Tóm tắt luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam - Pdf 65

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN QUỐC HÙNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10

Đà Nẵng - 2018


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn KH: TS. LÊ DÂN

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Phúc Nguyên
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Như Liêm

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Quản lý kinh tế họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 23 tháng 2 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng




2
thừa nhận. Bên cạnh đó, còn có vai trò là công cụ quản lý kinh tế.
Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển hàng trăm năm trên thế giới,
thị trường KTĐL tại Việt Nam vẫn còn non trẻ, hệ thống luật pháp
chưa thực sự đầy đủ, trình độ và kinh nghiệm của KTV còn chưa cao
cũng như có sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty kiểm
toán bằng cách hạ giá phí kiểm toán dẫn đến việc các công ty kiểm
toán phải cắt giảm thời gian kiểm toán và các thủ tục kiểm toán, điều
này sẽ làm tăng rủi ro của hoạt động kiểm toán. Những vi phạm của
KTV và các công ty kiểm toán đã bị xử lý và đăng tải trên các
phương tiện thông tin đại chúng như vụ Công ty Cổ phần Bông Bạch
Tuyết (2008), vụ Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông (2011), hay gần
đây nhất UBCKNN đã có công văn gửi 9 công ty niêm yết và 5 công
ty chứng khoán về việc báo cáo tài chính của các công ty này được
Công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Thăng Long - T.D.K kiểm
toán là không hợp lệ, lần đầu tiên có Kiểm toán viên là Tổng giám
đốc của một công ty kiểm toán bị đình chỉ tư các kiểm toán viên
được chấp thuận kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc
lĩnh vực chứng khoán và hàng loạt công ty KTĐL đã bị Bộ Tài chính
nêu tên cảnh báo vì không đạt điều kiện hoạt động dịch vụ kiểm toán
theo quy định của Luật.
Những sai phạm của Kiểm toán viên hay Công ty Kiểm toán có
thể gây những ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nhà đầu tư, cổ đông
hay rộng hơn là thị trường chứng khoán. Một phần nguyên nhân do
việc quản lý của nhà nước về hoạt động dịch vụ kiểm toán độc lập
trên cả nước còn nhiều hạn chế.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi đã thực hiện
nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động kiểm toán độc lập

thi chính sách mà chỉ đi sâu vào góc độ DNKT.


4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
ĐỘC LẬP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT
ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
1.1.1. Khái niệm kiểm toán, kiểm toán độc lập
1.1.2. Đặc trƣng của hoạt động toán độc lập
a. Mục tiêu của kiểm toán độc lập:
b. Nguyên tắc hoạt động:
c. Loại hình doanh nghiệp
d. Phạm vi hoạt động
1.1.3. Quản lý nhà nƣớc về hoạt động kiểm toán độc lập
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động KTĐL là việc Nhà nước sử
dụng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và thông
qua bộ máy hành chính để quản lý hoạt động KTĐL. Đồng thời, quản
lý nhà nước tạo môi trường kinh doanh ổn định, các điều kiện cần thiết
đảm bảo cho sự hình thành và hoạt động của doanh nghiệp Kiểm toán,
Kiểm toán viên”.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
1.2.1. Xây dựng quyết định chiến lƣợc phát triển hoạt động
kiểm toán độc lập
a. Quan điểm chiến lược hiện nay về kế toán - kiểm toán:
b. Kế hoạch triển khai chiến lược kế toán - kiểm toán
- Hoàn thiện các văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán
- Xây dựng, ban hành chuẩn mực kế toán và kiểm toán của

1.3.2. Công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc
1.3.3. Trình độ của cán bộ quản lý
1.3.4. Trình độ ứng dụng khoa học công nghệ


6
1.4. MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN LÝ NHÀ N ƢỚC VỀ HOẠT
ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1. Mô hình theo luật định
1.4.2. Mô hình nhà nƣớc – hội đồng tƣ vấn

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM
2.1. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.2. Tình hình phát triển của Kiểm toán độc lập tại Việt
Nam
a. Về số lượng các công ty KTĐL:
b. Về đội ngũ nhân viên:
c. Về số lượng khách hàng toàn ngành:
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20142017
2.2.1. Thực trạng công tác xây dựng chiến lƣợc phát triển
hoạt động kiểm toán độc lập
Việc xây dựng và triển khai chiến lược được Bộ Tài Chính hiện
nay ban hành thành luật hóa và hướng dẫn chi tiết cụ thể theo từng
chỉ tiêu. Mục đích nhằm xác định được những nhiệm vụ và giải pháp
cụ thể đối với quản lý hoạt động KTĐL để triển khai thực hiện chiến

khoảng thời gian tương đối xa và trong giai đoạn 2014 – 2017 thị
trường kinh tế tại nước ta trải qua đầy biến động. Tốc độ tăng trưởng
trung bình 6,42%, môi trường kinh doanh được cải thiện, cũng trong


8
giai đoạn này nước ta chịu tác động sâu và rộng của hội nhập kinh tế
quốc tế. Nhưng việc xây dựng chiến lược và chính sách phát triển
không được điều chỉnh, bổ sung, thay đổi cho phù hợp với sự phát
triển không ngừng của môi trường kinh tế xã hội.
2.2.2. Thực trạng xây dựng và hoàn thiện các chính sách,
quy định
Luật KTĐL được Quốc hội thông qua ngày 29/3/2011, đã tạo ra
khung pháp lý cao nhất về KTĐL, góp phần nâng cao hiệu lực pháp
lý và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với dịch vụ KTĐL, đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế; tăng cường quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của
DN kiểm toán, KTV hành nghề, cũng như các tổ chức, cá nhân có
liên quan đến hoạt động KTĐL. Luật cũng tạo điều kiện cho các DN
Việt Nam tiếp cận với DVKT, đặc biệt là các đơn vị có lợi ích công
chúng, đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư, Nhà nước và các tổ chức,
cá nhân có liên quan.
Trong thời gian qua, VACPA trở thành cầu nối giữa cơ quan
QLNN (Bộ Tài chính) với các DNKT cũng như các cá nhân kiểm
toán viên hành nghề và các hội viên hội hành nghề. Theo đó,
VACPA đã phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với Bộ Tài chính trong
việc góp phần xây dựng khuôn khổ pháp lý về kiểm toán độc lập;
Tham gia góp ý kiến xây dựng hoàn thiện Luật Kiểm toán độc lập,
trình Chính phủ ban hành các Nghị định và hỗ trợ ban hành theo
thẩm quyền các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về các hoạt
động nghiệp vụ liên quan, đặc biệt đã nghiên cứu và soạn thảo hệ

ban hành Thông tư 56/2015/TT-BTC ban hành ngày 23/04/2015
hướng dẫn cập nhật kiến thức hàng năm cho kiểm toán viên đăng ký
hành nghề kiểm toán. Thay đổi một số quy định về đối tượng cập
nhật kiến thức. Và quy định lại một số trường hợp chưa đủ giờ cập
nhật kiến thức.


10
Cũng trong giai đoạn này Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư
số 183/2013/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/01/2014
thay thế Quyết định số 89/2007/QĐ-BTC ngày 24/10/2007 về việc
ban hành Quy chế lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận
kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh
doanh chứng khoán.
Nhằm tạo môi trường lành mạnh, minh bạch cho các DN kiểm
toán hoạt động, Chính phủ đã ban hành các quy định về kiểm soát
chất lượng dịch vụ kế toán kiểm toán như Thông tư 157/2014/TTBTC, ngày 23/10/2014.
Việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách, quy định đã đạt
được những thành quả nhất định góp phần nâng cao cơ sở pháp lý
cho việc quản lý và kiểm soát hoạt động kiểm toán độc lập. Tuy
nhiên các chính sách còn chưa đi sâu đi sát vào tình hình thực tế với
hoạt động. Đơn cử như hiện nay mới chỉ có quy định về giá phí của
hoạt động kiểm toán độc lập với quyết toán dự án hoàn thành thuộc
nguồn vốn nhà nước theo Thông tư 09/2016/TT- BTC ban hành ngày
18/01/2016. Trong khi đó hoạt động kiểm toán BCTC là hoạt động
chính của hoạt động của KTĐL thì chưa có quy định về mức giá phí
dịch vụ đối với khách hàng của DN Kiểm toán. Do vậy, cần tăng
cường các chế tài mạnh để xử lý nghiêm việc quảng cáo phí thấp, hạ
thấp giá phí kiểm toán để tranh giành khách hàng, cạnh tranh không
lành mạnh giữa các Doanh nghiệp kiểm toán.

KTV.
b. Quản lý tổ chức cập nhật kiến thức cho kiểm toán viên
Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý dựa trên
cơ sở Thông tư số 150/2012/TT-BTC ngày 12/9/2012 của Bộ Tài
Chính về hướng dẫn cập nhật kiến thức hàng năm cho kiểm toán viên
đăng ký hành nghề kiểm toán.


12
Năm 2014, có 6 tổ chức được BTC phê duyệt tổ chức được phép
cập nhật kiến thức cho kiểm toán viên. Trong đó có 1 tổ chức là hội
nghề nghiệp, 1 tổ chức là cơ sở đào tạo, 4 đơn vị là Doanh nghiệp
kiểm toán. Năm 2015, 2016, 2017, có 8 tổ chức được BTC phê duyệt
tổ chức được phép cập nhật kiến thức cho kiểm toán viên. Trong đó có
1 tổ chức là hội nghề nghiệp, không có tổ chức là cơ sở đào tạo, 7 đơn
vị là Doanh nghiệp kiểm toán.Việc tổ chức cập nhật kiến thức cho
kiểm toán viên là một công việc đặc thù đòi hỏi tính chuyên sâu về kỹ
năng nghiệp vụ. Chính vì vậy việc cập nhật kiến thức đa phần chỉ có
các tổ chức là Doanh nghiệp kiểm toán mới đạt đủ tiêu chuẩn. Trong
đó Doanh nghiệp Kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4 trên tổng
số 5 công ty trên thị trường chiếm tỷ lệ 50% trong tổng số tổ chức đạt
yêu cầu. Điều này cho thấy phần nào năng lực và trình độ của các đơn
vị này. Đòi hỏi nhiều chính sách phù hợp nhằm phát triển thị trường
đồng thời có những biện pháp quản kịp thời góp phần ngăn ngừa cái
sai phạm trong hoạt động kiểm toán.
Ngoài ra, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam là tổ chức
nghề nghiệp duy nhất đủ điều kiện cập nhật kiến thức.Với vai trò của
một tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp kết nối các công ty kiểm toán
và các kiểm toán viên hành nghề trong sự phát triển nghề, đào tạo
nghề. Chính vì vậy cần nâng cao chất lượng uy tín của hội nghề

lực hoặc không còn giá trị. Và không có thông báo về danh sách kiểm
toán viên hành nghề bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề
kiểm toán trong giai đoạn này.
Điều này cho thấy sự quan tâm của cấp QLNN về việc công bố
thông tin về quản lý cấp và sử dụng chứng chỉ kiểm toán viên hành
nghề. Tạo môi trường thông tin công khai minh bạch. Tuy nhiên việc
quản lý mới chỉ thực hiện trên cơ sở các báo cáo từ báo cáo duy trì
điều kiện hành nghề kiểm toán hàng năm của Doanh nghiệp kiểm


14
toán. Mặc dù đã có những quy định về trách nhiệm của Kiểm toán
viên hành nghề, Doanh nghiệp kiểm toán và người đại điện pháp luật
của DNKT nhưng không thể tránh sự sai sót hay sự thiếu trung thực từ
các báo cáo từ Doanh nghiệp kiểm toán vì lý điều kiện đăng ký hành
nghề kiểm toán (công ty kiểm toán phải có 5 KTV hành nghề, 3 tỷ
đồng vốn pháp định).
2.2.4. Thực trạng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của
công tác quản lý nhà nƣớc về hoạt động kiểm toán độc lập
a. Thực trạng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của Bộ Tài
Chính
BTC thực hiện kiểm tra tại 07 đơn vị, 09 đơn vị, 15 đơn vị, 22
đơn vị vào các năm 2014, 2015, 2016 và 2017. Xét về tỷ lệ đạt xếp
loạt tốt và đạt yêu cầu có xu hướng tăng dần qua các năm từ 57% vào
năm 2014 lên 68% vào năm 2017. Tỷ lệ không đạt yêu cầu có xu
hướng giảm dần qua các năm từ 43% năm 2014 chỉ còn 27% vào
năm 2017. Và không có đơn vị nào xếp loại yếu kém, có sai sót
nghiêm trọng trong 4 năm. Điều này cho thấy về chất lượng dịch vụ
về BCTC đang được nâng lên.
Mặt khác, so sánh tỷ lệ số công ty kiểm tra với tổng số Doanh

2016 và 2017. Xét về tỷ lệ đạt xếp loạt tốt và đạt yêu cầu các năm
2014, 2015, 2017 tỷ lệ đạt yêu cầu là 100%. Tuy nhiên riêng trong
năm 2016 có 1 đơn vị trong tổng số 10 đơn vị được kiểm tra năm
2016 không đạt yêu cầu về KSCL, đây cũng là lần đầu tiên có DNKT
không đạt yêu cầu về KSCL của UBCKNN từ khi bắt đầu kiểm soát
hoạt động này. Và không có đơn vị nào xếp loại yếu kém, có sai sót
nghiêm trọng trong 4 năm. Số lượng doanh nghiệp được kiểm tra và
tỷ lệ kiểm tra tăng dần qua các năm. Điều này cho thấy về chất lượng
dịch vụ về BCTC đối với đơn vị có lợi ích công chúng đang được


16
nâng lên. Tuy nhiên tỷ lệ kiểm tra còn tương đối thấp cao nhất là
2016 với 32%. Trong khi đối tượng được kiểm tra là những doanh
nghiệp đủ điều kiện kiểm toán cho doanh nghiệp có lợi ích công
chúng mọi sai phạm của DNKT sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyết
định của nhà đầu tư, các cổ đông, hay xa hơn là thị trường chứng
khoán.
Hằng năm qua các cuộc kiểm tra của cơ quan QLNN tỷ lệ sai
phạm trong các cuộc kiểm tra rất thấp. Nhưng kết quả kiểm tra
không đánh giá được toàn thể thị trường được. Thực tế cho thấy các
sai phạm được phát hiện và nêu ra hiện nay đều từ thị trường, nói
cách khác là nhà đầu tư, cổ đông hay người sử dụng các bản báo cáo
kiểm toán. Chính vì vậy công tác kiểm tra, giám sát hoạt động KTĐL
tại Việt Nam trong thời gian qua mặc dù đã có những thành tựu nhất
định nhưng vẫn còn một số bất cập cần được hoàn thiện.
Nội dung xử lý vi phạm hiện nay của UBCKNN:
Về Doanh Nghiệp Kiểm toán:
Trong giai đoạn này lần đầu tiên, báo cáo tài chính kiểm toán
năm 2016 của 15 DN đại chúng, hầu hết đang niêm yết trên sàn gồm:

vực dịch vụ liên quan và quan trọng như kiểm toán.
2.3. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2014 -2017
2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc
2.3.2. Những mặt còn tồn tại


18
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KTĐL TẠI VIỆT NAM
3.1.

MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VÀ ĐỊNH HƢỚNG CÔNG

TÁC QLNN VỀ HOẠT ĐỘNG KTĐL TẠI VIỆT NAM
3.1.1. Mục tiêu tổng quát của Chiến lƣợc kế toán - kiểm toán
đến năm 2020, tầm nhìn 2030
3.1.2. Một số nhiệm vụ cụ thể

của Chiến lƣợc kế toán -

kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC QLNN VỀ HỌAT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI
VIỆT NAM
3.2.1. Hoàn thiện công tác xây dựng chiến lƣợc và chính
sách phát triển hoạt động kiểm toán độc lập
Thứ nhất, chủ trì tổ chức triển khai thực hiện chiến lược, phê

phát triển ngành Kiểm toán độc lập trong giai đoạn hiện nay và yêu
cầu hội nhập sâu rộng vào thị trường khu vực và quốc tế, khuôn khổ
pháp lý của hoạt động kiểm toán độc lập cần tiếp tục được rà soát,
nâng cấp theo đúng yêu cầu tại Nghị quyết 35NQ-CP của Chính phủ
về hỗ trợ phát triển DN với tinh thần Nhà nước kiến tạo, Chính
quyền phục vụ và hỗ trợ DN, tạo điều kiện cải thiện môi trường kinh
doanh, tôn trọng quyền tự do kinh doanh của DN theo quy định của
pháp luật.
Hệ thống luật pháp về kiểm toán độc lập phải tiến tới hài hòa
với luật pháp các nước trong khu vực và quốc tế, thúc đẩy việc nâng
cao năng lực chuyên môn và chất lượng dịch vụ kiểm toán, nhanh
chóng đưa ngành Kiểm toán độc lập Việt Nam hội nhập đầy đủ, tiến
đến sự công nhận của khu vực và quốc tế.
Cần loại bỏ các quy định không còn phù hợp trong các văn bản


20
quy phạm pháp luật về quản lý hành nghề kiểm toán độc lập; về thẩm
quyền và hình thức ban hành Chuẩn mực kiểm toán theo hướng phù
hợp với thông lệ quốc tế.
Cần xây dựng chung một khung giá phí cho hoạt động kiểm
toán BCTC để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các Doanh
nghiệp kiểm toán trên thị trường.
Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động KTĐL của Bộ Tài chính
và Hiệp hội nghề nghiệp (VACPA), đồng thời khuyến khích các
công ty KTĐL giám sát lẫn nhau trong việc tuân thủ các quy định về
giá phí cũng như tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Bên
cạnh đó, cần có các biện pháp xử lý các vi phạm, tạo sự minh bạch
và cạnh tranh lành mạnh trong thị trường.
3.2.3. Hoàn thiện công tác quản lý hoạt động hành nghề

chuẩn mực, chế độ kế toán và kiểm toán.
Bổ sung Nghị định về xử lý vi phạm hành chính đối với lĩnh
vực kế toán và kiểm toán theo quy định Luật về xử lý vi phạm phạt
hành chính đảm bảo phù hợp với Luật kế toán, Luật kiểm toán độc
lập tăng cao tính răn đe góp phần ngăn ngừa các sai phạm trong hoạt
động KTĐL.
Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động kế toán, kiểm toán
trong nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện công khai minh bạch tình hình kinh tế, tài chính của
các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế.
Xây dựng đề án củng cố về tổ chức bộ máy quản lý, giám sát kế
toán, kiểm toán theo hướng nâng cao vị thế và hoàn thiện chức năng,
nhiệm vụ quản lý nhà nước về kế toán, kiểm toán.
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác
quản lý nhà nước về kế toán, kiểm toán.
Mở rộng đối tượng và phạm vi kiểm tra giám sát thay vì chỉ


22
mới kiểm tra và đánh giá về chất lượng dịch vụ đối với hồ sơ kiểm
toán báo cáo tài chính (BCTC) mà không kiểm tra hồ sơ kiểm toán
báo cáo quyết toán dự án hoàn thành.
Thúc đẩy sự giám sát và tố cáo các hành vi vi phạm của hoạt
động KTĐL từ thị trường nói chung từ các nhà đầu tư, cổ đông hay
người sử dụng báo cáo kiểm toán nói riêng.
3.3. MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.3.1. Kiến nghị đối với công tác quản lý nhà nƣớc
Về phía Bộ Tài Chính
Cần ban hành đầy đủ và hoàn thiện khung pháp lý về KTĐL
cũng như công tác KSCL kiểm toán. Cụ thể, cần sớm ban hành đầy

Phối hợp với UBCKNN cũng như Hội nghề nghiệp (VACPA)
để thực hiện có hiệu quả việc KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động
KTĐL, từ đó xử lý kịp thời các vi phạm trong công tác thực hiện
kiểm toán cũng như trong việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp.
Tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ đối với các
công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập. Mở rộng phạm vi kiểm
tra kiểm soát không chỉ đơn thuần kiểm tra và đánh giá về chất lượng
dịch vụ đối với hồ sơ kiểm toán báo cáo tài chính như hiện nay.
Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới cơ chế vận hành, áp dụng
triệt để công nghệ thông tin vào công tác quản lý.
Hỗ trợ phát triển cho các DNKT vừa và nhỏ sẵn sàng đáp ứng
nhu cầu cho sự phát triển trong thời kỳ mới.
Về phía Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nƣớc
UBCKNN cần tiếp tục đề xuất với Bộ Tài chính các quy định
pháp lý chặt chẽ quy định về điều kiện các doanh nghiệp kiểm toán
đủ tiêu chuẩn điều kiện để tham gia kiểm toán đơn vị có lợi ích công
chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán, bổ sung các quy định về kiểm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status