SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TIẾT 46 LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG LỚP 10
Ở TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH
Người thực hiện:
Phạm Thị Thuỷ
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực:
Lịch sử
THANH HOÁ NĂM 2020
0
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề1.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thức cho học sinh, vừa góp phần không nhỏ vào việc bổ sung, đính chính hoàn
thiện lịch sử dân tộc. Đồng thời có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học
sinh ở trường phổ thông. Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mối quan hệ
biện chứng với nhau, nằm trong cặp phạm trù “cái chung và cái riêng”. Vì lịch
sử địa phương là bộ phận cấu thành của lịch sử dân tộc, bất kì một sự kiện, hiện
tượng lịch sử nào xãy ra đều mang tính chất địa phương, tùy theo phạm vi ảnh
hưởng lớn hay nhỏ. Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng việc dạy học lịch sử
địa phương cho học sinh phổ thông là một việc làm hết sức cần thiết. Để làm
được việc đó mỗi giáo viên chúng ta cần phải đầu tư, nghiên cứu nhiều hơn.
Bộ môn lịch sử địa phương được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông
cùng với lich sử dân tộc dưới nhiều hình thức dạy học, được thể hiện từ khá lâu
trong môn lịch sử. Tuy nhiên việc giảng dạy lịch sử địa phương chưa thể hiện
hết chức năng và nhiệm vụ của mình. Mỗi trường thể hiện bài giảng mỗi cách
khác nhau. Qua nhiều ý kiến thăm dò của đồng nghiệp trong các đợt bồi dưỡng
chuyên môn, tôi chưa thấy giáo viên nào thật sự thỏa mãn với tiết dạy lịch sử địa
phương của mình, cũng như việc học tập của học trò, tiết học chưa gây hứng
thú, học sinh còn thụ động, nhàm chán, ít tập trung. Đó là lí do tôi chọn đề tài
này.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Dạy lịch sử địa phương cho học sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm
cung cấp những kiến thức cơ bản về các danh nhân, các di tích lịch sử văn hóa,
anh hùng dân tộc của quê hương, qua đó giáo dục truyền thống, khơi dậy tình
yêu quê hương đất nước trong các em.
Xuất phát từ thực tiễn trên cùng với yêu cầu cấp thiết về đổi mới dạy học
Lịch sử, kết hợp những thử nghiệm trên lớp: 10A3,10A4 của trường THPT Lang
Chánh, bản thân tôi tôi đã không ngừng nghiên cứu tìm tòi, sáng tạo rút ra cho
mình một giải pháp, theo tôi đó là tối ưu nhất về dạy giờ lịch sử địa phương trên
lớp và đã đem lại kết quả thật sự.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Tác giả nghiên cứu các hoạt động tổ chức dạy học Tiết 46, Lịch sử địa
thế, nên việc thực hiện tiết học chưa thực sự đạt hiệu quả
Từ cơ sở thực tiển trên, để giúp cho các em học tập tốt tiết lịch sử địa
phương, bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng cần thiết, rèn luyện và phát triển năng
lực học tập, thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa lịch sử địa phương với lịch sử
dân tộc cũng như nét độc đáo, tính đặt thù của lịch sử địa phương. Qua nhiều
năm giảng dạy lịch sử ở THPT lớp 10. Bản thân tôi đã không ngừng nghiên cứu
tìm tòi, sưu tầm, học hỏi và dần xây dựng cho mình được một số tiết giảng dạy
lịch sử địa phương ở lớp 10. Chính việc làm đó đã đem lại được hiệu quả cao
trong tiết dạy, lôi cuốn được các em ham học bộ môn lịch sử, đặc biệt là lịch sử
địa phương.
2.2.Thực trạng vấn đề:
Đối với giáo viên:
Từ trước đến nay, đa số giáo viên chưa xác định đúng nhiệm vụ và vai trò
của bộ môn, hay do điều kiện dạy học, thiết bị còn hạn chế nên khi giảng dạy
hầu như giờ học chưa sôi nổi, học sinh chua có hứng thú học tập, giờ học nhàm
chán, nên hiệu quả giờ học chưa cao.
Theo tôi những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là: Giáo viên chưa
thực sự đầu tư cho giờ dạy, các giờ học lịch sử chua gây được hứng thú cho học
sinh, học sinh chua yêu thích bộ môn Lịch sử.Giáo viên và học sinh chưa bắt kịp
với sự đổi mới phương pháp dạy và học, thiết bị dạy học còn hạn chế.
Đối với học sinh:
3
Xuất phát từ thực tế bộ môn và quá trình giảng dạy trực tiếp ở lớp 10 của
mình tôi thấy cần tạo ra cho học sinh một không khí học tập sôi nổi, hứng thú
hơn trong khi dạy học môn Lịch sử. nhất là tiết học Lịch sử địa phương .Có như
vậy học sinh mới yêu thích bộ môn và sẽ nâng cao được chất lượng dạy học bộ
môn. Lịch sử địa phương không chỉ nhằm mục đích cung cấp kiến thức cho học
sinh mà còn giáo dục cho các em lòng yêu nước và niềm tự hào hơn về quê
03
7,3%
10A4
41
0
0%
15
37 % 21
52%
5
12%
2.3. Giải pháp thực hiện:
Để chuẩn bị cho tiết học lịch sử địa phương, GV có thể đặt trước vấn đề
cho học sinh về nhà chuẩn bị, nghiên cứu, tìm hiểu trước:
- Sưu tầm tranh ảnh về các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở địa
phương em có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Lam sơn?
- Lang Chánh có bao nhiêu xã, thị trấn, kể tên các con sông chảy qua địa
bàn huyện Lang Chánh?
- Tìm hiểu các ngành nghề truyền thống, các loại hình văn nghệ dân gian ở
địa phương em?
- Em sẽ làm gì để bảo vệ, giữ gìn những di tích lịch sử trên địa bàn Lang
Chánh?
4
GIÁO ÁN MINH HOẠ
Tiết 46: Lịch sử địa phương Thanh Hóa với cuộc KN Lam Sơn.
2.3.1. Phương pháp sử dụng tranh ảnh để gợi nhớ, liên tưởng cho học
sinh.
nghiệp của ông cha”, trở thành một hào trưởng lớn vùng Lam Sơn.
Đầu năm Bính Thân (1416) Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín nhất, cùng
tâm huyết và chí hướng, trong đó có Nguyễn Trãi, làm lễ thề kết nghĩa anh em,
nguyện sống chết “chung sức đồng lòng chống giữ địa phương để trong cõi được
ở yên".
Đó là hội thề Lũng Nhai lịch sử đặt cơ sở cho sự hình thành một tổ chức
lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và một bước chuẩn bị lực lượng tiến tới
phát động khởi nghĩa. Từ hội thề Lũng Nhai đến lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ
(1416 - 1418) có thể coi là giai đoạn chuẩn bị về tổ chức và lực lượng cho cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng và chủ trì.
6
- Ngày 7 tháng 2 năm 1418 (tức ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất). Lê Lợi
cùng toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn và tự xưng là Bình
Định Vương, truyền lệnh khắp nơi kêu gọi nhân dân cùng nổi dậy chống giặc
cứu nước. ......
- Cuộc khởi vừa dấy lên quân Minh lập tức tập trung lực lượng đàn áp.
Tổng binh Lý Bân phái Đô đốc Chu Quang điều quân từ thành Tây Đô lên vây
quét vùng Lam Sơn, buộc nghĩa quân phải rút lên xứ Mường Một (Thanh Hoá).
Quân Minh ráo riết đuổi theo, Lê Lợi phải rút lên núi Chí Linh. Ở đây nghĩa
quân rơi vào tình thế hiểm nghèo. Lê Lai đã cải trang làm Lê Lợi dẫn 500 quân
và 2 voi chiến tự xưng là “Chúa Lam Sơn” kéo ra anh dũng tập kích địch. Lê Lai
cùng toán cảm tử quân đã hy sinh quân Minh tưởng rằng đã giết được Lê Lợi
nên rút quân.
- Thời kỳ hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa là giai đoạn khó khăn nhất của
cuộc khởi nghĩa. Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài
ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị
quân Minh do các tướng như Lý Bân, Phương Chính chỉ huy đánh bại.
quân cảm tử giao chiến với giặc kịch liệt, khiến quân Minh phải mất khá nhiều
lực lượng. Sau một hồi, giặc vây càng đông, Lê Lai đuối sức bị bắt và bị giặc
phanh thây. Bấy giờ là vào ngày 29.4.1419. Giặc Minh tưởng rằng đã giết được
Lê Lợi, nên nới lỏng vòng vây, rút khỏi Lam Sơn về thành Tây Đô. Lê Lợi bấy
giờ mới thoát hiểm, bí mật gom quân trở về Lam Sơn gây dựng lại căn cứ địa.
Người anh hùng Lê Lai cùng đội quân cảm tử đã đem tính mạng của mình
để tiếp tục thắp lên một tia hy vọng cho dân tộc. Sự hy sinh đó đáng được muôn
8
đời sau trân trọng. Lê Lợi sau đó ngầm sai người tìm thi hài Lê Lai về Lam Sơn
mai táng. Về sau, Lê Lợi lên ngôi đã truy phong Lê Lai hàm Thiếu úy, liệt vào
hàng Nhất Đẳng Công Thần. Khi sắp mất, Lê Lợi còn căn dặn làm giỗ Lê Lai
trước ngày giỗ của mình như là một cách thể hiện lòng biết ơn với vị trung thần
đã quên mình cứu chúa, cũng là cứu cho cuộc khởi nghĩa không sớm bị tiêu diệt.
Ngoài những sự truy tặng của triều đình nhà Hậu Lê, Lê Lai còn được thờ phụng
rộng rãi trong dân gian. Các thế hệ người Việt vẫn mãi lưu truyền câu chuyện về
ông.
- Lê Lợi trở về căn cứ Lam Sơn, xây dựng lực lượng chiến đấu. Nghĩa quân
đã tập kích và đánh bại nhiều cuộc truy kích của địch, tiêu diệt hàng ngàn tên.
- Tháng 5 năm 1418 quân Minh nổ cuộc vây quét, khủng bố lớn, nghĩa
quân buộc phải rút lên núi Chí Linh lần thứ hai.
- Được sự ủng hộ của nhân dân, nghĩa quân ngày một mạnh. Cuối năm
1418 và liên tiếp năm 1419 đến cuối năm 1420 nghĩa quân liên tiếp đánh thắng
các cuộc vây quét của quân Minh. Đặc biệt, trong trận Sách Khôi nghĩa quân đã
tiêu diệt hàng ngàn tên địch, thu hàng trăm ngựa.
- Tháng 3 năm 1423, quân Minh do tổng binh Trần Trí chỉ huy từ Đông
- Quan đánh lên. Trước tình hình đó, Lê Lợi hạ lệnh rút lên núi Chí Linh
lần thứ ba.
- Ở đây nghĩa quân phải sống những ngày gian khổ. Trong hơn hai tháng
để sống sót.
Ngoài 3 hệ thống sông chính, trên địa bàn các xã của huyện Lang Chánh
còn có nhiều hệ thống khe, suối, thác dày đặc. Một trong những thác tiêu biểu
gắn với lịch sử là thác Ma Hao, gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi
Thác Ma Hao
Thác Ma Hao ( thác chó ngáp) ở làng Năng Cát xã Trí Nang, là ngọn nguồn
sông Cảy. Thác Ma Hao gắn với truyền thuyết về nghĩa quân và Lê Lợi “tương
10
truyền một lần, Lê Lợi cùng quân lính mang theo một con chó chạy từ đỉnh núi
Pù Rinh xuống, người và vật đã kiệt sức thì gặp một thác cao chảy xiết. Quân
giặc lại đuổi sát phía sau, nên Lê Lợi và quân lính phải mạo hiểm đầm mình
vượt thác qua bờ bên kia. Còn con chó do sức đã kiệt, suối lại rộng không thể
theo được chỉ đứng ngáp. Khi quân giặc đuổi đến, con chó liền quay lại cắn xé
đàn chó của giặc rồi nhảy xuống dòng nước xoáy. Quân giặc rút đi, Lê Lợi sai
quân lính tìm xác con chó quý và truyền lệnh chôn cất nó tử tế. Từ đó, thác có
tên theo tiếng người Thái là Ma Háo (chó ngáp) lâu dần người dân đọc chệch
đi là Ma Ha(Dư địa chí huyện Lang Chánh).
Đền thờ nghĩa quân Lê Lợi
2.3.3. Đóng góp của nhân dân Thanh Hoá trong cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn:
- Thanh Hoá là nơi xuất phát, căn cứ vững chắc của cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn. Đất Lam Sơn với rừng núi hiểm trở thuận lợi cho việc “công thủ” nhân dân
đoàn kết một lòng đảm bảo vững chắc cho nghĩa quân tồn tại và phát triển cùng
với núi rừng Lam Sơn đã đùm bọc, che chở, bảo vệ nuôi dưỡng cho nghĩa quân.
- Ngay từ những ngày đầu khởi nghĩa các huyện trong tỉnh đều có người
về tụ nghĩa: Lê Tông Kiều quê huyện Quảng Xương, Trịnh Khả quê huyện Vĩnh
Loại TB
Loại yếu
Số bài SL Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
10A3
41
2
4,9% 15
36,6% 23
56,1% 1
2,44%
10A4
41
0
0% 15
37% 21
52%
5
12%
Sau khi dạy thực nghiệm và đối chứng, tôi đã tiến hành kiểm tra 15 phút
bằng câu hỏi như sau:
Nêu những hiểu biết của em về một di tích lịch sử của huyện Lang Chánh
mà em biết liên quan đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn? Theo em chúng ta phải
làm gì để giữ gìn, bảo tồn những di tích lịch sử trên?
Tôi tiến hành chấm bài cả 2 lớp, kết quả thu được như sau:
19
46,3%
17
41,4%
0
0%
(TN)
10A4
41
1
2,44%
15
36,6%
23
56,1%
2
4,9%
(ĐC)
Với kết quả như trên tôi nhận thấy lịch sử địa phương cần thiết với học sinh
và phù hợp với phưong pháp dạy học mới theo hướng lấy học sinh làm trung
tâm như giai đoạn hiện nay.
12
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận:
Như vậy giảng dạy và đào tạo bộ môn lịch sử hiện nay ở trường phổ thông
là một trong những bộ môn có ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng rất cần được quan
tâm và chú trọng, tuy nhiên giáo viên phải biết tổ chức lớp học như thế nào để
thành cảm ơn
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 06 năm 2020
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Nguyễn Đình Bảy
Phạm Thị Thuỷ
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Lịch Sử 10. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
2. Sách giáo viên Lịch Sử 10 .Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
3. Sách giáo khoa Địa lí 9, Sách giáo khoa Địa lí 12. Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam.
4. Địa chí huyện Lang Chánh. Nhà xuất bản từ điển bách khoa
5. Tài liệu Lịch sử địa phương Thanh Hóa, của thầy Nguyễn văn Hồ
6. Tài liệu tập huấn Dạy họcLịch sử. Bộ Giáo dục và đào tạo – Vụ
Giáo dục phổ thông
7. Trang Web Giáo án điện tử, Thư viện Lịch sử, YouTube, tailieu.vn….
14