Công nghệ sản xuất rượu vang nho 04 - Pdf 65

Công nghệ sản xuất rượu vang nho
LỜI NÓI ĐẦU
Rượu vang là một loại rượu nhẹ được lên men từ dịch ép trái cây, là một
thức uống có giá trị dinh dưỡng cao, hương vị thơm ngon và có lợi cho sức khỏe
con người khi dùng một cách điều độ.
Trên thế giới, nhất là ở các nước Châu Âu, rượu vang đã có từ lâu đời và
được dùng rất phổ biến. Nhưng ở nước ta, sản phẩm rượu vang vẫn chưa được quan
tâm nhiều, qui mô sản xuất chủ yếu dưới dạng thủ công, lên men tự nhiên chưa có
cơ sở khoa học cũng như phương pháp hợp lí dẫn đến năng suất cũng như chất
lượng sản phẩm chưa cao.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất rượu vang cũng
đã có sự phát triển mạnh mẽ. Trước đây trong quá trình sản xuất rượu vang truyền
thống, rượu nho được lên men tự nhiên do nhiều chúng nấm men có sẳn trên trái
nho. Ngày nay để sản phẩm ổn định và đạt chất lượng cao, đã có các nghiên cứu
được tiến hành nhằm phân lập và chọn những giống nấm men tối ưu. Đồng thời
chọn một quy trình sản xuất thích hợp để đêm lại chất lượng và hiệu quả cao trong
quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó nho là loại quả lí tưởng nhất để lên men chế biến rượu vang vì:
Nho chứa nhiều đường , khoảng 15 – 20%, đường lại ở dưới dạng dễ lên men, nhiều
muối khoáng nhất là K, P, Mg,Ca,S …. Thích hợp cho quá trình lên men dễ dàng,
tạo độ rượu cao, ức chế được hoạt động của các vi khuẩn có hại, rượu bảo quản
được lâu.
Trong đề tài tiểu luận này tôi xin tìm hiểu về công nghệ sản xuất rượu vang
nho như: thành phần - tính chất của nho, quy trình sản xuất rượu vang, và một số
thiết bị dùng trong quá trình sản xuất rượu vang…
Tuy đã nỗ lực để làm tốt và luôn được sự hướng dẫn nhiệt tình của Thầy
hướng dẫn, nhưng với kiến thức còn hạn chế, nên bài tiểu luận này chắc chắn sẽ còn
nhiều sai sót. Kính mong các Thầy, Cô và các bạn có thể thông cảm và góp ý cho
bài tiểu luận này tốt hơn
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 1
Công nghệ sản xuất rượu vang nho

vùng khác bây giờ gọi là Đức và ở Bồ Đào Nha. Lọai nho tốt nhất mà người Roman
đã chỉ ra đó là ở miền Nam nước Ý sản xuất các loại rượu vang như là Caecuban,
Massic và Falernum. Rượu vang tuyệt vời nhất của người La Mã cổ đại là Pompeii.
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 3
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
Sau ba thập kỷ, dưới thời của Elizabeth I đã uống hơn 40 triệu chai rượu
vang trong một năm bên cạnh đó còn có bia và rượu táo. Vào khoảng thế kỉ 17 và
18 có những người am hiểu thật sự về rượu vang cho rằng rượu vang không chỉ là
một loại thức uống đơn thuần mà có thể giúp nâng cao tuổi thọ. Họ đã bắt đầu xem
việc làm rượu vang như khoa học hơn là thuật thần bí. Arnaud de Pontiac tổng
thống của nước pháp (1660) và cũng là người chủ sở hữu Chateau Haut Brion và
cũng được thừa nhận rằng là người góp phần cải thiện chất lượng của rượu vang.
Việc giữ các loại rượu vang trong các chai thủy tinh đã được phát triển làm cho
rượu vang được lấp lánh hơn và việc sử dụng nút bần cũng được áp dụng. Dom
Pérignon đã có nghiên cứu trong việc pha chế các loại rượu vang và thực tế ông ta
đã cố gắng loại đi những bọt bong bóng có trong rượu vang, đây là sự thành công
không đáng kể tuy nhiên cũng đảm bảo rằng việc sử dụng chai thủy tinh cũng đảm
bảo độ an toàn cho rượu vang.
Ngành sản xuất rượu vang ở đã tiến triển nhanh suốt thế kỷ 19, khi các
phương pháp trồng nho và trữ rượu đã được cải thiện và việc sử dụng các nút bần
để bịt kín các chai và lọ cổ bẹt, cho phép vận chuyển một cách ổn định rượu vang đi
khắp thế giới. Những tên như Chianti, Barolo và Marsala đã trở nên nổi tiếng Âu
châu và xa hơn nữa. Cách đây một thế kỷ, một số rượu vang Ý đã được nhìn nhận là
một trong số những loại rượu vang tốt nhất: ngoài vang đỏ Piedmontese và Tuscan
từ những giống nho Nebbiolo và Sangiovese, còn các vang trắng, không sủi tăm và
sủi tăm, không ngọt hoặc ngọt, xứng đáng sự trân trọng của quốc tế. Qua suốt
những thời kỳ khó khăn do chiến tranh và suy thoái, Ý đã trở thành một trong
những nhà thầu cung ứng hàng đầu của thế giới về rượu vang giá rẻ, thường được
bán trong những bồn chứa có hình dáng và kích cỡ lạ lùng. Mặc dù cách làm ấy đã
sinh lợi cho một số người, người ta đã phụng sự quá ít cho hình ảnh rượu vang Ý ở

men.
1.2.4. Các chất đường:
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 5
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
Trái nho chứa 15 đến 25% glucose và fructose, là những đường phần lớn
được chuyển hóa thành alcohol trong quá trình lên men. Ở rượu vang không ngọt,
thường chỉ còn một vết đường sót (0,1%), còn rượu vang ngọt có thể chứa lượng
đường sót đến 10%. Vị ngọt của rượu vang không chỉ phát sinh từ các chất đường
mà còn từ alcohol và các chất khác.
1.2.5. Các muối khoáng (0.2 đến 0.4%):
Các muối được sinh ra từ các acid khoáng hoặc acid hữu cơ, thêm vị tươi
mát vào hương vị của rượu vang. Trong số này có potassium, sodium, magnesium,
chất vôi và sắt.
1.2.6. Các chất tạo hương vị và tạo màu (0.01 đến 0.5%):
Các phức chất phenol tạo màu cho rượu và những khác biệt trong hương vị
giữa các vang đỏ và vang trắng. Vỏ trái nho chứa các phenol đa phân tử, dưới dạng
các anthocyanin và tannin, mà các sắc tố của chúng cấp màu cho vang đỏ. Các vang
trắng có được một chút màu từ vỏ trái nho, và từ gỗ trong quá trình trữ.
1.2.7. Các chất tạo mùi:
Là những vết của những phức chất hóa học thay đổi, có tính chất bay hơi, tạo
ra những mùi nào đó trong rượu vang. Những chất này gồm có các alcohol, các
aldehyde, các ester, các acid và các ketone.
1.2.8. Các sulfites:
Là những chất dẫn xuất từ lưu huỳnh để bảo vệ trái nho và sát trùng cùng
bảo tồn rượu vang. Hàm lượng sulfites từ 10 đến 200 phần triệu (mức giới hạn cạnh
trên đối với rượu vang Ý), được đo với cả sulfur dioxide cố định kết hợp với những
chất khác, và sulfur dioxide tự do dưới dạng gaz.
1.3. Phân loại rượu vang:
1.3.1. Phân loại theo màu:
1.3.1.1. Rượu vang đỏ: được lên men từ các loại nho vỏ màu sẫm, các chất

khai vị là loại fortified wine, nghĩa là loại vang có nồng độ cao hơn vang thường
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 8
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
một chút và được uống ở nhiệt độ thường. Hai loại fortified chính là Sherry và
Vermouth.
1.3.2.2. Vang dùng trong bữa ăn:
Rượu vang dùng trong bữa ăn có hai loại: vang đỏ và vang trắng. Nhiều
người còn lựa chọn vang tùy theo thức ăn, Tuy nhiên đó cũng là sự lựa chọn và ý
thích của từng người. Một người thưởng thức rượu cũng tùy theo yếu tố tâm lý, thời
gian, không gian và đối tượng mà thay đổi khẩu vị của mình, không nhất thiết phải
theo những quy tắc câu nệ về rượu và các món ăn.
Vang đỏ : gồm có Red Burgundy và Red Bordeaux
Vang trắng gồm có White Burgundies và White Bordaux.
1.3.2.3. Vang dùng sau bữa ăn:
Dân Âu Châu thường dùng các loại vang sau bữa ăn nhiều hơn người Mỹ.
Đa số các loại vang này được dùng với trái cây, pho-mát hay các loại hột. Các loại
vang dùng sau bữa ăn nổi tiếng là của Portugal và Spain.
1.4. Mô tả thực vật - Thành phần và tính chất của nho:
1.4.1. Mô tả thực vật:
1.4.1.1. Thân:
Thân cây nho thuộc dạng thân thảo và thân gỗ. Cây nho được mọc từ hom
cắt ra từ thân, cành hoặc mọc từ gốc ghép. Cây nho cũng có thể mọc từ hạt, nhưng
sức sống kém, thường chỉ được sử dụng làm vật liệu lai tạo giống.
Tua cuống được mọc ra từ thân, cành khi còn non, ở những vị trí đối diện
với lá. Tua cuốn thường phân nhánh và quấn chặt vào giá để giữ ngọn được vững
chắc. Trong quá trình sản xuất, người trồng nho thường nhặt hết tua cuốn để chất
dinh dưỡng tập trung nuôi cây.
1.4.1.2. Lá:
Gồm phiến lá, cuống và một cặp lá kèm. Lá nho có hình tim, xung quanh lá
có nhiều răng cưa.

- Khoáng : 0,1 – 0,5%
- Vitamin : C, B1, B2, PP
- Các hợp chất màu: màu chính là anthocyanin.
- Các hợp chất thơm và một số hợp chất khác.
- Phần vỏ quả nho có hợp chất: tanin và dầu.
- Trong hạt nho có hợp chất: tanin, phlobaphene, lecithin, vani và dầu béo.
- Lá nho có chứa: đường, quercetine, carotin, inosite, hợp chất tanin,
betain, axit tartaric, axit ascorbic, axit protocatechine, khoáng gồm kali,
natri, sắt ...
 Nho là loại quả lí tưởng nhất để lên men chế biến rượu vang vì:
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 11
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
Nho chứa nhiều đường , khoảng 15 – 20%, đường lại ở dưới dạng dễ lên
men, nhiều muối khoáng nhất là K, P, Mg,Ca,S …. Thích hợp cho quá trình lên men
dễ dàng, tạo độ rượu cao, ức chế được hoạt động của các vi khuẩn có hại, rượu bảo
quản được lâu.
Chất lượng rượu nho tốt hơn các loại vang quả khác vì có hương vị đậm đà,
hài hòa giữa vị ngọt với vị chua của axit, vị chát của tanin, lại thêm các vị phong
phú khác của glixerin, axit amin, muối khoáng. Màu sắc rượu nho hấp dẫn nhờ có
các chất tạo màu anto- xian, tanin v.v….
Sản lượng quả nho trên đơn vị diện tích cao và hiệu suất trích ly dịch quả lớn
nên cung ứng dồi dào nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất rượu vang
Thành phần (trong 100g nho) Khối lượng (g)
Glucid 16,0
Protit 0,60
Lipit 0,60
Nước 81,0
Sợi thực phẩm 0,7
Bảng 1.1: thành phần dinh dưỡng trong 100g nho
1.5. Kỹ thuật trồng và chế độ chăm sóc nho:

Không dùng dây thép vì sẽ thắt lấy tay, cản trở lưu thông của nhựa. Khi tay đã mọc
dài 1 - 1,2 m lại bấm ngọn để lại trên mỗi tay một số cành cấp 2 gọi là cành quả.
Cành quả cũng buộc vào dây thép, tránh gió lay, làm rách lá rụng mắt và không cho
đè lên nhau.
Người ta thường trồng vào cuối mùa mưa tháng 12 - 1. Một năm sau tay và
cành quả đã hóa gỗ, màu nâu, mắt đã nổi rõ, đại bộ phận lá đã chín thì người ta cắt
để cho ra trái. Cắt hết cành lá đã có, chỉ để lại các bộ phận sau đây :
- Cành quả để hình thành trái và gỗ mới.
- Mầm dự trữ ở chân cành quả để thay thế các cành này vụ sau.
- Nếu gốc nho đã già, để lại một số cành gần thân để thay cho những tay đã
quá già.
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 13
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
Từ khi cắt đến khi trái chín, giống sớm như Cardinal cần khoảng 90 ngày.
Giống muộn như Ribier cần 120 ngày. Sau khi thu hoạch trái xong, phải để một thời
gian 30 - 40 ngày cho cây nho nghỉ, tích trữ chất dinh dưỡng. Hết thời kỳ ngủ nghỉ
30 - 40 ngày này ngọn và cành nách xanh lại, rễ cái ngả màu hồng, rễ con bắt đầu
phát triển dài 1 - 2 cm, lúc này lại có thể cắt ra trái, hoàn thành chu kỳ 1 vụ nho.
Như vậy một vụ nho tối thiểu phải 4 tháng, và một năm nhiều lắm cũng chỉ có thể
thu hoạch 3 vụ, chỉ có giống Cardinal thỏa mãn được điều kiện này.
Có 3 vụ cắt ra trái hiện nay là:
- Đông xuân cắt tháng 12 - 1
- Xuân hè cắt tháng 4 - 5
- Thu đông cắt tháng 9 - 10, vụ cuối cùng này cho năng suất thấp nhất vì
tháng 9 - 10 - 11 - 12 là những tháng mưa nhiều nhất ở Ninh Thuận.
1.5.2. Chăm sóc:
Xới xáo: dưới tán giàn nho thường ít cỏ, mặt đất không phơi ra nắng, ít bị
mất nước, đóng váng. Tuy nhiên điều tra ở Nha Hố cho thấy 70% các người trồng
nho xới đất mỗi vụ một lần để phá bỏ một phần bộ rễ cũ, tái tạo bộ rễ mới kết hợp
bón phân, trộn đều vào đất.

berlandieri, V. rupestris, V. longii, V. rifaria… Nhưng chỉ có loài V. vinifera và V.
labrusca là được trồng trọt phổ biến, còn các loài khác thường được dùng làm vật
liệu lai tạo giống.
1.6.1.1. Loài V. vinifera:
Hầu hết những giống nho đang được trồng trên thế giới đều thuộc loài này.
Những giống nho thuộc loài này có chất lượng tốt, độ đường cao. Đặc điểm để phân
biệt với những giống nho thuộc loài V. labrusca là vỏ quả dày, dính chặt với thịt
quả, thịt quả cứng và ngọt đều từ ngoài vào trong. Khả năng kháng bệnh của loài
này kém hơn loài V. labrusca.
1.6.1.2. Loài V. labrusca:
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 15
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
Những giống nho thuộc loài V. labrusca chỉ chiếm một phần nhỏ diện tích
trồng nho tên thế giới. Đặc điểm của loài này và nhưng con lai của nó có vỏ mỏng
và dễ bóc khỏi phần thịt quả. Thịt quả thường mềm, ngọt ở phía ngoài và hơi chua ở
phần bên trong, giáp với hạt. Những giống nho thuộc loài này chịu được điều kiện
ẩm ướt và kháng bệnh mốc sương, phấn trắng tốt. Cây dễ cho hoa quả.
1.6.2. Phân loại theo công dụng:
1.6.2.1. Nho ăn tươi:
Có màu sắc bề ngoài quả, mùi vị hấp dẫn, vận chuyển đi xa không bị dập nát,
thịt quả cứng, vỏ quả dai, cuống quả liên kết chặt với quả và quả giữ được chất
lượng tốt sau khi thu hoạch.
Các giống nho ăn tươi: Muscat Hamburg, Perlette, Thompson Seedless,
Tokay, Concord, Emperior, Black Queen, Cardinal, NH.01-48, Ribier, …
1.6.2.2. Nho khô:
Có cấu trúc quả mềm, không hạt, hàm lượng đường cao, hương vị dễ chịu và
ít bị dính khi bảo quản sản phẩm. Dùng vào mục đích này thường là các giống
không hạt như Thompson Seedless, Black Corinth, Seedless sultana, Red Corinth,
Muscat of Alexandra …
1.6.2.3. Nho rượu:

Làm cho lá ngọn của nho bị cong queo. Nhện phá hoại chủ yếu những phần
non của cây như ngọn, lá non, chum hoa và quả non. Chúng làm rách nát các tế bào
biểu bì và hút nhựa cây làm cho lá dị hình, các chồi bên nứt sớm, cây bị suy dinh
dưỡng dẫn đến giảm năng suất. Khi quả còn non bị tấn công, vỏ quả bị cào xước
thành các vết thương sẽ gây nên nứt quả vào giai đoạn thành thục.
1.7.1.3. Nhện đỏ:
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 17
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
Nhện hại cây bằng cách hút dịch, làm suy yếu cây nho. Ngược lại với nhện
vàng, nhện đỏ phá hoại tập trung chủ yếu trên lá bánh tẻ và lá già. Triệu chứng dễ
nhìn thấy từ xa là giàn nho có màu như bụi bẩn, nhìn gần thấy trên mặt lá có nhiều
chấm nhỏ li ti di động.
1.7.1.4. Rệp sáp:
Người trồng nho thường gọi là rầy bông vì bên ngoài có phủ một lớp sáp
trắng xốp như bông. Rệp phá hầu hết các bộ phận của cây, chúng bám vào cành,
ngọn non, lá và chùm quả để hút nhựa cây. Chất thải của chúng là một lớp mật dính
trên lá cây, từ đó nấm mốc lên phủ đen làm giảm quang hợp của lá.
1.7.1.5. Rệp vảy:
Được nông dân gọi là rầy đu đủ, rệp có màu vàng nằm dưới lớp vảy cứng
như vảy ốc. Triệu chứng là cành cây phủ kín một lớp rệp làm cho cành khô và chết.
1.7.2. Các loại bệnh:
Có nhiều bệnh nho nhưng dưới đây chỉ nói tới một số bệnh gây hại nhiều và
phổ biến:
1.7.2.1. Bệnh mốc sương (downy mildew):
Do nấm Plasmopara viticola gây ra. Bệnh rất đáng sợ, gây hại nhiều nhất khi
trời ẩm, lặng gió, mát. Bệnh đầu tiên xuất hiện trên lá, sau hại cả tay leo, đọt, hoa và
chùm quả. Trên lá ở mặt trên trước tiên có những vết màu xanh - vàng, sau đó
chuyển sang đỏ nâu. Cùng lúc ở mặt dưới lá, tơ nấm phát triển thành một màng
mỏng, trắng trắng, những lông tơ (mốc sương). Ở Ninh Thuận bệnh nặng nhất vào
mùa mưa tháng 10, 11, 12, 1.

châu Á và Trung Mỹ, nếu không được phòng trừ thì cây nho bị tàn lụi.
Tác nhân gây bệnh do nhiều loài nấm, nhưng ở Việt Nam tác nhân gây bệnh
được xác định là nấm Kuehneola vitis gây ra. Nấm chủ yếu gây hại trên lá bánh tẻ
và lá già, chính vì thế mà thường thấy nấm xuất hiện vào cuối vụ.Trong các tháng
mưa nhiều ( tháng 9,10 & 11) nấm có thể làm tàn lụi giàn lá trước khi cắt cành.
Việc giảm diện tích quang hợp đã ảnh hưởng đến năng suất vụ tới. Để phòng trừ có
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 19
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
hiệu quả nên phun sớm ngay khi thấy có vết bệnh bằng một trong những loại thuốc
sau:
- Anvil 5 SC liều lượng 1.0 – 1.2 lít/ha;
- Score 250 ND, liều lượng 0.15 – 0.2 lít/ha;
- Viben C liều lượng 1.5 – 2.0 kg/ha.
1.7.2.4. Bệnh nấm cuống (Fungal disease stalked):
Bệnh do nấm Diplodia và một số nấm khác gây ra mà triệu chứng tương tự
nhau. Bệnh này đang là mối đe dọa đối với người trồng nho. Nấm tấn công ngay từ
khi bắt đầu nở hoa đến khi quả lớn (trắng trái), thậm chí đến gần ngày thu hoạch.
Nấm làm tắc mạch dẫn gây héo từng bộ phận hoặc cả chùm. Năng suất nho bị giảm
đi một cách đáng kể. Bệnh gây hại nặng vào các tháng mưa nhiều và những tháng
mùa khô trong điều kiện có sương nhiều. Nhiều giàn nho bị hư hại hoàn toàn sau
khi ra hoa do nấm cuống gây nên. Phòng trừ bằng một trong các loại thuốc sau:
- Bayfidan 250 EC 0.4 lít/ha.
- Curzate M 8.1 kg/ha.
- Topsin M 70 WP, liều lượng 0.5 – 0.7 kg/ha.
- Ridomil MZ 72 BHN, liều lượng 2 – 3 kg/ha.
Ngoài ra có thể phun CuSO
4
(phèn xanh) 0.05% – 0.1%. Lưu ý thuốc có thể
gây cháy lá, cần chú ý khi sử dụng.
1.7.3. Các hiện tượng thường gặp ở nho:

rách bề mặt vỏ quả nho.
Chế độ phân bón (dinh dưỡng) không cân đối, đặc biệt là bón thừa đạm hoặc
tưới nước không đảm bảo.
Bọ trĩ và nhện vàng là 2 đối tượng nguy hiểm. Bệnh gây vỡ quả chủ yếu là
phấn trắng (Uncinula neccator).
 Biện pháp xử lý:
Phòng trừ sâu bệnh hợp lý, kịp thời, nên phòng trừ sớm ngay từ khi quả còn
nhỏ là rất cần thiết. Đặc biệt chú ý bệnh phấn trắng (do nấm Uncinnula neccator),
SVTH: VŨ THỊ HOÀNG TIÊN 21
Công nghệ sản xuất rượu vang nho
bọ trĩ và nhện vàng. Hạn chế đến mức thấp nhất vết thương trên vỏ quả do các đối
tượng trên tấn công, gây hại vào giai đoạn còn non.
Cần cột cành, tỉa quả,… kịp thời nhằm tránh hiện tượng va chạm làm tổn
thương vỏ quả nho.
Cần bón cân đối dinh dưỡng, chú ý giai đoạn nho bắt đầu chín bói không nên
lợi dụng phân đạm.
Chế độ tưới nước phù hợp, tránh tình trạng để quá khô rồi mới tiến hành tưới
nước cho vườn nho, nhất là giai đoạn quả lớn.
Cần tỉa kịp thời các quả đã bị nứt, tránh sự lây lan.
Có thể dùng chất điều hòa sinh trưởng, phân qua lá để phun nhằm giảm tỷ lệ
nứt quả.Ví dụ, nho giống Cheema Sahebi phun N - 6 - benyl adenine 250 ppm, NA
50 ppm chống được sự nứt quả với kết quả rất tốt.
1.8. Thu hoạch và bảo quản nho:
1.8.1. Thu hoạch:
Thu hoạch là một khâu rất quan trọng.Vì nho là loại trái mọng nên phương
pháp thu hái không phù hợp có thể làm nho bị hư hỏng, bị thâm do ép chặt, bị va
đập (do bị rơi hoặc do vật khác đập vào), hoặc bị chấn động (do bao gói lỏng lẻo
trong quá trình vận chuyển). Do đó mà trong suốt quá trình thu hoạch nho, những
yếu tố như hình dạng bên ngoài của nho,độ chín, thời gian thu hoạch, cách bao gói,
vận chuyển, quan trọng là phải nhanh và đúng kỹ thuật để có thể hạn chế một cách

• Nho dùng để ăn tươi
• Nho dùng để xuất khẩu
• Nho dùng để chế biến thành các sản phẩm khác nhau: rượu vang nho, mức
nho, nước ép từ nho,…
Bao gói và vận chuyển nho: nho sau khi thu hoạch sẽ được xử lý và đem đi
đóng thùng, vận chuyển đến nơi tiêu thụ bằng nhiều phương tiện khác nhau.
1.8.2. Bảo quản bằng phương pháp hóa học:
1.8.2.1. Bảo quản bằng muối:
Phun dung dịch NaCl 0.6% trước khi thu hoạch khoảng 10-12 ngày nhằm
tăng thời gian bảo quản cho nho. Hoặc có thể phun dung dịch Nitrat canxi Ca(NO
3
)
2
10 ngày trước khi thu hoạch để giảm tổn thất về dinh dưỡng và hỏng thối.
1.8.2.2. Bảo quản bằng cách sử dụng sunfit hóa:
Sunfit hoá là phương pháp bảo quản quả bằng SO
2
hoặc H
2
SO
3
. Khí SO
2

H
2
SO
3
là một chất khử mạnh, có tác dụng diệt trùng mạnh, diệt các loại vi sinh vật,
nó có thể làm giảm hàm lượng oxy trong các tổ chức tế bào của nho. H

C thì nồng độ SO
2
là 0,05%.
- Ở t
o
= 30
0
- 40
0
C thì nồng độ SO
2
là 0,1 - 0,15%.
Ngoài ra hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào pH của môi trường tức là phụ
thuộc vào nồng độ ion H
+
:
- Ở môi trường pH = 7 thì nồng độ SO
2
là 0,5% vi sinh vật vẫn hoạt động
được.
- Ở môi trường pH= 3.5 thì nồng độ SO
2
là 0,03% - 0,05% đã khống chế
được vi sinh vật.
- Ở môi trường pH = 2,5 thì nồng độ SO
2
chỉ cần 0.01% – 0.03% là ức chế
được vi sinh vật.
SO
2

SO
2
.
 Khử sunfua:
Để khử khí sunfua ra khỏi thành phẩm, người ta có thể dùng nhiệt độ của hơi
nước để xử lý trực tiếp bằng cách cho bán thành phẩm vào nồi, đáy nồi có hệ thống
ống phun hơi nước, được nén ở áp suất 2-2.5 atm. Phương pháp này khử rất nhanh
và sạch nhưng có nhược điểm là do hơi nước phun trực tiếp vào quả nên làm cho
hàm lượng nước trong quả tăng lên và khi cô đặc thì tốn thời gian và có khi làm cho
phẩm chất thành phẩm bị giảm.
1.8.2.3. Bảo quản bằng cách sử dụng Ozon(O
3
):
Cơ chế: vi khuẩn là tế bào có nhân ở giữa và nước bao quanh, ngoài cùng là
lớp màng bảo vệ rất mỏng. Ở điều kiện bình thường, áp suất của khí quyển tác dụng
lên lớp màng bằng sức căng mặt ngoài của nước trong màng. Khi quanh tế bào có
nước ozon, tức mật độ môi trường lớn hơn trong tế bào, sự cân bằng bị phá vỡ.
Nước ozon sẽ tràn vào tế bào.Tế bào bị teo lại.Vi khuẩn bị tiêu diệt.
Sau ba ngày, kể từ lúc chảy từ máy tạo nước amonit, ozon trong đó sẽ biến
thành phân tử O
2
. Do đó nơi ở của vi khuẩn là vỏ trái cây hay phía trong vỏ trái cây
một chút chỉ bị cách ly với không khí, mà thực chất là với O
2
trong 3 ngày chứ
không bị độc hại. Chính sự cách ly này đã làm chậm quá trình tự chín của nho vì sự
"hô hấp" của nho bị giảm hẳn đi.
Làm chậm sự tự chín của nho tới mức thấp nhất bằng cách đảm bảo nhiệt độ
cân bằng giữa phần ruột của nho và môi trường. Độ ẩm của môi trường và trên mặt
vỏ nho. Quan trọng nhất là quả phải bị cách ly với không khí, tức là cách ly với oxy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status