HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ HỒNG TRANG
KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2020
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ HỒNG TRANG
KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 62 31 02 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TSKH. Phan Xuân Sơn
HÀ NỘI - 2020
2.2.
Kiểm soát quyền lực nhà nước - quan niệm, cơ chế, mục đích,
nội dung, phương thức và tính tất yếu khách quan của kiểm soát
quyền lực nhà nước
Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội Việt Nam là một hình
thức kiểm soát quyền lực nhà nước
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU
QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM
Trang
1
8
8
14
23
25
25
58
89
Một số quy định về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội ở
nước ta
Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội với tư cách là phương
thức kiểm soát quyền lực nhà nước
Đánh giá chung về thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước
thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội
157
158
1
MỞ ĐẦU
1. Tình cấp thiết của đề tài
Kiểm soát quyền lực là một nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Qua gần 35 đổi mới vừa
qua, vấn đề kiểm soát quyền lực nói chung, kiểm soát quyền lực trong trong
công tác cán bộ nói riêng luôn được Đảng ta đưa ra, bàn bạc, ra quyết sách
khá kịp thời, điển hình như trong Văn kiện Đại hội XII, Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 4 khoá XII,... Đặc biệt, Quy định số 205-QĐ/TW ngày
23/9/2019 của Bộ Chính trị khoá 12 quy định về việc kiểm soát quyền lực
trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền đã thể hiện quyết tâm
chính trị rất cao của Đảng ta, của người đứng đầu Đảng, đứng đầu Nhà nước
là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Quyền lực không được
kiểm soát chặt chẽ thì nó là tác nhân chính làm tha hoá cán bộ, tha hoá
những con người được trao quyền lực, từ đó làm tha hoá, thoái hoá, biến
chất cả bộ máy, thể chế. Trong quá trình dân chủ hoá và xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay, vấn
đề kiểm soát quyền lực nhà nước vừa cơ bản, lại vừa cấp thiết. Cơ bản vì đó
là yếu tố cấu thành khách quan của hoạt động thực thi quyền lực nhà nước,
và tính hiệu quả của nó là một trong những nội dung cốt lõi của nhà nước
pháp quyền, là phương tiện để đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân.
Cấp thiết vì việc lạm quyền, chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng của
không ít cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất đang là vấn nạn, là nguy cơ
lớn đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ, vi phạm nghiêm trọng quyền tự
do, dân chủ của người dân. Vì sao phải nhốt quyền lực trong lồng thể chế và
pháp luật là một câu hỏi cần nghiên cứu thấu đáo để có hệ giải pháp vừa cấp
nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của phương thức kiểm soát quyền lực nhà
nước này của Quốc hội.
Trong thời gian vừa qua, trong hoạt động giám sát, kiểm soát quyền lực
nhà nước của Quốc hội, hoạt động chất vấn có nhiều chuyển biến tích cực,
3
diễn ra sôi nổi, hiệu quả chứng tỏ hoạt động của Quốc hội ngày càng có tính
dân chủ, tranh luận và thực chất nhiều hơn. Thông qua hoạt động chất vấn,
trách nhiệm chính trị của đối tượng bị chất vấn được làm rõ, nhiều người trả
lời chất vấn đã nhận trách nhiệm trước Quốc hội và có những giải pháp cụ
thể, thiết thực tạo sự chuyển biến thực sự trong thực tiễn, nhiều yếu kém, hạn
chế được khắc phục sau chất vấn. Chất vấn cũng là hình thức cảnh báo của
Quốc hội đối với hoạt động của hành pháp, tư pháp về những vấn đề bức xúc,
cử tri và dư luận quan tâm, những hạn chế, yếu kém trong hoạt động của các
cơ quan này để nghiêm túc điều chỉnh, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả,
tính hợp pháp, hợp lý trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Với vai trò của
chất vấn trong kiểm soát quyền lực nhà nước, có người cho rằng hoạt động
chất vấn của đại biểu Quốc hội là điểm sáng trong đời sống chính trị của nước
ta thời gian qua và góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Tuy nhiên, mức độ, phạm vi kiểm soát quyền lực nhà nước của hoạt
động chất vấn chưa đạt được như mong đợi. Mức độ kiểm soát quyền lực nhà
nước của hoạt động chất vấn phụ thuộc vào năng lực lựa chọn vấn đề chất
vấn, năng lực đeo bám, tranh luận đến cùng vấn đề chất vấn của đại biểu
Quốc hội để làm rõ trách nhiệm, nguyên nhân của vấn đề. Tuy nhiên, năng
lực của đại biểu Quốc hội còn hạn chế. Một số đại biểu Quốc hội nể nang, né
tránh, ít thực hiện hoạt động chất vấn. Vấn đề hậu chất vấn, giám sát việc thực
hiện lời hứa cũng như xử lý các trường hợp không chịu nhận trách nhiệm,
không tích cực giải quyết vấn đề của đối tượng bị chất vấn chưa thật sự chặt
quả kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu
Quốc hội ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án: hoạt động chất vấn của đại biểu
Quốc hội ở Việt Nam hiện nay với tư cách là một phương thức kiểm soát
quyền lực của Quốc hội.
5
- Phạm vi nghiên cứu của luận án: tính từ kỳ họp thứ 6 khoá XIII đến
nay(gắn với Hiến pháp năm 2013).
4. Những đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới sau:
- Góp phần bổ sung lý luận kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều
kiện tổ chức bộ máy nhà nước mang tính đặc thù Việt Nam, chỉ ra sự khác
biệt, những ưu thế của phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua
hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội với các phương thức kiểm soát
quyền lực khác của Quốc hội và của các nhánh quyền lực khác nói chung,
mối quan hệ giữa phương thức kiểm soát quyền lực thông qua hoạt động chất
vấn của đại biểu Quốc hội với các phương thức kiểm soát quyền lực khác của
Quốc hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước thông
qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra
những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp trên phương diện lý luận và
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước
thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
5.1. Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận án là các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật
Vũ Mão nguyên Chánh Văn phòng, nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của
Quốc Hội).
Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để kết hợp nhận định
mang tính định tính với số liệu mang tính định hướng được luận án sử dụng
để hoàn thành nội dung nghiên cứu của chương 3.
6. Ý nghĩa của luận án
- Làm rõ hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội là một hình
7
thức kiểm soát quyền lực nhà nước, tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt
động chất vấn...
- Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho Quốc hội, đại biểu Quốc hội trong hoạt động chất vấn.
- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng trong nghiên cứu chính trị, trong
giảng dạy ở các cơ sở đào tạo.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục công
trình nghiên cứu của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục...nội dung
của luận án gồm có 4 chương với 9 tiết.
8
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
NHÀ NƢỚC
lực nhà nước và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Tác giả còn tiếp tục đi
sâu hơn, phân tích khái niệm cơ chế kiểm soát quyền lập pháp, cơ chế kiểm
soát quyền hành pháp và cơ chế kiểm soát quyền tư pháp và những yếu tố
đảm bảo cho cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trên thực tế.
Liên quan đến cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, Trần
Ngọc Đường trong công trình: Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm
soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Vũ Anh Tuấn "Hoàn thiện thể
chế kiểm soát quyền lực nhà nước", Tạp chí lý luận chính trị, (5), năm 2012,
đã đi sâu phân tích sự mất cân đối trong nhận thức và tổ chức bộ máy nhà
nước ở nước ta. Đó là coi trọng tính thống nhất, tập trung mà coi nhẹ tính
kiểm soát, chế ước giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các tác giả đặc biết chú ý đến cơ chế kiểm
soát từ bên ngoài (của Đảng, của các tổ chức chính trị-xã hội, của các tổ chức
xã hội và của nhân dân) đối với quyền lực nhà nước và sự phối hợp với cơ chế
kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước. Các giải pháp mà Trần Ngọc
Đường đề xuất khá toàn diện bao gồm đề nghị các phương án sửa đổi một số
quy định trong Hiến pháp hiện hành cho đến những quy định pháp luật cụ thể.
Về giám sát tối cao của Quốc hội, tuy cuốn sách của Trần Ngọc Đường không
bàn đến vấn đề chất vấn nhưng cho rằng chức năng giám sát tối cao của Quốc
hội nên tập trung vào kiểm soát hoạt động của hành pháp, không nên kiểm
soát tư pháp và các văn bản luật để đảm bảo thực quyền.
Để làm rõ hơn vấn đề và các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước,
nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu so sánh các nước trên thế giới, thậm chí
11
so sánh các tổ chức nhà nước của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Theo
hướng này có: Nguyễn Quang Anh "Cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực
Quốc hội, Nguyễn Sỹ Dũng chủ biên, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006…
15
Tác giả Trần Ngọc Đường trong bài viết "Tiếp tục nâng cao hiệu lực và
hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội trong xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa", Tạp chí Tuyên giáo, (5), năm 2011 đã khẳng định giám sát
tối cao của Quốc hội là một trong những cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
từ bên trong "Giám sát nói chung, giám sát tối cao của Quốc hội nói riêng, là
một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, góp phần xây dựng cả 3
quyền đều mạnh, đảm bảo cho các quyền làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền
hạn được nhân dân giao phó".
Nhiều tác giả cũng đã bước đầu nghiên cứu quyền giám sát của Quốc
hội như là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Tác giả Nguyễn
Sinh Hùng trong bài viết "Tăng cường vai trò giám sát tối cao của Quốc hội
đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh
thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng", Tạp chí Cộng sản, (2), năm 2013 cũng
khẳng định "Giám sát tối cao của Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta được xem là một phương thức
kiểm soát quyền lực nhà nước, có nhiệm vụ phòng, chống sự tha hóa của
kiểmn lực nhà nước. Do đó, có thể nói giám sát tối cao có vai trò trong phòng,
chống tham nhũng - một biểu hiện của sự tha hoá quyền lực nhà nước".
Nhiều công trình chuyên khảo nghiên cứu về hoạt động giám sát tối cao
của Quốc hội cũng đã đưa ra định nghĩa về hoạt động này. Ví dụ như tác giả
Phạm Ngọc Kỳ trong cuốn sách Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Nxb
Chính trị quốc gia, 1996 đã đưa ra định nghĩa quyền giám sát tối cao của Quốc
hội "là quyền của Quốc hội thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra tính hợp
hiến, hợp pháp đối với các văn bản và hoạt động của Chủ tịch nước, uỷ ban
thường vụ quốc hội, Chính phủ, thủ tướng Chính phủ, toà án nhân dân tối cao và
viện kiểm sát nhân dân tối cao, xử lý những vi phạm hiến pháp, luật bà nghị
vấn đề đặt ra'', Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (2+3), năm 2009; Phùng Quốc
Hiển với ''Tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát tối cao là nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu của Quốc hội trong tình hình mới'', Tạp chí Cộng sản, (7) năm
2011; Nguyễn Sinh Hùng với ''Tăng cường vai trò giám sát tối cao của Quốc
18
hội đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng'', Tạp chí Cộng sản, (2), năm 2013;
Đặng Vũ Phúc, ''Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội'', Tạp chí Tổ
chức nhà nước, (11), năm 2014; Nguyễn Thị Hạnh, ''Một số vấn đề về hoạt
động giám sát của Quốc hội'', Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (23), tháng 12
năm 2014; Đặng Phương Hải, ''Giám sát và hệ quả pháp lý từ hoạt động giám
sát tối cao của Quốc hội'', Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (6), năm 2015…
Nhìn chung, các công trình này khi đánh giá về những thành tựu trong
hoạt động giám sát của Quốc hội có đề cập đến 1 số thành tựu như hoạt động
giám sát đưa dựa trên cơ sở luật đó là luật giám sát của Quốc hội, diễn ra bầu
không khí dân chủ hơn, trình độ năng lực, bản lĩnh của đại biểu QH được
nâng cao… Các công trình khi đề cập đến những bất cập trong hoạt động
giám sát của Quốc hội Việt Nam như đối tượng giám sát chưa phù hợp, còn
quá rộng; Hình thức giám sát còn chưa đa dạng, thiếu hiệu quả; Thiếu thời
gian, nhân lực, thông tin và các điều kiện đảm bảo khác cho hoạt động giám
sát. Năng lực của đại biểu Quốc hội, thiếu thời gian, vật chất, thiếu thông tin
và kỹ năng giám sát; thiếu sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan của Quốc
hội; những bất cập trong các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát
của Quốc hội; bộ máy giúp việc, điều kiện vật chất phục vụ hoạt động giám
sát còn hạn chế... Các tác giả cũng có cùng nhận định: So với các chức năng
được pháp luật quy định, trước yêu cầu đổi mới và kiện toàn bộ máy Nhà
nước hiện nay thì giám sát vẫn là khâu yếu, hiệu lực và hiệu quả chưa cao,
cần phải có những giải pháp đồng bộ để đổi mới và nâng cao hiệu quả giám
qua, hoạt động chất vấn được các đại biểu quan tâm thực hiện, là hoạt động có
nhiều chuyển biến tích cực và thu hút được sự quan tâm của dư luận. Vì vậy,
cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội.
Một số tác giả đã bắt đầu tiếp cận chất vấn như là một hình thức kiểm
soát quyền lực nhà nước trực tiếp và có hiệu quả nhất của Quốc hội hiện nay.
Tác giả Trần Quốc Việt trong bài viết "Chất vấn hình thức kiểm soát hiệu quả
20
của Quốc hội đối với Chính phủ", Tạp chí Quản lý nhà nước, (2), năm 2016,
khẳng định kiểm soát của Quốc hội thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu
là sự kiểm soát trực tiếp mạnh mẽ nhất đối với Chính phủ thông qua hoạt
động lập pháp. Tác giả chứng minh chất vấn có ý nghĩa quan trọng đối với
kiểm soát của chính phủ do hệ quả Chính trị, hệ quả xã hội và hệ quả pháp lý
của nó. Hệ quả chính trị là sự đánh giá, phê bình Chính phủ, cảnh báo 1 vấn
đề mà Chính phủ cần lưu tâm trong thực hiện trách nhiệm của mình. Hệ quả
xã hội thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội gây sức ép, áp lực xã hội cho
Chính phủ trong thực hiện quản lý. Hệ quả pháp lý, buộc Chính phủ phải
nhận trách nhiệm, cao hơn đặt vấn đề tín nhiệm hay không tín nhiệm từ đó có
thể dẫn tới sự từ chức Chính phủ. Hay tác giả Trương Thị Hồng Hà trong
cuốn sách Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát
quyền lực nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2016 cũng khẳng định
chất vấn là một hình thức có tính chất kiểm soát quyền lực nhà nước "Chất
vấn là hình thức giám sát quyền lực nhà nước đặc biệt do Quốc hội là cơ quan
được hiến định về hình thức chất vấn đối với các đối tượng giám sát cụ thể
tiến hành, nên chất vấn được coi là một trong các công cụ giám sát thông
dụng và hữu hiệu nhất của Quốc hội. Chất vấn có mục đích chính trị - pháp lý
rõ ràng là làm rõ trách nhiệm chính trị của người được chất vấn. Chính vì vậy,
chất vấn là hoạt động có tính chất kiểm soát quyền lực". Như vậy, tác giả cho
rằng chất vấn có tính chất kiểm soát quyền lực nhà nước vì mục đích của nó
của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, Nxb
Chính trị quốc gia - Sự thật, 2016… Các công trình này khi đánh giá thực
trạng có thể tiếp cận ở nhiều lát cắt khác nhau như có công trình đánh giá thực
trạng theo nội dung người chất vấn, người trả lời chất vấn, việc điều hành
hoạt động chất vấn, có công trình đánh giá thực trạng theo các nội dung như
mục đích, nội dung, phương pháp, thủ tục, quy trình, hình thức hậu quả pháp
lý… của chất vấn. Tuy nhiên, nhìn chung các công trình đều thống nhất ở một
số thành tựu và hạn chế trong hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội. Ví