Sở GD&ĐT Thanh Hóa
TàI LIệU
TậP HUấN Về PHƯƠNG PHáP, Kỹ THUậT
DạY HọC TíCH CựC- DạY HọC, KTĐG
THEO CHUẩN KT, KN TRONG CHƯƠNG TRìNH
GIáO DụC PHổ THÔNG
(Tóm tắt)
Thanh Hóa, tháng 9 năm 2010
TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT
DẠY HỌC TÍCH CỰC- DẠY HỌC, KTĐG THEO CHUẨN KT,KN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
(Tóm tắt)
A. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
1. Dạy học đặt và giải quyết vấn đề
1.1 Bản chất
Nét đặc trưng chủ yếu của dạy học phát triển và giải quyết vấn đề là sự lĩnh hội
tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh phát hiện vấn đề học tập Hóa học và
giải quyết các vấn đề đó. Sau khi giải quyết vấn đề, học sinh đã xây dựng được một khái
niệm, một tính chất của loại chất, chất cụ thể.
1.2. Quy trình
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong bộ môn hóa học cũng bao gồm các
bước sau đây;
a) phát hiện vấn đề
HS phát hiện tình huống có vấn đề (xây dựng bài toán nhận thức); Phát biểu và
nhận dạng vấn đề nảy sinh; Phát biểu vấn đề cần giải quyết.
Một số điều kiện nhằm đảm bảo tạo tình huống có vấn đề:
- Điều quan trọng nhất là HS phải vạch ra được những điều chưa biết, chỉ ra
được cái mới trong mối quan hệ với cái đã biết, với vốn cũ. Trong đó, điều chưa biết,
cái mới là yếu tố trung tâm của tình huống có vấn đề, sẽ được khám phá ra trong giai
đoạn giải quyết vấn đề (đạt giả thiết, lập kế hoạch giải và thực hiện kế hoạch giải đó).
- Tình huống có vấn đề phải kích thích, gây được hứng thú nhận thức đối với HS,
đề do GV nêu ra. HS có khả năng tự học và học tập tích cực thì mới thực hiện giải
quyết được vấn đề và rút ra kiến thức cần lĩnh hội.
1.4. Một số điểm cần lưu ý
Điều kiện thực hiện phương pháp này có hiệu quả khi:
- Có nội dung phù hợp.
- GV phải có trình độ và rất tích cực.
- HS tích cực và có năng lực.
Nên tổ chức thực hiện phương pháp này theo nội dung phù hợp và không nhất
thiết cần thực hiện ở mức cao nhất phù hợp với năng lực của HS.
Trong những bài nghiên cứu tính chất hóa học của các chất, GV có thể giúp HS
phát hiện và giải quyết vấn đề đặt ra một cách linh hoạt giúp phát triển năng lực giải
quyết vấn đề của HS. Thí du: Những vấn đề có thể xuất hiện khi nghiên cứu tính chất
hóa học của sắt: Sản phẩm tạo thành như thế nào (hóa trị của sắt la II hay III ?) khi sắt
tác dụng với phi kim(oxi, lưu huỳnh, clo), sắt tác dụng với dung dịch axit (H
2
SO
4
loãng), sắt tác dụng với dung dịch muối của kim loại hoạt động yếu hơn (Cu, Hg,
Ag…); Natri phản ứng mãnh liệt với nước, natri có phản ứng với rượu etylic không ?
Khi vận dụng dạy học nêu vấn đề trong dạy học hóa học, cần chú ý lựa chọn các
mức độ cho phù hợp với trình độ nhận thức của HS và nội dung cụ thể của mỗi bài học,
ví dụ như các mức độ dưới đây:
- GV nêu và giải quyết vấn đề ( thuyết trình hoặc làm thí nghiệm).
- GV nêu vấn đề và tổ chức cho HS tham gia giải quyết vấn đề.
- GV nêu vấn đề và gợi ý HS tìm cách giải quyết vấn đề.
- GVCung cấp thông tin cho HS, tạo tình huống để HS phát hiện vấn đề và giải
quyết vấn đề.
- HS tự phát hiện vấn đề, tự lực giải quyết và tự đánh giá.
3.5. Thí dụ minh họa
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề ở THCS có thể vận dụng ở mức độ đơn
Kết luận: Clo phản ứng với dung dịch NaOH tạo thành
dung dịch 2 muối.
2. Phương pháp dạy học hợp tác
2.1 Bản chất
GV tổ chức cho HS cùng nhau thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời
gian nhất định: HS làm việc cá nhân, làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác
cùng nhau trong nhóm nhỏ có tổ chức.
2.2 Quy trình thực hiện
Các bước chung của việc tổ chức học tập hợp tác thường như sau:
Bước 1: Phân công nhóm học tập: nhóm, nhóm trưởng, thư ký và các thành viên.
Bước 2: Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm HS cụ thể hoặc nhiệm vụ đồng loạt.
Bước 3: HS tự triển khai hoạt động nhóm.
Nhóm trưởng điều khiển hoạt động nhóm: Hoạt động cá nhân, chia sẻ kinh
nghiệm và thảo luận, thống nhất kết quả chung của nhóm. Thư ký ghi kết quả.
Bước 4: Đại diện nhóm báo cáo kết quả. Các thành viên lắng nghe, nhận xét, bổ
sung và hoàn thiện.
Bước 5: GV nhân xét đánh giá và chốt lại kiến thức cần lĩnh hội.
2.3. Ưu, nhược điểm của phương pháp
Thực hiện hợp tác theo nhóm nhỏ giúp hình thành vá phát triển năng lực tổ chức,
năng lực hợp tác của HS trong hoạt động xã hội.
HS thay nhau làm nhóm trưởng giúp cho hình thành năng lực quản lý lãnh đạo
của người lao động.
Tuy nhiên việc học tập hợp tác dễ gây ỷ lại cho HS kém, lười học vì đã có một số
HS giỏi làm việc và báo cáo kết quả.
2.4. Một số điểm cần lưu ý
Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học hóa học được thực hiện khi HS
cần tự lực để giải quyết một nhiệm vụ học tập trọng tâm đòi hỏi có sự hợp tác làm việc
của một nhóm HS. Thí dụ:
- Nhóm HS nghiên cứu thí nghiệm để rút ra kết luận về tính chất của chất
- Nghiên cứu thảo luận để tìm ra lời giải, một nhận xét, một kết luận về tính
Hoạt động của HS có thể là
Các thành viên Nhiệm vụ
Nhóm trưởng
Phân công, điều khiển hoạt động của mỗi nhóm thành viên, mỗi
cặp để thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm là nghiên cứu tác
dụng của H
2
SO
4
với Bazơ tan và Bazơ không tan.
Thư ký Ghi chép kết quả báo cáo của các thành viên
Các thành viên
Quan sát trạng thái, màu sắc của dung dịch H
2
SO
4
Cu (OH)
2
, dung dịchNaOH có phenolphtalein
Thành viên 1
TN1: Nhỏ từ từ dung dịch H
2
SO
4
váo ống nghiệm đựng Cu (OH)
2
cho đến dư.
Thành viên 3
TN2: Nhỏ từ từ dung dịch H
học theo hợp đồng. Điều quan trọng nhất là học theo dự án phải dần đợc lồng ghép
trong chơng trình giáo dục.
Hình thức:
Theo cách dạy thông thường, ccs bài học theo chủ đề thường được tổ chức dạy
học theo các môn học riêng lẻ. Ví dụ về Mùa xuân – một chủ đề được đề cập trong một
số môn học. Học sinh sẽ phải đọc và viết về Mùa xuân, Vẽ tranh, Hát các bài hát về
Mùa xuân (theo yêu cầu của các môn học). Chủ đề này chỉ là cầu nối giữa các môn học
nhng không vượt quá giới hạn môn học. Học sinh sẽ hoạt động trong giới hạn và phạm
vi của chủ đề trong môn học. Phương pháp này hạn chế sự tham gia, mức độ tham gia
có thể giảm nếu học sinh nhận thấy các môn học đều có chung chủ đề mà không có sự
liên hệ gắn kết với nhau và với thực tế.
Nhưng mọi việc sẽ khác khi triển khai học theo dự án bởi ý thức khàm phá và
tìm hiểu vấn đề thực tế sẽ là động lực thu hút sự tham gia của học sinh. Động lực khám
phá chính là chìa khoá. Chủ điểm không chỉ đợc nhìn nhận từ nhiều góc độ môn học
khác nhau, mà còn từ chính sự quan tâm của học sinh. Kết quả là các môn học khác
nhau sẽ cùng tổng hòa làm một. Ví dụ, một mặt học sinh phải tìm hiểu về khía cạnh
không gian, mặt khác các em cần hiểu thêm về khía cạnh lịch sử hoặc thậm chí tâm lí
học. Việc liên kết nhiều môn học là một đặc trưng của học theo dự án.
Học theo dự án chỉ thể hiện đợc đúng ý nghĩa của nó khi quan tâm thực sự của
học sinh đợc tính đến. Điều này không có nghĩa là giáo viên không thể đa ra chủ đề dự
án của mình. Dựa trên việc quan sát học sinh hoặc kinh nghiệm của mình, giáo viên có
thể gợi ý các chủ đề phù hợp. Giáo viên phải thường xuyên kiểm tra liệu các em có thực
sự hứng thú với các chủ đề không, và các chủ đề phải khơi gợi được sự thích thú cho
các em.
3.2.Các bước học theo dự án.
*Lựa chọn chủ để.
*Lập kế hoạch
*Thu thập thông tin
*Xử lí thông tin
*Trình bày kết quả
Khi áp dụng dạy học theo dự án, ta có thể thấy những ưu điểm nổi bật như:
-Gắn lý thuyết với thực tiễn.
-Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học
-Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm, sáng tạo
-Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp, mang tính tích hợp.
-Phát triển năng lực cộng tác làm việc và kĩ năng giao tiếp.
-Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn
3.7.Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án.
Như giới thiệu ở trên thực hiện dự án gồm 6 bước, lựa chọn chủ đề, lập kế hoạch,
thu thập thông tin. Xử lí thông tin, Báo cáo kết quả, Đánh giá. Để thuận lợi trong việc tổ
chức các hoạt động dạy học 6 bước được gói lại thành ba bước chính:
4.Dạy học vi mô
4.1.Thế nào là dạy học vi mô?
Dạy học vi mô (thuật ngữ tiếng Anh là Micro-teaching) được khởi xướng từ tr-
ường Đại học Stanford (Hoa Kì) vào năm 1963 với mục đích là để bồi dưỡng giáo viên
mới vào nghề một cách cấp tốc và hiệu quả hơn so với cách đào tạo truyền thống.
Dạy học vi mô thực chất là rèn luyện kĩ năng sư phạm. Thay vì sinh viên phải
thực hành dạy học trên một lớp học bình thường đông học sinh với nhiều hoạt động và
sử dụng nhiều thao tác, kĩ năng phức tạp của phương pháp đào tạo truyền thống, dạy
học vi mô cho phép sinh viên đợc thực hành tong kĩ năng riêng lẽ trong một bài học
ngắn (trích đoạn bài học), trong một lớp học mini (vi mô), với sự quan sát ghi chép và
đóng góp ý kiến của các sinh viên khác trong nhóm. Sau khi rèn luyện các kĩ năng một
cách thuần thục, sinh viên có đủ năng lực, tự tin, làm chủ các hoạt động dạy học, lúc
này sinh viên sẽ thực hành dạy trên một lớp học bình thờng. Đó là sự khách biệt giữa
đào tạo giáo viên theo phương pháp truyền thống và dạy học vi mô.
Dạy học vi mô sử dụng có hiệu quả trong đào tạo nghề. Đối với các truyền sư
phạm, mục đích của dạy học vi mô (diễn đạt bằng thuật ngữ năng lực) cho phép sinh
viên làm chủ một cách dần dần việc quản lý các tình huống dạy học qua việc hình thành
các kĩ năng cơ sở cần thiết, tăng cường năng lực tự đánh giá qua việc nhìn nhận lại quá
trình rèn kĩ năng sư phạm để từ đó có những điều chỉnh kịp thời.
nhấn mạnh và củng có, các mặt chưa thành công một phần đợc thảo
luận và ghi nhận
5.Sự tiến triển dần
trong học tập
Giúp cho sinh viên hình thành và phát triển năng lực s phạm một
cách tuần tự, vững chắc.
6.Sự chuyển giao Dạy học vi mô cho phép sinh viên hình thành những kĩ năng sư
phạm hiệu quả so với cách đào tạo truyền thống
7.Học tập cá thể hóa Dạy học vi mô đáp ứng với khả năng của từng cá nhân, cho phép
người học tự đánh giá, tự rèn luyện cho đến khi đạt được các kĩ
năng sư phạm.
4.2.Quy trình thực hiện dạy học vi mô
Tóm tắt quy trình dạy học vi mô
-Giáo viên hớng dẫn nhiệm vụ và chia nhóm
-Sinh viên soạn một bài học ngắn
-Sinh viên dạy bài học + ghi hình và tiếng
-Đánh giá bài học qua xem lại đĩa hình
-Soạn bài học đó lần thứ hai
-Dạy lại bài học đó + có ghi hình và tiếng
-Đánh giá bài học đó qua xem lại đĩa hình
Yêu cầu đối với giảng viên trong dạy học vi mô:
-Giao nhiệm vụ rõ ràng.
-Chia nhóm
-Quan sát các nhóm
-Yêu cầu các nhóm tổng hợp ý kiến
-Thu thập ý kiến
-Đa ra ý kiến phản hồi
Các giai đoạn trên có thể được lặp đi lặp lại nhiều lần, cho đến khi sinh viên/ học
viên làm chủ được kỹ năng, năng lực sư phạm cần rèn luyện.
4.3.Ưu điểm và hạn chế của dạy học vi mô
học với bất kì nguồn tài liệu gì)
- Dạy học tích cực là người “thầy” phải luôn tìm cách để đưa
người học vào trạng thái “học tích cực”
Câu 1: Để thực hiện phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề đạt hiệu quả
cao cần có những yếu tố gì?