Luận văn sư phạm Điều tra thực trạng sự nhận thức về sức khoẻ sinh sản của thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường khu vực xã Giáp Sơn - Lục Ngạn - Bắc Giang - Pdf 65

Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa Sinh - KTNN
***********

Nguyễn Thị Thùy Linh

Điều tra thực trạng sự nhận
thức về sức khỏe sinh sản của
thanh thiếu niên trong và ngoài
nhà trường khu vực xã
giáp sơn lục ngạn bắc giang
Khoá LUN tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Giải phẫu sinh lý người và động vật

Người hướng dẫn khoa học
Ths. Nguyễn thị Lan

GVHD: Nguyễn Thị Lan

0

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh

Hà Nội - 2008


Khoá luận tốt nghiệp



Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Lời cam đoan
Để đảm bảo tính trung thực của đề tài, tôi xin cam đoan như sau:
1. Đề tài này tôi không hề sao chép từ bất cứ đề tài có sẵn nào.
2. Đề tài của tôi không trùng với một đề tài nào khác.
3. Kết quả thu được trong đề tài là do nghiên cứu thực tiễn, đảm bảo
tính chính xác và trung thực.
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Thị Thuỳ Linh

GVHD: Nguyễn Thị Lan

2

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Mục lục
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan

2.2.1. Khái niệm SKSS

5

2.2.2. Nội dung của SKSS

6

2.2.3. SKSS Mục tiêu và thách thức

8

2.3. SKSS thanh thiếu niên

9

2.3.1. Thanh thiếu niên họ là ai?

9

2.3.2. SKSS thanh thiếu niên

10

2.4. Giáo dục SKSS thanh thiếu niên

12

2.4.1. Vì sao phải giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên?


4.3. Kết quả so sánh nhận thức giữa hai nhóm TTN về SKSS

28

Phần 5. Kết luận và đề nghị

38

5.1. Kết luận

38

5.2. Đề nghị

38

Tài liệu tham khảo

40

Phụ lục

Mục lục các bảng biểu đồ
Bảng 4.1. Kết quả nhận thức của TTN trong nhà trường về SKSS

22

Bảng 4.2. Kết quả nhận thức của TTN ngoài nhà trường về SKSS

25


ngoài nhà trường về SKSS

GVHD: Nguyễn Thị Lan

4

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Danh mục các kí hiệu viết tắt
[SKSS]

: Sức khoẻ sinh sản

[KHHGĐ]

: Kế hoạch hoá gia đình

[THCS]

: Trung học cơ sở

[THPT]

: Trung học phổ thông


: Giáo dục và đào tạo

[DSGĐTE]

: Dân số Gia đình Trẻ em

[TTN]

: Thanh thiếu niên

[BPTT]

: Biện pháp tránh thai

GVHD: Nguyễn Thị Lan

5

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Phần 1. mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước đã và đang tạo ra
những biến đổi lớn trong lĩnh vực kinh tế - chính trị và xã hội. Đặc biệt trong

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Hiện tượng quan hệ tình dục ở lứa tuổi thanh thiếu niên, sống thử, nạo
phá thai ở tuổi vị thành niên ngày càng trở nên phổ biến hơn và chưa thấy dấu
hiệu giảm. Đây thực sự là một bài toán nan giải làm đau đầu các nhà quản lí
xã hội. Vậy nguyên nhân là do đâu?
Có thể khẳng định rằng đó không phải hoàn toàn do lỗi của các em. Mà
nguyên nhân là do các em không được trang bị kiến thức giới tính và SKSS
một cách chính xác, đầy đủ và chọn lọc.
Nhằm góp phần đánh giá thực trạng nhận thức, hiểu biết của thanh
thiếu niên hiện nay khu vực xã Giáp Sơn, tuyên truyền nhận thức hiểu biết
SKSS cho đối tượng này đặc biệt là nhóm từ 15-18 tuổi. Nhằm đề ra một số
giải pháp thiết thực cho việc giáo dục giới tính và SKSS cho thanh thiếu niên
trong và ngoài nhà trường khu vực xã Giáp Sơn, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài:
Điều tra thực trạng sự nhận thức về sức khoẻ sinh sản của thanh
thiếu niên trong và ngoài nhà trường khu vực xã Giáp Sơn huyện Lục
Ngạn tỉnh Bắc Giang

1.2. Mục đích của đề tài
1. Tìm hiểu thu thập các thông tin về SKSS và điều tra để thấy được
thực trạng sự nhận thức về SKSS của thanh thiếu niên trong và ngoài nhà
trường khu vực xã Giáp Sơn.
2. Tuyên truyền các nội dung, mục tiêu, lợi ích của việc chăm sóc
SKSS.
3. Đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính và
SKSS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường.

GVHD: Nguyễn Thị Lan



8

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp
Phần 2.

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tổng quan tài Liệu

2.1. Lịch sử nghiên cứu các vấn đề
SKSS là một phạm trù được nhấn mạnh tại Hội nghị dân số và phát
triển ở Cairo năm 1994. Nhưng ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1961, nhà nước
đã quan tâm tới những vấn đề dân số KHHGĐ. Chương trình đã bắt đầu với
những nội dung liên quan tới chăm sóc sức khoẻ gia đình và SKSS, vận động
các cặp vợ chồng thực hiện sinh đẻ có kế hoạch nhằm giảm tỷ lệ sinh.
Năm 1963 chương trình KHHGĐ bắt đầu đề cập và nhấn mạnh tới nội
dung dân số và phát triển.
Từ năm 1970 đến nay, các chỉ tiêu của chương trình này ngày càng
nhấn mạnh vào giảm sinh trong đó KHHGĐ cùng với thông tin giáo dục
truyền thông và chính sách, chế độ được coi là giải pháp cơ bản.
ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về hình thái, thể lực và sinh lý lứa tuổi dậy thì. Trong những năm
60 và giữa thập kỷ 70 nhiều tác giả Việt Nam đã công bố về tuổi có kinh lần
đầu, chu kỳ kinh nguyệt các chỉ số về chiều cao, cân nặng của một số đối
tượng. Những kết quả này được tập trung trong cuốn Hằng số sinh học người
Việt Nam năm 1975.

Sức khoẻ sinh sản - SKSS - là tình trạng hoàn toàn khoẻ mạnh về thể
chất, tinh thần và xã hội, mà không chỉ là không có bệnh tật hay không bị tàn
phế về tất cả những gì có liên quan tới hệ thống, chức phận và quá trình sinh
sản. [6]
Như vậy khái niệm SKSS là một khái niệm mở rộng, có ý nghĩa xã hội
sâu sắc và mang tính nhân bản cao vì đã nâng cao những yêu cầu bảo vệ chức
năng đặc thù của phụ nữ là chức năng sinh sản. Và sinh sản, xét về mặt đạo lí
và giá trị cần được nhìn nhận như là chức năng xã hội. [6]
Từ định nghĩa này có thể khẳng định rằng, chính sách SKSS là một tổng
thể các biện pháp kĩ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khoẻ và hạnh
phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về SKSS. Nó bao gồm cả
sức khoẻ tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng
GVHD: Nguyễn Thị Lan

10

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

tư chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các
bệnh lây truyền qua đường tình dục. [3]
2.2.2. Nội dung của SKSS
2.2.2.1. SKSS ở nữ giới
Những vấn đề về SKSS nữ giới không chỉ liên quan đến bệnh tật và tử
vong trong thời kỳ thai nghén và sinh đẻ mà còn là hậu quả của việc thiếu
chăm sóc ở độ tuổi thanh thiếu niên, phụ nữ bị đối xử thô bạo, ngược đãi

+ Bệnh lây truyền qua đường tình dục.
+ Bệnh nhiễm khuẩn. [8]
Nhưng do mỗi khu vực và mỗi quốc gia lại có những vấn đề ưu tiên
riêng nên các tổ chức tham gia quyết định cụ thể hoá nội dung của SKSS ở 10
điểm sau:
1. Làm mẹ an toàn: Chăm sóc phụ nữ khi mang thai, khi đẻ, chăm sóc
mẹ và trẻ sơ sinh, sau khi sinh.
2. KHHGĐ: Nhằm làm cho mức sinh sản tự nhiên phù hợp với nhịp độ
phát triển kinh tế, đảm bảo thực hiện quyền sinh sản.
3. Nạo - hút thai: Nhằm giảm tỉ lệ nạo hút thai ngoài ý muốn đặc biệt là
nhóm tuổi vị thành niên từ 10-19 tuổi.
4. Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản: Phòng ngừa, chuẩn đoán, điều trị
nhằm giảm tỉ lệ người mắc và tử vong do bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản.
5. Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Phòng ngừa, điều trị cho người
mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.
6. Giáo dục tình dục học: Giáo dục nhu cầu, sự thoả mãn nhu cầu để
đảm bảo sức khoẻ cũng như chất lượng cuộc sống.
7. Phát hiện sớm ung thư vú và ung thư đường sinh dục.
8. Vô sinh.
9. Sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
10. Giáo dục, tuyên truyền vì SKSS và KHHGĐ cho tất cả mọi người đặc
biệt là các nhà lãnh đạo, các cán bộ, cán bộ y tế, người cung cấp dịch vụ SKSS,
người sử dụng các dịch vụ SKSS nhằm phổ biến mục tiêu của SKSS. [17]
10 nội dung trên của SKSS có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tuy
nhiên ở mỗi vùng, quốc gia khác nhau thì mỗi nội dung lại được quan tâm ở
mức độ khác nhau.
GVHD: Nguyễn Thị Lan

12


bạo trong tình dục, bị ngược đãi trong gia đìnhvẫn xảy ra liên tiếp.
Thứ hai: Do tính toàn diện của nó nên SKSS yêu cầu được thực hiện tốt
ở cả hai giới. Đòi hỏi một sự tiếp cận lồng ghép với một trình độ hiểu biết
GVHD: Nguyễn Thị Lan

13

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

nhất định. Điều này mâu thuẫn với trình độ dân trí nước ta và hầu hết các
nước trên thế giới.
Mặt khác SKSS cho mọi người không thể thực hiện trong ngày một
ngày hai. Vì vậy việc xây dựng và hoàn thành các chính sách, chương trình
SKSS đòi hỏi có một sự tiếp cận và tham gia ngày càng rộng rãi bao gồm cả
khâu đánh giá dựa trên cộng đồng những gì đã làm được, những gì còn tồn tại,
còn yếu kém. Từ đó đề ra những phương pháp nhằm tăng cường các mối liên
kết giữa các kế hoạch qua nhiều năm. Có như vậy mới có thể đáp ứng tốt hơn
các mối quan tâm về SKSS.
2.3. SKSS thanh thiếu niên
2.3.1. Thanh thiếu niên - họ là ai ?
Vị thành niên (adolescent) dùng để chỉ nhóm người trẻ tuổi đang ở
trong giai đoạn chuyển biến về thể trạng và tâm lý, tuy không còn là trẻ con
nữa nhưng cũng chưa hoàn toàn là người lớn. Một số tài liệu còn dùng từ
thanh niên (youth) hay người trẻ tuổi (young adult) với ý nghĩa giống như vị
thành niên. Sự phân chia và sử dụng các thuật ngữ trên chưa rạch ròi, thống

bắt đầu từ 15- 16 tuổi. Dậy thì càng sớm có nghĩa là con người đó càng sớm
trưởng thành về sinh lí, do đó có khả năng sinh sản sớm.
ở Việt Nam, độ tuổi từ 10-24 đang chiếm 1/3 dân số. Ngày nay độ tuổi
dậy thì đã đến sớm hơn, ở nữ giới là 13,6, ở nam giới là 14,7. Đây cũng là một
trong số những nguyên nhân làm cho độ tuổi có quan hệ tình dục lần đầu
giảm từ 19 xuống còn 14,7. [12]
Dậy thì đem lại những biến đổi về mặt tâm lí, khiến cho trẻ muốn làm
người lớn, thích tự lập, muốn thoát khỏi kiểm soát của gia đình, và thích tự
khẳng định mình. Đây là một điểm yếu khiến cho những hành vi xấu có nguy
cơ xâm nhập vào lứa tuổi này. [4]
Ngày nay, không riêng gì nước ta mà hầu hết các nước khác trong khu
vực và trên thế giới, vấn đề vị thành niên đang nổi lên như là những thách thức
của xã hội. Thế giới hiện có trên 1 tỷ người có độ tuổi từ 15-24 tuổi; và 1,8 tỷ
người có độ tuổi dưới 1,5 tuổi. [16]
Riêng ở Việt Nam, thanh thiếu niên có độ tuổi từ 15- 24 chiếm 27,3%
dân số cả nước. Trong thời đại hiện nay, thanh thiếu niên có cơ hội học tập,
GVHD: Nguyễn Thị Lan

15

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

giao lưu văn hoá và tự hoàn thiện bản thân. Nhiều giá trị lớn đã được hình
thành và được thanh thiếu niên tiếp cận, chấp nhận như: Bình đẳng nam - nữ,
quyền con người, quyền sinh sản, tình dục cũng được nhìn nhận như một thực


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Trong những năm gần đây nước ta có đến 5% các em gái dưới 15 tuổi
và 15% các em gái dưới 19 tuổi đã trở thành các bà mẹ; trung bình một ngày
có 20 ca nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên. [14]
Trong khi đó hầu hết sách giáo khoa đang sử dụng ở các cấp học trong
nhà trường hiện nay đều không có nội dung giáo dục SKSS. Không ít học sinh
và giáo viên khi đề cập đến vấn đề này còn trở lên lúng túng vì coi đây là một
vấn đề nhạy cảm. Còn các bậc phụ huynh có lẽ không nhiều người trực tiếp
nói chuyện, tâm sự với con về vấn đề này. Do vậy đối với nước ta, giáo dục
SKSS thanh thiếu niên vẫn còn là một khoảng trống đầy thách thức.
2.4. Giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên
Là loại hình giáo dục tập trung vào bản năng sinh dục của vị thành niên
và con người nói chung. Môn học này thường gồm các chủ đề như: Vị thành
niên, hệ thống sinh sản, giải phẫu, thụ thai và tránh thai, các bệnh lây truyền
qua đường tình dục, tình bạn và các mối quan hệ giao tiếp, quyết định, trách
nhiệm, những khía cạnh giới trong tình dục, bạo lực. [7]
2.4.1. Vì sao phải giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên
Chương trình hoạt động của Hội nghị Cairo viết: Việc trở thành bà mẹ
ở lứa tuổi quá trẻ là nguyên nhân làm tăng nguy cơ tử vong mẹ và con của
những người mẹ trẻ này. Có thai sớm tiếp tục gây trở ngại cho việc cải thiện
vị thế xã hội, kinh tế, học vấn ở phụ nữ mọi nơi trên thế giới. Với tất cả phụ
nữ trẻ kết hôn sớm và làm mẹ sớm có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ hội học
hành, kiếm việc làm, và sẽ tác động xấu về lâu dài đến chất lượng cuộc sống
của chính họ và con cái họ. [8]
Việc giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên không còn là vấn đề của riêng
ai nữa. Nó mang tính lâu dài, rộng rãi và đòi hỏi khi thực hiện nhà giáo dục
phải thật sự linh động theo từng đối tượng và hoàn cảnh.
GVHD: Nguyễn Thị Lan

thành niên ở độ tuổi 13-14 tuổi.
Tại Hà Nội, năm 2006 được đánh giá là khủng hoảng do tỷ lệ nạo phá
thai cao đặc biệt. Số thanh thiếu niên nạo phá thai chiếm 22,3% tổng số ca
nạo phá. [16]
Đây thực sự là những con số đáng báo động.
Hệ quả kéo theo đó là tình trạng mất cân bằng giới nghiêm trọng.
GVHD: Nguyễn Thị Lan

18

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Đồng bằng Sông Hồng: Có tỉ lệ trẻ em từ 1-4 tuổi cao nhất nước và cứ
100 nữ thì có 116 nam. Thêm vào đó là sự xuất hiện và gia tăng nhiều căn
bệnh: U xơ tiền liệt tuyến, ung thư vú, ung thư tử cung- tinh hoàn. đặc biệt
là tỉ lệ người nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng.
Theo thống kê tháng 1/2008 tính đến hết ngày 31/12/2007. Toàn quốc có:
+ Tổng số người nhiễm HIV còn sống là 121.734 người, tổng bệnh
nhân AIDS còn sống là 27.669 người, tổng người nhiễm HIV đã tử vong là
34.476 người.
( Tổ chức giám sát HIV/AIDS/STI- Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam). [17]
Tuy nhiên điều đáng cảnh báo là trên thực tế những con số trên đây còn
cao hơn rất nhiều. Lý do chính đáng, cốt lõi nhất đó là vị thành niên trong xã
hội mới không được cung cấp những kiến thức cơ bản nhất, hiểu biết cần thiết
nhất về SKSS. [1]

thai, cách sử dụng, hiệu quả và cơ sở của các biện pháp tránh thai.
- Nguyên nhân, hậu quả của việc mắc các bệnh lây truyền qua đường
tình dục và cách phòng tránh. [13]
Đối với thanh thiếu niên tuỳ từng đối tượng và tuỳ theo nhóm tuổi mà
giới hạn nội dung giáo dục SKSS. Chỉ nên nói về những vấn đề sinh lý người,
chu kì kinh nguyệt, các phương tiện tránh thai nói chung mà không nên hướng
dẫn tỉ mỉ vì rất có thể gây nên tò mò cho thanh thiếu niên. Nội dung giáo dục
phải làm sao hấp dẫn nhưng có nhiều mức khác nhau phù hợp với từng lứa
tuổi. Các cơ sở dịch vụ nên có sẵn nhưng không nên phổ biến rộng rãi làm
cho thanh thiếu niên tin tưởng đã có chỗ chăm lo giải quyết các hậu quả thì dễ
làm bừa. [13]
- Giáo dục tuổi dậy thì: Dậy thì là mốc đánh dấu sự trưởng thành về
mặt sinh học của cơ thể. Dậy thì thường kéo dài từ 3 4 năm được đánh dấu
bằng lần có kinh nguyệt đầu tiên (ở nữ) và lần xuất tinh đầu tiên (ở nam). ở
tuổi dậy thì tuyến yên tiết hoócmôn điều hoà sự tiết hoócmôn sinh dục làm
sản sinh giao tử và xuất hiện các đặc tính sinh dục thứ cấp, hình thành các
phẩm chất trí tuệ, cảm xúc dẫn đến thay đổi về hình thể và tâm lý. [9]
+ ở thời kỳ này chiều cao tăng từ 4 8 cm, cân nặng tăng từ 4 8 kg.

GVHD: Nguyễn Thị Lan

20

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2


SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

- Về tính cách cũng có sự phân hoá rõ rệt. Nam thường tỏ ra mạnh mẽ,
dũng cảm, nữ thì đa cảm, dễ xúc động. ở tuổi dậy thì các em thường nhạy
cảm với các vấn đề về tình yêu, tình dục, dễ bị kích động, rung cảm, dễ phát
sinh nhiều cảm xúc mới lạ, mãnh liệt trong khi lý trí các em chưa đủ chín
chắn để làm chủ được cảm xúc đó. Vì vậy ở tuổi vị thành niên hay có nhiều
sai lạc trong quan hệ với bạn khác giới. [11]
- Giáo dục phải tiến hành cả trong và ngoài nhà trường, kết hợp cả gia
đình. Giáo dục phải lấy phát triển trí tuệ cảm xúc làm cơ bản và bằng phương
pháp xây dựng kĩ năng sống là chủ yếu. [2]
Phát triển trí tuệ cảm xúc giúp phát huy trí tuệ duy lí vì trí tuệ cảm xúc
chi phối hành vi rất mạnh trong độ tuổi vị thành niên. Nội dung cơ bản của
phát triển trí tuệ cảm xúc có thể được tóm tắt là: Năng lực hiểu được cảm xúc
và đặt tên cho cảm xúc đó, năng lực tự phân tích, biết được nguyên nhân gây
ra các cảm xúc đó, năng lực làm chủ và kiềm chế ham muốn nhất thời, biết trì
hoãn hoan lạc để có niềm tin lâu dài và tốt đẹp hơn.
Một khi đã có được năng lực Trí tuệ cảm xúc thanh thiếu niên có thể
vững vàng hơn trước vô số luồng thông tin độc hại. Biết làm chủ bản thân,
cảm xúc, ham muốn nhất thời để dồn nhiều năng lực nhất cho sự nghiệp và
sống một cách lành mạnh. [13]
Giáo dục SKSS bằng phương pháp xây dựng kĩ năng sống: Là một
phương pháp hiệu quả được sử dụng nhiều để giáo dục cho thanh thiếu niên
hiện nay. Phương pháp này có hiệu quả vượt trội so với phương pháp giáo dục
SKSS bằng giảng giải, nêu câu hỏi thảo luận, minh hoạ bằng các phương tiện

- Xử lí kết quả thu được bằng thống kê toán học.
3.3. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được hoàn thành trong khoảng thời gian từ 5/2006 đến 5/2008.
3.4. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tại :
Trường THCS Giáp Sơn- Xã Giáp Sơn- Lục Ngạn- Bắc Giang.
Đoàn thanh niên khu vực Xã Giáp Sơn.
Hội phụ nữ xã Giáp Sơn.
GVHD: Nguyễn Thị Lan

23

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Lan

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

24

SVTH: Nguyễn Thị Thùy Linh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status