀ HÀNG TỒN KHO
 Hoàn cảnh ra đời của chuẩn mực kế toán Việt Nam về hàng tồn kho
Mục tiêu
Các thách thức 9
Thành quả đạt được
 Những khác biệt của chuẩn mực kế toán VN về hàng tồn kho với IAS 2 10
Ảnh hưởng của chuẩn mực kế toán VN về hàng tồn kho đến chế độ kế toán VN hiện
hành
Về phương diện thực hành
Về phương diện lý luận 11
Những giải pháp cho việc đưa chuẩn mực kế toán VN về hàng tồn kho vào thực tế.
12

hàng tồn kho trên thế giới, trước và sau khi các chuẩn mực quốc tế ra đời.
Lược sử phát triển các chuẩn mực về hàng tồn kho trên thế giới
Trước các chuẩn mực kế toán quốc tế
Mặc dù hàng tồn kho thường là một khoản mục quan trọng đối với nhiều doanh
nghiệp, các vấn đề về kế toán hàng tồn kho lại không được đề cập chính thức trong một
chuẩn mực riêng mà thường được hướng dẫn dưới dạng các thông lệ
1
. Ở Hoa kỳ, các
hướng dẫn chủ yếu về kế toán hàng tồn kho được đề cập đầu tiên trong Accounting
Research Bulletin No. 29 (1947) và sau đó là Accounting Research Bulletin No. 43,
Chapter 4 “Đánh giá hàng tồn kho” (1953). Ở Anh, chuẩn mực về kế toán hàng tồn kho
và sản phẩm dở dang (SSAP 9) chỉ mới được ban hành năm 1975.
Chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho
Chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho ra đời khá sớm trong hệ thống các
chuẩn mực kế toán quốc tế và đã trải qua một số thay đổi trong những năm qua:
Năm 1975, Uûy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC – nay là IASB) ban hành
IAS 2 “Đánh giá và trình bày hàng tồn kho trong hệ thống kế toán dựa trên giá lịch sử”.

1
Mahoney, J.J. “Inventory”, trong Carmichael, D.R., Lilien, S.B. & Mellman, M.
Accountants’ Handbook. 7
th
Edition. John Wiley & Sons 1991, trang 13.3.
3
Cùng với nhiều IAS khác, IAS 2 (1975) bị phê phán vì cho phép q nhiều lựa chọn, cụ
thể là các phương pháp đánh giá hàng tồn kho: FIFO, LIFO, bình qn gia quyền,base
stock
2
(còn thực tế đích danh sẽ phải áp dụng trong một số điều kiện nhất định).
Từ năm 1987, IASC bắt đầu tiến hành các dự án để giảm bớt các lựa chọn trên

đònh trước này sẽ được tính theo các phương pháp khác. Trường hợp số lượng hàng
tồn kho nhỏ hơn số lượng đònh trước, toàn bộ loại hàng tồn kho đó được tính theo
đơn giá cố đònh nói trên.
3
Có nhiều ý kiến cho rằng việc giữ lại LIFO là do ảnh hưởng của Hoa kỳ, một
quốc gia mà phương pháp LIFO được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, theo Ông
Arthur Wyatt, nguyên chủ tòch IASC trong một bài phát biểu tại đại học Virgiana,
Hoa kỳ năm 1995 đã cho biết Hoa kỳ đồng ý loại bỏ LIFO nhưng các quốc gia
không đồng ý là: Đức, Ý , Nhật và Hàn quốc. Sau đó, IASC bỏ phiếu và 12/14
thành viên đã chấp thuận giữ lại LIFO như một phương pháp thay thế (Nguồn:
Haskins, Ferris và Selling, International Financial Reporting and Analysis, Irwin
1996),
4
Ảnh hưởng của IAS 2 đến các quốc gia
Vì đặt trên nền tảng giá gốc, IAS 2 khơng tạo ra những bất đồng lớn về kế tốn
hàng tồn kho đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới
4
. Vấn đề gây tranh cãi nhiều
này đối với chuẩn mực này là các cơng thức tính giá gốc:
 Phương pháp LIFO.
Một số quốc gia khơng chấp nhận LIFO hoặc chỉ cho phép áp dụng LIFO đối
với báo cáo tài chính hợp nhất của các tập đồn như: Pháp, Australia, Anh, New
Zealand, Đan Mạch, Thụy điển…Trong khi đó, tại một số quốc gia như Mỹ, Bỉ, Ý…
LIFO lại là một cơng thức được sử dụng phổ biến.
Lý do là tại nhóm quốc gia sau, luật thuế chấp nhận LIFO và LIFO là một cách
tính có lợi về thuế nên các doanh nghiệp dùng LIFO chung cho cả hai loại báo cáo tài
chính và báo cáo thuế. Một nghiên cứu của Gary C. Biddle về vấn đề này tiết kiệm thuế
từ sử dụng LIFO thay FIFO cho thấy trong 106 cơng ty niêm yết tại Thị trường chứng
khốn New York, năm 1974, bình qn một cơng ty đã phải trả thêm 12 triệu đơ la thuế
cho việc vẫn giữ ngun FIFO thay vì đổi sang LIFO, số tiền này chiếm khoảng 1,5%

Nam Phi
Thụy Sĩ
Hoa kỳ
56
328
240
247
607
140
698
141
112
2.852
22
191
129
54
102
114
553
119
26
1.965
6
14
7
18
2
57
53

nghiệp Nhật bao gồm chung LIFO và HIFO.
 Các phương pháp khác không được IAS 2 cho phép nhưng được dùng (như
một lựa chọn) ở một số quốc gia như:
 HIFO (Highest price In, First Out) được cho phép ở Nhật, Hungary…
 Giá mua gần nhất (Latest Purchase Price) được cho phép ở Nhật
 Base stock vẫn còn được cho phép ở Hà lan…

Các nội dung cơ bản của của chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng
tồn kho (IAS 2 – 1993 và SIC 1-1997)
Phạm vi chi phối của chuẩn mực
1. IAS 2 chỉ áp dụng cho kế toán hàng tồn kho trong hệ thống kế toán sử dụng
giá gốc (historical cost accounting – viết tắt HCA), nghĩa là không áp dụng đối với các
hệ thống kế toán sử dụng giá hiện hành (current cost accounting – viết tắt CCA).
CCA là hệ thống kế toán dựa trên nguyên tắc tương xứng giữa doanh thu theo
giá hiện hành và chi phí theo giá hiện hành đồng thời thực hiện bảo toàn vốn dưới góc
độ vật chất. Trong hệ thống này, hàng tồn kho thường được phản ảnh theo giá thay thế
(replacement cost – chi phí phải bỏ ra để có tài sản tương tự tại thời điểm hiện tại).
Vấn đề sử dụng CCA đặt ra vào những năm 70-80 của thế kỷ 20 khi tình hình
biến động giá cả khá lớn ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Chuẩn
mực kế toán của nhiều nước đã đề cập đến phương pháp này như SSAP 16 của Anh
“Kế toán ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả” (1980) hay SFAS 33 của Hoa kỳ “Báo cáo
tài chính và sự thay đổi giá cả” (1979), điều chỉnh bằng SFAS 89 (1986)… Cuối thập
niên 1980, tỷ lệ lạm phát giảm xuống và sự phức tạp của kỹ thuật sử dụng CCA khiến
các chuẩn mực về phương pháp này lần lượt được bãi bỏ. Hà Lan là quốc gia nổi tiếng
về việc cho phép sử dụng CCA từ những năm 1920, tuy nhiên một khảo sát gần đây
cho thấy chỉ 5% số công ty cổ phần sử dụng hoàn toàn CCA (so với trên 50% các công
ty cổ phần dùng hoàn toàn HCA)
6
.
IASC cũng đã đề cập đến CCA trong IAS 6 (1977) sau được thay bằng IAS 15

dang cũng như thành phẩm mà còn bao gồm chi phí dở dang của dịch vụ đang trong
quá trình thực hiện.
 Hàng tồn kho là một tài sản nên theo IAS Framework, một điều kiện ghi
nhận hàng tồn kho là quyền kiểm soát (trong trường hợp này là quyền sở hữu) của đơn
vị đối với hàng tồn kho. Điều này sẽ dẫn đến các xem xét cần thiết trong những phương
thức mua hàng và bán hàng khác nhau (FOB destination, FOB shipping point, CIF,
C&F…)
Đánh giá hàng tồn kho
Đây là nội dung chủ yếu của IAS 2, theo đó giá trị hàng tồn kho là giá thấp hơn
giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện.
1. Giá gốc được xác định bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và chi phí
khác.
 Chi phí mua là giá mua và các chi phí đã bỏ ra để có hàng tồn kho với tình
trạng và vị trí hiện tại (thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển, bốc dỡ…). Chiết khấu
thương mại, giảm giá hay các khoản tương tự phải được loại khỏi chi phí mua.
 Chi phí chế biến bao gồm chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
chung. Chi phí sản xuất chung bao gồm biến phí sản xuất chung và định phí sản xuất
chung, trong đó định phí sản xuất chung được phân bổ theo mức chi phí trong điều kiện
sản xuất bình thường (trừ trường hợp sản lượng cao hơn so với mức bình thường thì
định phí sản xuất chung sẽ phân bổ theo thực tế). Phần chi phí còn lại không phân bổ
được sẽ tính vào chi phí trong kỳ.
Trường hợp một quá trình sản xuất cho ra nhiều sản phẩm, chi phí sẽ được phân
bổ cho các sản phẩm theo một cơ sở nhất quán. Nếu có thể tách biệt sản phẩm chính và
phụ, phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ có thể được áp dụng.
 Chi phí khác là các chi phí nhằm mang hàng tồn kho đến tình trạng và vị trí
hiện tại, thí dụ chi phí thiết kế sản phẩm. Không được ghi nhận vào giá trị hàng tồn kho
chi phí nghiên cứu và phát triển, các chi phí bất thường, hầu hết chi phí lưu kho, chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status