LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên: Phan Thị Hoài Cẩm
Lớp: 23KHMT21
Chuyên ngành đào tạo: Khoa học môi trường
Mã HV: 1582440301001
Mã số: 60440301
Tôi xin cam đoan luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS
Vũ Hoàng Hoa với đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp cải
thiện chất lượng nước sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam phục vụ phát triển bền
vững”.
Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ
bất kỳ một nguồn nào. Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được trích dẫn và ghi
nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2017
Học viên
Phan Thị Hoài Cẩm
i
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Thủy Lợi,
Khoa Môi trường đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu .......................................................... 2
4.1. Cách tiếp cận ........................................................................................................ 2
4.2. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 3
4.2.1. Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu............................................................. 3
4.2.4. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa ......................................................... 3
4.2.5. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................................ 4
5. Cấu trúc luận văn ................................................................................................ 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM NƯỚC SÔNG VÀ GIỚI THIỆU
KHU VỰC SÔNG TRƯỜNG GIANG ........................................................................5
1.1. Tổng quan về ô nhiễm nước sông và các nghiên cứu quản lý, bảo vệ chất
lượng nước sông ..................................................................................................... 5
1.1.1. Tổng quan về ô nhiễm nước sông .................................................................... 5
1.1.2. Tổng quan các nghiên cứu về quản lý, bảo vệ chất lượng nước sông .......... 12
1.2. Giới thiệu khu vực sông Trường Giang.......................................................... 16
1.2.1. Giới thiệu sông Trường Giang ....................................................................... 16
1.2.2. Điều kiện tự nhiên khu vực sông Trường Giang ........................................... 18
1.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực sông Trường Giang ................................ 21
1.2.4. Ảnh hưởng của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đến tài nguyên nước
sông Trường Giang ................................................................................................... 29
1.3. Kết luận chương 1 .......................................................................................... 32
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG
TRƯỜNG GIANG .......................................................................................................33
2.1. Kiểm kê các nguồn nước thải vào sông Trường Giang .................................. 33
2.1.1. Xác định các nguồn nước thải chủ yếu .......................................................... 33
2.1.2. Kiểm kê và đánh giá chất lượng các nguồn nước thải................................... 34
2.1.3. Đánh giá thực trạng quản lý, bảo vệ chất lượng nước sông Trường Giang.. 40
2.2. Đánh giá chất lượng nước sông Trường Giang .............................................. 41
2.2.1. Đánh giá chất lượng nước dựa theo QCVN................................................... 43
2.2.2. Đánh giá chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước WQI ....................... 51
iii
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Phương pháp phân tích chỉ tiêu môi trường nước..............................................3
Bảng 1. 1. Tình hình kinh tế tại các huyện thuộc khu vực nghiên cứu (năm 2015) .....22
Bảng 1. 2. Tình hình sản xuất nông nghiệp tại các xã thuộc khu vực nghiên cứu ........23
Bảng 1. 3. Diện tích nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2010-2015 (ha) .............................24
Bảng 1. 4. Sản lượng thuỷ sản khai thác phân theo các huyện (tấn/năm) .....................25
Bảng 1. 5. Tình hình nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản tại các xã thuộc khu vực nghiên
cứu (2015)......................................................................................................................25
Bảng 1. 6. Tình hình dân số tại các huyện thuộc khu vực nghiên cứu (năm 2016) ......27
Bảng 2. 1. Ước tính tổng lượng nước thải sinh hoạt tại các huyện, thành phố .............36
Bảng 2. 2. Vị trí các điểm lấy mẫu mùa mưa và mùa khô ............................................42
Bảng 2. 3. Bảng quy định các giá trị q i , BP i .................................................................53
Bảng 2. 4. Bảng quy định các giá trị Bp i và q i đối với DO % bão hòa ...............................54
Bảng 2. 5. Bảng kết quả đo nhiệt độ môi trường nước sông Trường Giang .................55
Bảng 2. 6. Bảng quy định các giá trị BP i và q i đối với thông số pH ............................55
Bảng 2. 7. Bảng đánh giá chất lượng nước theo giá trị WQI ........................................56
Bảng 2. 8. Kết quả tính toán WQI tại các vị trí quan trắc .............................................57
Bảng 2. 9. Bảng đánh giá chất lượng nước tại các vị trí theo mùa mưa và mùa khô ....60
Bảng 2. 10. Phân cấp đánh giá chất lượng nước (5 cấp) phụ thuộc n của ReWQI = I .63
Bảng 2. 11. Bảng kết quả tính toán REWQI cho từng đoạn sông từ các thông số môi
trường nước sông Trường Giang ...................................................................................64
Bảng 2. 12. Bảng so sánh phương pháp sử dụng chỉ số WQI và REWQI ....................65
Bảng 2. 13. Hệ số phát sinh chất thải khi không xử lý ..................................................67
Bảng 2. 14. Hệ số phát sinh chất thải khi đã xử lý ........................................................68
Bảng 2. 15. Dân số trung bình thành thị phân theo huyện, thành phố trong .................68
Bảng 2. 16. Tải lượng chất ô nhiễm tiềm năng do nước thải sinh hoạt khi chưa xử lý
Hình 2. 6. Giá trị pH nguồn nước sông Trường Giang .................................................43
Hình 2. 7. Hàm lượng TSS trong nguồn nước sông Trường Giang ..............................43
Hình 2. 8. Hàm lượng DO trong nguồn nước sông Trường Giang ...............................44
Hình 2. 9. Hàm lượng BOD 5 trong nguồn nước sông Trường Giang ...........................45
Hình 2. 10. Hàm lượng COD trong nguồn nước sông Trường Giang ..........................46
Hình 2. 11. Hàm lượng Amoni trong nguồn nước sông Trường Giang ........................47
Hình 2. 12. Hàm lượng Nitrit trong nguồn nước sông Trường Giang ..........................48
Hình 2. 13. Hàm lượng Nitrat trong nguồn nước sông Trường Giang..........................49
Hình 2. 14. Hàm lượng Asen trong nguồn nước sông Trường Giang ...........................50
Hình 2. 15. Hàm lượng chất hoạt động bề mặt trong nguồn nước sông Trường Giang51
Hình 2. 16. Quá trình đánh giá chi tiết nguồn nước tiếp nhận nước thải ......................76
Hình 3. 1. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt khu vực sông Trường Giang ....82
Hình 3. 2. Sơ đồ hệ thống lọc sinh học tuần hoàn .........................................................84
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTNMT
CLN
CN-XD
DT
ĐTM
KDL
KT-XH
HĐND
NN&PTNT
NT-TS
ppb
ppm
với biển bởi cồn cát rộng lớn, phía Bắc nhập với hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu
Bồn rồi đổ ra biển qua cửa Đại (Hội An), phía Nam nhập với hạ lưu sông Tam Kỳ rồi
đổ ra biển qua cửa Lở và cửa An Hòa. Nguồn nước của sông Trường Giang được thu
nhận từ hai hệ thống sông này và từ nguồn thủy triều lên xuống ở các cửa sông [18].
Hiện nay, do sức ép gia tăng dân số và phát triển kinh tế đã ảnh hưởng quá mức đến
sông Trường Giang. Hàng chục năm gần đây, người dân tự ý lấn chiếm lòng sông làm
nơi nuôi trồng thủy sản và xây dựng các công trình trên sông như cầu, đăng, đáy...
không theo quy hoạch và không đảm bảo các thông số kỹ thuật. Hoạt động này đã gây
bồi lắng lòng sông hoặc thu hẹp dòng chảy làm sông Trường Giang mất đi sự nguyên
trạng. Các hoạt động xả thải của cư dân hai bên bờ sông, hoạt động khai thác, sử dụng
tài nguyên, hoạt động sản xuất kinh doanh đã và đang gây ô nhiễm môi trường sông
Trường Giang và các vùng phụ cận. Thực trạng người dân hút cát chiếm dụng lòng
sông, be bờ thành ao nuôi trồng thủy sản đã diễn ra hơn 10 năm nay. Theo điều tra,
tổng diện tích ao nuôi tôm trên sông Trường Giang tại huyện Thăng Bình hơn 120 ha,
tại thành phố Tam Kỳ hiện có 244 ha. Thống kê trên địa bàn riêng xã Duy Nghĩa đã có
tới 26,3 ha diện tích nuôi tôm nằm trải dọc 5km trên sông Trường Giang. Trên địa bàn
xã Tam Tiến, diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 25,8 ha với gần 300 hộ thả nuôi
hàng ngàn ao tôm [8]. Nước thải từ các vùng nuôi trồng được xả trực tiếp vào sông mà
chưa có biện pháp kiểm soát. Đặc biệt, quá trình nuôi tôm còn thải ra chất diệt tạp
khiến hàng loạt thủy sản sống ven bờ biến mất gần như hoàn toàn. Một số ghe thuyền
từ nơi khác kéo về chân cầu Trường Giang để khai thác trùn biển khiến nguồn nước tại
khu vực này trở nên đục ngầu. Hơn nữa, các hoạt động chăn nuôi gia súc như chăn thả
vịt, trâu bò...với quy mô hộ gia đình và trang trại diễn ra tại một số điểm ven sông,
nguồn thức ăn cho chăn nuôi và chất thải được đưa trực tiếp vào sông, gây mùi hôi
thối làm ô nhiễm cảnh quan môi trường. Ngoài ra, xung quanh khu vực sông, một số
nhà máy sản xuất cũng xả nước thải hòa trộn vào nước sông hoặc thông qua nước
ngầm thấm xuống lưu vực sông, làm giảm chất lượng nước. Tại vị trí lấy mẫu của Khu
Tam Hiệp, vào mùa khô thông số TSS (chất rắn trong nước) vượt 2 lần; BOD 5 vượt
1
2
đủ và hệ thống đối với tài nguyên môi trường nước mặt khu vực nghiên cứu.
- Tiếp cận từ thực tiễn: Thông qua khảo sát, kiểm kê các nguồn phát thải và tình hình
quản lý chất lượng nước để đánh giá và đề xuất giải pháp bảo vệ nguồn nước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu
- Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng nước và
các nguồn thải chính tại khu vực nghiên cứu
- Kế thừa số liệu môi trường năm 2015 - 2016 từ đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu tổng
thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội
tỉnh Quảng Nam” và dự án “ Xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tỉnh Quảng Nam”.
4.2.2. Phương pháp thu mẫu ngoài hiện trường
Thu 30 mẫu/đợt x 2 đợt = 60 mẫu nước mặt (đại diện mùa mưa vào tháng 11 và
mùa khô vào tháng 5) theo TCVN 6663-6:2008 (ISO 5667-6:2005).
4.2.3. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Phân tích 60 mẫu nước trong phòng thí với các chỉ tiêu BOD 5 , COD, TSS, NNH 4 +, N-NO 2 -, N-NO 3 -, SO 4 2-, As, Pb, Hg (trừ pH, DO đo trực tiếp tại hiện trường).
TT
1
Bảng 1. Phương pháp phân tích chỉ tiêu môi trường nước
Phương pháp
Phương pháp
Thông số
TT
Thông số
áp dụng
áp dụng
6200:1996
TCVN 6625:2000
8
As
6626:2000
+
TCVN 5988:1995
9
Pb
6193:1996
-
TCVN 6494:1999
10
Hg
7877:2008
Dựa trên các cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn từ các kết quả của
chương 1 và chương 2, chương này đề xuất một số giải pháp cải thiện chất lượng nước
sông Trường Giang phù hợp với điều kiện thực tế, thực trạng quản lý và các vấn đề ô
nhiễm tại lưu vực sông.
Kết luận và kiến nghị
Đây là phần tổng hợp, tóm gọn các kết quả, nội dung luận văn đã thực hiện được và
chưa thực hiện được từ đó đưa ra kiến nghị.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM NƯỚC SÔNG VÀ GIỚI THIỆU
KHU VỰC SÔNG TRƯỜNG GIANG
1.1. Tổng quan về ô nhiễm nước sông và các nghiên cứu quản lý, bảo vệ chất
lượng nước sông
1.1.1. Tổng quan về ô nhiễm nước sông
1.1.1.1. Tổng quan về ô nhiễm nước sông trên thế giới
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học
của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại
với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan
truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp,
các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm [24].
Theo Hiến chương châu Âu về nước, ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối
với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp,
nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã [26].
Cụ thể hơn, hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hóa chất độc hại, các loại vi
khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải
công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải
sinh hoạt bình thường của con người hay hóa chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ…sử
trung tâm của những truyền thống xã hội và tôn giáo của đất nước Ấn Độ. Lưu vực sông
Hằng gần như tạo ra một vùng đất liền thứ ba của Ấn Độ và là một trong 12 vùng dân cư
trên thế giới phụ thuộc vào sông. Đây cũng là nơi sinh sống của hơn 140 loài cá, 90 loài
động vật lưỡng cư và loài cá heo sông Hằng.
Hiện sông Hằng được coi là một trong những con sông bị ô nhiễm nhất trên thế giới do
ảnh hưởng nặng nề của nền công nghiệp hóa chất, rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt
chưa qua xử lý, phong tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôi sông, rác thải trực tiếp từ
các bệnh viện do thiếu lò đốt… Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm trọng. Cùng
với sự mất đi khoảng 30-40% lượng nước do những đập nước đang làm cho sông Hằng
trở nên khô cạn và có nguy cơ biến mất. Các nghiên cứu cũng phát hiện ra các kim loại
độc trong nước sông khá cao như Hg (nồng độ từ 65-520ppb), Pb (10-800ppm), Cr (10200ppm) và Ni (10-130ppm). Hiện nay, Chính phủ Ấn Độ đang có kế hoạch cải tạo và
bảo vệ con sông này [23].
- Sông Volga
Kết quả nghiên cứu của Moiseenko và cs., 2011 [26] cho thấy, nước sông Volga bị ô
nhiễm kim loại nặng, hàm lượng nhiều kim loại nặng vượt mức cho phép của MPC (Tiêu
6
chuẩn thủy sản năm 1999) do nước thải ô nhiễm của các nhà máy, công nghiệp tại lưu vực
sông, hàm lượng Al dao động từ 31,7 – 820,5 µg/l, tại vùng hạ lưu vượt mức cho phép
2,74 lần, hàm lượng Sr dao động từ 101,1 – 521,3 µg/l, tại vùng hạ lưu vượt mức cho
phép 1,30 lần, hàm lượng Mn dao động từ 27,7 – 101,6 µg/l, vượt mức cho phép khoảng
2,77 – 10,16 lần, hàm lượng Cu dao động từ 1,70 – 2,21 µg/l, vượt mức cho phép 1,70 –
2,21 lần, hàm lượng V dao động từ 1,21 – 2,35 µg/l, vượt mức cho phép từ 1,21 -2,35
lần. Một số chất hữu cơ độc hại cũng vượt mức cho phép như Dioctyl cebacate tại vùng
thượng lưu khoảng 3,9 µg/l, vượt mức cho phép 3,9 lần, hàm lượng Dibutyl phthalate
khoảng 2,8 – 32,1µg/l, vượt mức cho phép 2,8 – 32,1 lần, hàm lượng Dioctyl phthalate
khoảng 1,1 – 18,6 µg/l, tại vùng thượng lưu và trung lưu vượt mức cho phép khoảng 1,1
– 1,9 lần, dẫn xuất của 1,3-dioxan tại vùng trung lưu là 27,6 µg/l, vượt mức cho phép
khoảng 2,8 lần, thuốc trừ sâu cơ clo tại vùng trung lưu là 0,01 µg/l, có dấu hiệu ô nhiễm.
cơ ung thư, sảy thai và dị tật bẩm sinh, dẫn đến suy giảm nòi giống. Tại một số địa
phương của Việt Nam, khi nghiên cứu các trường hợp ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ, đã
thấy 40-50% là do từ sử dụng nguồn nước ô nhiễm.
Hình 1. 1.Sông Đồng Nai
Hình 1. 2. Sông Thị Vải
Thống kê và đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên môi trường trung bình mỗi năm ở
Việt nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém và gần
20.000 trường hợp mắc bệnh ung thư mới phát hiện, mà một trong những nguyên nhân
chính là sử dụng nguồn nước ô nhiễm [6].
Theo khảo sát của Trung tâm Quan trắc môi trường Quốc gia – Tổng cục Môi trường (Bộ
Tài nguyên và Môi trường) cho thấy hiện trạng môi trường nước mặt lục địa nhiều nơi bị
ô nhiễm nghiêm trọng. Miền Bắc tập trung đông dân cư (đặc biệt là Đồng bằng sông
Hồng) lượng nước thải đô thị lớn hầu hết của các thành phố đều chưa được xử lý và xả
trực tiếp vào các kênh mương và chảy thẳng ra sông. Ngoài ra một lượng lớn nước thải
công nghiệp, làng nghề cũng là áp lực lớn đối với môi trường nước. Sông Hồng tiếp nhận
một lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt không nhỏ từ thượng nguồn Trung Quốc.
8
Hơn nữa, mỗi ngày, hàng trăm mét khối nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu,
giấy, dệt…khoảng 168.000 m3/ngày.đêm xả xuống hạ lưu đã làm nước sông Hồng ngày
càng xấu đi theo cả không gian và thời gian. Ở Hà Nội các sông như sông Tô Lịch, sông
Sét, sông Lừ có màu đen và hôi thối [12].
Ở vùng núi Đông Bắc có một số sông như sông Kỳ Cùng và các sông nhánh trong những
năm gần đây chất lượng nước giảm sút xuống loại A2, sông Hiến, sông Bằng Giang còn ở
mức B1. Sông Hồng qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc hầu hết các thông số vượt QCVN 08MT:2015-A1/BTNMT, một số địa điểm gần các nhà máy thậm chí xấp xỉ B1 (đoạn sông
Hồng từ công ty Supper Phốt Phát và hóa chất Lâm Thao đến khu công nghiệp phía Nam
m3/năm. Riêng tại Hà Nội, có 400 xí nghiệp và khoảng 11 ngàn cơ sở sản xuất tiểu thủ
công nghiệp thải hồi trung bình 20 triệu m3/năm. Hà Tây là nơi trọng điểm của làng nghề
chiếm 120 làng trên tổng số 286 làng nghề trong khu vực.
Hai hạ lưu có ô nhiễm trầm trọng nhất là sông Nhuệ và sông Tô Lịch với hàm lượng DO
gần như triệt tiêu, nghĩa là không còn điều kiện cho tôm cá sống được, vào mùa khô nhiều
đoạn sông trên hai sông này chỉ là những bãi bùn nằm trơ cùng trời đất.
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy nhiều đoạn bị ô nhiễm tới mức báo động, vào mùa khô giá trị các
thông số BOD5, COD, TSS…tại các điểm đo vượt QCVN 08-MT:2015 loại A1 nhiều lần.
Sông Nhuệ bị ô nhiễm nặng sau khi tiếp nhận nước từ sông Tô Lịch. Lưu vực sông Mã
riêng thông số độ đục rất cao, do lượng phù sa lớn và hiện tượng xói mòn từ thượng nguồn.
Miền Trung và Tây Nguyên có một số khu vực chất lượng nước giảm do việc đổi dòng
phục vụ các công trình thủy lợi (hiện tượng ô nhiễm trên sông Ba vào mùa khô) [1].
Nguồn ô nhiễm chính khu vực Đông Nam Bộ là nguồn ô nhiễm nước mặt chủ yếu do
nước thải công nghiệp và sinh hoạt. Lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn là vùng tập
trung phát triển công nghiệp lớn nhất và cũng là một vùng được đô thị hóa nhanh nhất
nước. Hàng năm sông ngòi trong lưu vực này tiếp nhận khoảng 40 triệu m3 nước thải công
nghiệp, không kể một số lượng không nhỏ của trên 30 ngàn cơ sở sản xuất hóa chất rải rác
trong thành phố Hồ Chí Minh. Nước thải sinh hoạt ước tính khoảng 360 triệu m3. Ngoài
những chất thải công nghiệp như hợp chất hữu cơ, kim loại độc hại như đồng, chì, sắt,
kẽm, thủy ngân, cadimi, mangan, các loại thuốc bảo vệ thực vật. Nơi đây còn xảy ra hiện
tượng nước sông bị axit hóa như đoạn sông từ cầu Bình Long đến Bến Than, nhiều khi độ
pH xuống đến 4,0 và trọng điểm là sông Rạch Tra, nơi tất cả nước rỉ từ các bãi rác thành
phố và hệ thống nhà máy dệt nhuộm ở khu Tham Lương đổ vào. Lưu vực này hiện đang
bị khai thác quá tải, nước sông hoàn toàn bị ô nhiễm và hệ sinh thái của vùng này bị tàn
phá kinh khủng, đây cũng là một số yếu tố sống còn cho sự phát triển của cả nước, chiếm
30% tổng sản lượng quốc dân [15].
10
Sông Đồng Nai khu vực thượng lưu sông chất lượng nước tương đối tốt nhưng khu vực
xã hội, các nguồn thải đổ trực tiếp vào sông mà không qua xử lý. Mức độ ô nhiễm của các
con sông thường tăng dần theo thời gian do lưu lượng thải ngày càng tăng và tốc độ phát
triển kinh tế, gia tăng dân số của khu vực. Những con sông gần khu công nghiệp nguồn
nước chủ yếu ô nhiễm các kim loại, các chất độc tính thải ra từ các quá trình sản xuất. Sự
ô nhiễm nguồn nước sông đã gây nên nhiều vấn đề trong đó nghiêm trọng là vấn đề sức
khỏe con người và đời sống các sinh vật thủy sinh.
1.1.2. Tổng quan các nghiên cứu về quản lý, bảo vệ chất lượng nước sông
Sau Hội nghị Dublin và Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janero (Braxin, 1992), quản lý tài
nguyên và môi trường nước theo lưu vực sông (LVS) đã được thực hiện ở nhiều nước trên
thế giới nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng
ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường của các LVS. Quản lý tài
nguyên và môi trường nước theo LVS thay cho phương thức quản lý theo địa giới hành
chính truyền thống là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước và
BVMT, điều phối giải quyết tốt các mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên giữa
các vùng, các quốc gia, giữa khu vực thượng, trung và hạ lưu [12].
- Sông Đa-Nuýp
Đa-nuýp là sông liên quốc gia có chiều dài 2.857 km, bắt nguồn từ khu vực rừng Đen của
nước Đức, chảy qua 10 quốc gia Trung và Đông Âu gồm: Đức, Áo, Slovakia, Hungary,
Croatia, Secbia và Môntênêgrô, Bungary, Rumani, Mônđôva, Ukraina rồi đổ vào biển
Đen thuộc lãnh thổ Rumani, diện tích lưu vực 817.000 km2, chiếm 8% diện tích châu Âu.
Hệ thống sông Đa-nuýp là nguồn cung cấp nước thiết yếu cho các hoạt động kinh tế, xã
hội của 80 triệu dân trong lưu vực. Tuy nhiên, dưới tác động của các hoạt động kinh tế,
chất lượng nước sông Đa-nuýp ngày càng suy giảm, điển hình là ô nhiễm vi sinh do nước
thải đô thị và nước mưa chảy tràn, ô nhiễm chất hữu cơ (tải lượng BOD cao, dinh dưỡng
cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng, nở hoa thủy vực) do nước thải đô thị và công nghiệp;
ô nhiễm thuốc trừ sâu và phân bón hóa học do canh tác nông nghiệp, ảnh hưởng tới trầm
tích đáy và nước ngầm.
Để từng bước khắc phục và phục hồi chất lượng nước sông Đa-nuýp, ngày 29/6/1994, tại
Sofia (Bungary), các nước thuộc LVS đã ký Hiệp ước hợp tác, bảo vệ và sử dụng bền
lực và tài lực của các quốc gia; tranh thủ được sự ủng hộ, trợ giúp phát triển của các tổ
chức quốc tế, các tổ chức tài chính.
- LVS Murray-Darling (Oxtraylia)
Hệ thống sông Murray - Darling dài 3.780 km, diện tích lưu vực rộng 1.057.000
km2 (bằng 1/7 diện tích Ôxtrâylia). Từ những năm 1980, Ôxtrâylia đã có những cải cách
13
như tăng cường quản lý tại các bang trên cơ sở quản lý tổng hợp LVS, gắn kết chặt chẽ
các lĩnh vực nước, đất, công trình thủy lợi, hạ tầng khác. Ngoài mục đích sử dụng nước
cho sinh hoạt gia đình, mọi hoạt động khai thác tài nguyên nước đều phải có giấy phép.
Việc duy trì dòng chảy môi trường được coi là chỉ tiêu quan trọng để ngăn xâm nhập mặn,
đảm bảo sự sống của các sinh vật và cuộc sống bình thường ở hạ lưu, pha loãng các chất
độc hại, ô nhiễm cục bộ và đảm bảo giao thông thủy. Để đáp ứng yêu cầu tưới nước, cấp
nước công nghiệp, sinh hoạt, duy trì dòng chảy sinh thái, đẩy mặn, vận tải thủy, trên các
dòng chính và nhánh của sông Murray-Darling đã làm nhiều công trình hồ điều tiết nước
với tổng dung tích các hồ là 5 tỷ m3 (1930), tăng lên 30 tỷ m3 (1970) và 34,7 tỷ m3 (2000)
[12]. Trải qua quá trình hoàn thiện dần, mô hình quản lý nước theo LVS ở Murray Darling được thế giới đánh giá là mô hình có hiệu quả cao.
Theo nguyên tắc chung về quản lý nhà nước về tài nguyên nước là phân cấp quyền hạn và
trách nhiệm cho bang, các hệ thống thủy nông được chuyển giao cho những người được
hưởng lợi quản lý. Hệ thống thủy nông Murray rộng tới 750.000 ha, khai thác nước sông
Murray và hai hồ điều tiết lớn là hồ Hume (chứa 3 tỷ m3 nước) và hồ Darthmouth. Ban
đầu hệ thống thủy nông này do công ty nhà nước quản lý, đầu năm 1995 được chuyển
giao cho người sử dụng nước quản lý dưới dạng Công ty trách nhiệm hữu hạn. Sau khi tổ
chức lại quản lý thuỷ nông, hiệu quả phục vụ sản xuất tăng lên rõ rệt. Trước đây, hàng
năm Nhà nước phải trợ cấp cho Công ty Quản lý thủy nông này 4 triệu AUD. Từ 1995 tổ
chức lại quản lý, Nhà nước không phải cấp bù nữa mà Công ty còn kinh doanh có lãi
được 20 triệu AUD. Nguồn tài chính này đã được sử dụng để nâng cấp cơ sở vật chất và
hệ điều hành quản lý công trình. Như vậy, tài nguyên nước LVS Murray - Darling có hạn,
nhưng do biện pháp quản lý sử dụng và phát triển đúng nên vẫn đảm bảo đáp ứng cho các
tại mỗi lưu vực sông.
- Giải pháp liên quan đến công nghệ và kỹ thuật:
Hạn chế các ngành nghề sản xuất sử dụng công nghệ không thân thiện với môi trường
nước, có khả năng gây ô nhiễm môi trường nước cao. Với các ngành nghề sản xuất hiện
tại, cần có đầu tư cụ thể, hợp lý về trang thiết bị. Nếu không thay mới được ngay thì có thể
cải tiến một số công đoạn của công nghệ sản xuất sạch.
- Biện pháp trong quản lý cũng như kiểm soát với môi trường:
Cần xây dựng các chế tài bắt buộc các cơ sở sản xuất kinh doanh phải xử lý nước thải trước
khi thải ra môi trường. Đầu tư trang thiết bị, kinh phí để phục vụ đo kiểm môi trường. Quan
trắc môi trường thường xuyên để phát hiện ô nhiễm, kịp thời có biện pháp xử lý.
Tăng cường công tác thanh, kiểm tra. Tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất các
cơ sở sản xuất kinh doanh, phát hiện kịp thời các cơ sở không thực hiện các quy định về
15
bảo vệ môi trường, vi phạm các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường,
đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, xử lý nghiêm các vi phạm quy định.
- Giải pháp về kinh tế, xã hội
Các quỹ về xử lý ô nhiễm môi trường nước (tại chỗ, khẩn cấp và lâu dài) để kịp thời xử lý,
ứng phó. Có thể gây quỹ từ các tổ chức hoặc cá nhân. Thường xuyên tổ chức các chương
trình nghiên cứu về môi trường nước để nắm được chính xác và cụ thể nhất tình trạng ô
nhiễm nguồn nước hiện tại và sau đó đưa ra các giải pháp cụ thể, hiệu quả trong việc giải
quyết các vấn đề liên quan đến xử lý nguồn nước ô nhiễm.
Bên cạnh đó là tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền tới người dân và các doanh nghiệp
về tác hại của việc làm ô nhiễm nguồn nước cũng như sự cấp thiết của việc phải chung tay
bảo vệ nguồn nước như thế nào.
Với các cơ sở kinh doanh, sản xuất đang xâm hại nguồn nước sinh hoạt của người dân
(gây ô nhiễm nguồn nước) cần phải có biện pháp để di dời cơ sở đó ra khỏi khu dân cứ
hoặc ít nhất là cũng phải có biện pháp cải thiện nguồn chất thải, nước thải từ các cơ sở này
(như: hệ thống xử lý nước, chất thải đạt tiêu chuẩn về kỹ thuật, nguồn nước sau khi xử lý).
sông này luôn đối mặt với hiện tượng xâm nhập mặn vào các tháng mùa cạn hàng năm.
Mặn xâm nhập sâu vào trong các vùng cửa sông làm ảnh hưởng đến quá trình lấy nước
ngọt phục vụ các ngành kinh tế, trước mắt cho sản xuất nông nghiệp. Xâm nhập mặn là
hiện tượng tự nhiên đối các vùng cửa sông nhưng nếu nắm được quy luật diễn biến theo
không gian và thời gian thì có thể chủ động kiểm soát quá trình lấy nước, tránh những
thiệt hại đáng tiếc khi lấy nước không đảm bảo yêu cầu chất lượng.
Khu vực nghiên cứu là sông Trường Giang, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam, kéo dài từ
ngã ba An Lạc (cách cửa Đại khoảng 7 km về phía Tây) đến vụng An Hòa (cách cửa Kỳ
Hà 7 km về phía Đông Bắc) với toạ độ địa lý: 15°29'32.66"N đến 16°5'53.12"N;
108°39'26.39"E đến 108°12'55.75"E.
17
Hình 1. 3. Bản đồ khu vực nghiên cứu
1.2.2. Điều kiện tự nhiên khu vực sông Trường Giang
1.2.2.1. Khí tượng, thủy văn
- Khí tượng:
Lượng mưa trung bình năm ở vùng nghiên cứu thuộc loại lớn, tổng lượng mưa năm
khoảng 2.000 – 3.000 mm. Lượng mưa trong 4 tháng mưa nhiều (tháng 9-12) chiếm đến
70 – 76% tổng lượng mưa năm. Ngoài ra, hằng năm khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng
trực tiếp khoảng 2 cơn bão, nhưng có năm không có cơn bão nào và có năm có đến 5 – 7
cơn. Trong bão thường có mưa lớn (trung bình khoảng 300 – 400 mm và lên đến 500 –
600 mm khi có không khí lạnh), kéo dài trong 3 – 4 ngày nên thường gây ra lũ lụt, nước
dâng rất nguy hiểm.
Mưa lũ vào mùa mưa mang nhiều chất thải từ các nguồn khác nhau hòa trộn vào nguồn
nước sông Trường Giang, làm nước sông không chỉ đục mà còn ô nhiễm các thành phần
mang đặc trưng của nguồn thải đó như các chất dinh dưỡng từ nước thải sinh hoạt, các kim
loại nặng từ một số khu công nghiệp phát triển xung quanh khu vực sông Trường Giang.
- Thủy văn: