BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
QUYẾT ĐỊNH MUA SẢN PHẨM CÓ BAO BÌ THÂN THIỆN VỚI
MÔI TRƯỜNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
Ở VIỆT NAM
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 9340101
TRẦN MINH THU
Hà Nội – 2020
Luận án được hoàn thành tại: Trường Đại học Ngoại Thương, số 91
Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS. Phạm Thu Hương
Phản biện 1:................................................................................
..................................................................................
Phản biện 2:................................................................................
..................................................................................
Phản biện 3:................................................................................
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng nhanh, lượng rác thải sau khi sử
dụng sản phẩm (SP) ngày càng nhiều và gây ô nhiễm môi trường (Sayed
Ahmed, 2018). Khi NTD (NTD) ý thức được các vấn đề ô nhiễm môi
trường là bởi những quyết định tiêu dùng của mình, họ sẽ thay đổi theo
hướng quyết định tiêu dùng thân thiện với môi trường (TTVMT). Số lượng
người sẵn sàng trả nhiều tiền hơn cho các SP sinh thái thân thiện gần đây
cho thấy thị trường của các SP thân thiện môi trường đang mở rộng
(Laroche, 2001).
Tuy nhiên quá trình chuyển từ nhận thức về môi trường đến quyết
định mua các SP có bao bì TTVMT của NTD phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
cả khách quan và chủ quan. Các nghiên cứu về tác động của tiêu dùng tới
môi trường được thực hiện tại nhiều quốc gia đang phát triển, tuy nhiên còn
khá hạn chế ở Việt Nam (VN). Môi trường sống đang bị ô nhiễm trầm
trọng. Hơn nữa, đứng dưới góc độ doanh nghiệp, việc thay đổi SP để
hướng tới tiêu dùng thân thiện môi trường là khá phức tạp nhưng việc thay
đổi bao bì SP là một phương án dễ dàng hơn để hướng tới tiêu dùng thân
thiện môi trường và xúc tiến bán hàng.
Xuất phát từ sự cấp thiết của xu hướng tiêu dùng TTVMT, sự cần
thiết, khuyến khích phát triển các quyết định mua TTVMT của khách hàng
(KH) tại VN và khoảng trống lý thuyết về vấn đề này tại VN, tác giả đã
thực hiện đề tài nghiên cứu cho luận án “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
tới quyết định mua sản phẩm có bao bì thân thiện với môi trường của khách
hàng cá nhân ở Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Có thể nói số lượng nghiên cứu đặc thù liên quan tới SP có bao bì
Về không gian, nghiên cứu được thực hiện ngẫu nhiên tại một số
tỉnh/ thành phố ở VN như Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh, Đà
Nẵng, Quảng Bình, Nghệ An, Thành Phố Hồ Chí Minh v..v..
Về thời gian, dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để thực hiện luận án được thu
thập thông qua khảo sát KHCN trong khoảng thời gian chủ yếu từ năm 2018
đến năm 2019. Việc thu thập dữ liệu trên sẽ là điều kiện thuận lợi để đưa
ra giải pháp tốt nhất cho giai đoạn 2020 – 2025.
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu này khảo sát những yếu tố ảnh hưởng
tới quyết định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN, thông qua khảo
sát KHCN tại một số tỉnh/thành phố ngẫu nhiên ở VN v.. v.. đồng thời đưa
ra bình luận và kiến nghị giải pháp thúc đẩy mua SP có bao bì TTVMT của
KHCN tại VN.
5. Phương pháp nghiên cứu
3
Nghiên cứu được thực hiện bằng nghiên cứu định tính và định
lượng sử dụng dữ liệu thứ cấp và nghiên cứu sơ cấp. Nghiên cứu thứ cấp
định tính và định lượng được thực hiện tại bàn và sử dụng phương pháp
phân tích, so sánh, tổng hợp khung lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng tới ý
định mua TTVMT, hành vi mua TTVMT và quyết định mua SP có bao bì
TTVMT; cũng như nghiên cứu đặc điểm KHCN ở VN và tình hình tiêu dùng
TTVMT ở VN từ những nghiên cứu đi trước. Sau đó tác giả sử dụng
phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp định tính và định lượng, dùng phần
mềm SPSS 20 để xử lý dữ liệu và đưa ra mô hình nghiên cứu hoàn chỉnh.
6. Đóng góp của luận án
Về mặt học thuật: mô hình nghiên cứu được sử dụng trong luận án là sự
tổng hợp giữa lý thuyết phân rã hành vi DTPB và mô hình NTD quan tâm tới
môi trường của Rylander và Allen. Về mặt thực tiễn: Thứ nhất, luận án tập
dùng và hành vi tiêu dùng và khám phá ra mối quan hệ giữa ý định tiêu dùng
và nỗ lực mua sắm của NTD. Nghiên cứu năm 2013 của Huihui Zhao, Qian
Gao, Yaoping Wu, Yuan Wang, Xiaodong Zhu đã phát triển một khung lý
thuyết về hành vi NTD xanh. Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu đúc
kết bản chất của mô hình Rylander và Allen (2001). Nghiên cứu của Collins
Marfo Agyeman năm 2014 được thực hiện để điều tra mối quan hệ của các
biến số ảnh hưởng đến hành vi mua SP xanh của NTD. Nhìn chung, nghiên
cứu này đã xác định rõ ràng mối quan hệ dương giữa các biến số và hành vi
tiêu dùng SP xanh. Nghiên cứu của Sung Ho Choi (2015) được thực hiện
nhằm khám phá những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng sinh thái
của người dân Hàn Quốc. “Nghiên cứu những nhân tố tác động tới mối quan
hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của NTD VN” của Hoàng Thị Bảo
Thoa (2016) cho thấy NTD VN khá quan tâm tới các vấn đề về môi trường.
Trong đó SP nghiên cứu hành vi mua SP xanh là (1) thực phẩm, (2) SP tiết
kiệm điện (tủ lạnh/điều hòa/bóng đèn), SP nghiên cứu hành vi sử dụng xanh
là (3) túi nilon. Tác giả đã chỉ ra các nhân tố có thể thúc đẩy hoặc cản trở
mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của NTD VN. Kết quả
cho thấy nhận thức về tính hiệu quả của SP có một tác động đến mối quan
hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh. Nghiên cứu của G.Madushanka và
V.R.Ragel (2016) đi sâu vào thái độ của NTD đối với việc sử dụng bao bì
5
xanh tại quận Trincomalee tại Sri LankaĐiểm sáng của mô hình chính là ở
chỗ đã đưa được biến vai trò của chính phủ trong việc thuyết phục người
dân hướng tới việc sử dụng bao bì xanh. Kết quả của nghiên cứu thực
nghiệm về hành vi mua sắm SP sử dụng bao bì xanh tại Phần Lan của
Nguyen Thi Hoai Anh (2017) cho thấy tại Phần Lan, NTD phản ứng tích cực
đối với những chức năng của bao bì xanh. Bài nghiên cứu “Hành vi mua
hàng và chấp nhận các SP xanh tại các siêu thị lớn ở Nairobi, thành phố
6
Quá trình phản ánh tổng thể những hành động diễn biến trong suốt quá trình
kể từ khi nhận biết nhu cầu cho tới khi mua và sau khi mua SP là hành vi
NTD” (Kotler, 2006). Trên thế giới, các nghiên cứu về hành vi mua của
KHkhá phong phú nhưng tổng kết lại đều cho rằng hành vi mua của KHCN
được thể hiện thông qua hai quá trình quyết định mua của KHCN và các yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định mua của KHCN.
1.2.1.3. Quyết định
Quyết định mua của KH đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và
hành vi mua còn kéo dài sau khi quyết định mua được đưa ra (Kotler, 2006).
Để nghiên cứu quyết định mua của khách hàng, cần nghiên cứu ý định mua
hàng và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình từ ý định đến hành vi mua hàng.
1.2.2. Lý thuyết về tiêu dùng thân thiện với môi trường
Tiêu dùng TTVMT hay cũng còn được biết tới với tên gọi là tiêu dùng xanh
lần đầu tiên được nhắc tới vào những năm 1970 (Peattie,1992) Trong nghiên
cứu về chủ nghĩa tiêu dùng TTVMT năm 2011, Mansvelt và Robbins đưa ra
định nghĩa khá đầy đủ về thái độ mua TTVMT là việc ưu tiên các hành vi
mua chế phẩm sinh học, tái chế và tái sử dụng SP, hạn chế dùng thừa và sử
dụng các phương tiện giao thông TTVMT.
1.2.2.1.
Thái độ thân thiện với môi trường
Harrison Newhol & Shaw trong nghiên cứu của mình năm 2005 thì cho rằng
thái độ mua TTVMT không những là việc ưu tiên tiêu dùng ít đi mà còn là
tiêu dùng hiệu quả hơn, thể hiện trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi
trường thông qua việc lựa chọn các SP thân thiện môi trường, có cách tiêu
dùng và xử lý rác thải hợp lý.
1.2.2.2.
Sản phẩm thân thiện với môi trường
Shamdasani & cộng sự (1993) định nghĩa sản phẩm TTVMT là SP không gây
ô nhiễm cho trái đất hoặc tổn hại tài nguyên thiên nhiên và có thể tái chế,
hiệu cùng ngành về SP có bao bì TTVMT và SP có bao bì thông thường theo
tiêu chí 4Ps (Product – Sản phẩm, Place – Kênh phân phối, Price – Giá,
Promotion – Xúc tiến bán hàng).
1.2.2.5.
Khách hàng cá nhân thân thiện với môi trường
KHCN la nh
̀ ưng ngu
̃
̛ơi mua SP, dich vu đê s
̀
̣
̣ ̉ ử dung cho ca nhan ho ho
̣
́ ̂ ̣ ạc cho
̆
ngươi than, gia đinh, ban be, ngu
̀
̂
̀
̣
̀
̛ơi quen. Nh
̀
ưng ngu
̃
̛ơi nay con đu
̀ ̀ ̀
̛ợc goi la
̣ ̀
lại những hiệu quả trong các nghiên cứu về tâm lý liên quan đến hành vi
tiêu dùng (Ajzen, 1991; Robert,1996).
Lý thuyết phân rã hành vi có hoạch định (DTPB): DTPB được Taylor và
Todd (1995) phát triển dựa trên TPB của Ajzen (1985) bằng cách phân tách
ba nhân tố: thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi
trong TPB thành các biến số cụ thể hơn.
Mô hình RACE: Mô hình gần đây được sử dụng để nghiên cứu quy trình
mua hàng của KH là mô hình RACE (Reach – Act – Convert – Engage). Mô
hình này được nhóm tác giả của tạp chí Smart Insights tạo ra vào năm 2012
và được cập nhật vào năm 2015 để giải thích và định nghĩa đầy đủ tiếp thị
số.
1.3.2. Một số mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua sản
phẩm có bao bì thân thiện với môi trường
Mô hình Động lực – Khả năng – Cơ hội (Motivation – Ability –
Opportunity Model): đã đưa thêm biến nội tại là động lực và biến ngoại
9
sinh là khả năng và cơ hội (Olander và Thorgersen, 1995) điều tiết vào mối
quan hệ giữa ý định và hành vi.
Mô hình hành vi tiêu dùng của NTD quan tâm môi trường của Rylander
và Allen (2001): Mô hình hành vi tiêu dùng của NTD quan tâm môi trường đã
khái quát, mở rộng và chia các biến điều tiết mối quan hệ ý định hành vi
thành các nhân tố bên trong và bên ngoài có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ
giữa ý định và hành vi tiêu dùng TTVMT.
1.4. Khoảng trống nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất
1.4.1. Khoảng trống nghiên cứu
Có thể nói số lượng nghiên cứu đặc thù liên quan tới sản phẩm có bao bì
TTVMT tại VN là không nhiều. Các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu tập
trung vào hành vi tiêu dùng TTVMT, hoặc SP TTVMT, hoặc bao bì TTVMT
ngành có SP sử dụng bao bì thường. Tiếp theo, tác giả áp dụng phương pháp
nghiên cứu sơ cấp bao gồm phương pháp định tính và định lượng thông qua
thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu sơ cấp bằng việc điều tra khảo sát các
KHCN ở VN, sau đó tổng hợp phân tích dữ liệu ước lượng mô hình nghiên
cứu bằng các phần mềm thống kê SPSS 20 nhằm đưa ra khuyến nghị, giải
pháp giúp cải thiện quyết định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN
dựa trên những kết quả phân tích trước đó.
11
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu
Mô hình đề xuất và giả thuyết nghiên cứu sơ bộ
Sau khi tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu thứ cấp tại bàn,
tác giả đã tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua SP có bao bì
2.2.
12
TTVMT của KHCN ở VN. Tiếp theo, tác giả sử dụng phương pháp phỏng
vấn chuyên gia để đánh giá mức độ phù hợp của các yếu tố này cũng như
mức độ dễ hiểu của các yếu tố đó. Tác giả đã phỏng vấn 12 chuyên gia.
Danh mục các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định mua SP có bao bì TTVMT
của KHCN gồm: Thái độ với môi trường, Thái độ với SP có bao bì TTVMT,
Kiểm soát hành vi nhận thức, Ảnh hưởng của xã hội, Chuẩn mực chủ quan
về SP có bao bì TTVMT, Nhận thức về môi trường, Giá cả của SP có bao bì
TTVMT, Trải nghiệm tiêu dùng TTVMT, Chất lượng của bao bì TTVMT,
Mức độ nhạy cảm về giá của KHCN, Niềm tin đối với quảng cáo, Tính sẵn
có của SP, Chính sách khuyến khích tiêu dùng TTVMT của chính phủ
tác giả gửi tới KHCN ở VN thông qua email, các mạng xã hội.
Kích thước mẫu: Với N = 97.860.000, e = 5% thì kích thước mẫu từ
400 KH trở lên. Số phiếu phát là 700 phiếu, sau khi thu hồi, tác giả thu về được
623 phiếu đạt yêu cầu.
Cách chọn mẫu điều tra: Nghiên cứu này tập trung tìm kiếm các
nhân tố ảnh hưởng tới quyết định mua SP có bao bì TTVMT ở VN, các
phỏng vấn viên của luận án sẽ thực hiện lựa chọn ngẫu nhiên một số siêu
thị.
Phương pháp phân tích dữ liệu : Tất cả dữ liệu thu thập sẽ được
làm sạch và bắt đầu xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.
Nghiên cứu tập trung vào khảo sát các yếu tố tác động tới quyết
định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN. Trong đó:
Biến phụ thuộc: Ý định mua SP có bao bì TTVMT
Biến độc lập: Thái độ với môi trường, thái độ với SP có bao bì
TTVMT, chuẩn mực chủ quan về SP có bao bì TTVMT, nhận thức
về môi trường, chất lượng của bao bì TTVMT, độ nhạy cảm về
giá, chính sách khuyến khích tiêu dùng SP có bao bì TTVMT của
chính phủ.
Số liệu thu thập được từ điều tra sẽ được phân tích và xử lý theo
trình tự sau: Nhập liệu, làm sạch số liệu, thống kê mô tả và kiểm
định độ tin cậy của thang đo:
14
Hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để kiểm định thống kê mức
độ chặt chẽ mà các câu hỏi trong thang đo tương quan với nhau, nhằm loại
bỏ các biến và thang đo không phù hợp. Phân tích nhân tố (Factor Analysis)
là phương pháp phân tích thống kê, rút gọn một tập hợp nhiều biến quan sát
có mối tương quan với nhau thành một tập biến mới có ý nghĩa hơn nhưng
vẫn chứa hầu hết nội dung của số liệu ban đầu. Các tiêu chí đánh giá trong
Trong xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính cho nhóm 2, tác giả
sẽ sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính cho biến điều tiết (Reuben M.
Baron và David A. Kenny,1987). Khung lý thuyết về biến điều tiết được
diễn tả như sau. Theo Hayes, 2013 X: là biến độc lập; Y: là biến phụ thuộc;
M: là biến điều tiết. Khi đó biến điều tiết (M) sẽ tác động đến mối quan hệ
giữa biến độc lập (X) và biến phụ thuộc (Y). Phương trình hồi quy với biến
điều tiết được viết như sau: Y = β0 + β1X + β2M + β3X*M + u
Nhóm 2:
Bảng 2.2: Thông tin các biến nhóm 2
Tên biến
Quyết định mua san phâm có bao bì TTVMT
̉
̉
Ký hiệu
Y
Giải thích biến
Biến phụ thuộc
15
Y đinh mua san phâm có bao bì TTVMT
́ ̣
̉
̉
Chính sách khuyến khích tiêu dùng TTVMT của chính phủ
Độ nhạy cảm về giá
còn phụ thuộc vào niềm tin và hành vi của người khác. Chuẩn mực chủ
quan còn có thể hiểu là ảnh hưởng từ xã hội, thể hiện áp lực mà cá nhân
nhận thấy từ những đánh giá của người khác về một hành vi là nên thực
16
hiện hay không nên thực hiện, chuẩn mực chủ quan được cho rằng có ảnh
hưởng đến ý định tiêu dùng (Rajiv N. Rimal và Kevin Real, 2003).
Giả thuyết H3: Yếu tố chuẩn mực chủ quan ảnh hưởng thuận chiều đến ý
định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN
2.3.1.4. Nhận thức về môi trường
Nhận thức của cá nhân là yếu tố được đưa vào trong mô hình TPB để khắc
phục nhược điểm của mô hình TRA. Mức độ nhận thức này gắn liền với
niềm tin về sự tồn tại các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở thực hiện hành vi
(Ajzen, 1991). Nhận thức sẽ thúc đẩy hành vi khi cá nhân nhận thấy mình có
nhiều nguồn lực và sự tự tin (Ajzen, 1985; Hartwick, 1994; Lee, 2005)
Giả thuyết H4: Yếu tố nhận thức về môi trường ảnh hưởng thuận
chiều lên đến ý định mua SP có bao bì TTVMT.
2.3.1.5. Chất lượng bao bì TTVMT
Bao bì TTVMT là loại bao bì được thiết kế tối ưu hóa năng lượng
và vật liệu sản xuất, được làm từ những vật liệu TTVMT, không gây hại
tới sinh vật trong suốt thời gian tồn tại và có thể tái sử dụng Nếu bao bì
TTVMT có khả năng thực hiện đầy đủ các chức năng của bao bì thông
thường thì tác động không nhỏ tới ý định của KH khi mua SP có bao bì.
Giả thuyết H5: Yếu tố chất lượng của bao bì TTVMT ảnh hưởng
thuận chiều tới ý định mua SP có bao bì TTVMT của KHCN ở VN.
2.3.2. Nhóm yếu tố điều tiết mối quan hệ giữa ý định và quyết định mua
SP có bao bì TTVMT
Nhóm nhân tố điều tiết mối quan hệ giữa ý định và quyết định mua SP có
bao bì TTVMT bao gồm 3 nhân tố sau:
dùng thực tế (Ajzen 1975 và 1991). Xuất phát từ cơ sở trên, tác giả đề xuất
giả thuyết:
Giả thuyết H8: Ý định mua SP có bao bì thân thiện ảnh hưởng thuận
chiều tới quyết định mua SP có bao bì TTVMT của khách hàng.
2.3.3. Các biến quan sát thành phần
5 biến quan sát (BQS) thái độ với môi trường (TĐMT), 5 BQS thái độ với
SP có bao bì TTVMT (TĐSP), 5 BQS chuẩn mực chủ quan về SP có bao bì
TTVMT (CMCQ), 5 BQS nhận thức về môi trường (NTMT), 5 BQS chất
lượng của bao bì TTVMT (CLBB), 5 BQS ý định mua SP có bao bì TTVMT
(YĐ), 5 BQS độ nhạy cảm về giá của KHCN (NCVG), 5 BQS chính sách
khuyến khích tiêu dùng TTVMT của chính phủ (CSCP), 5 BQS quyết định
mua SP có bao bì TTVMT(QĐ).
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả nghiên cứu thống kê mô tả
18
Về giới tính: Kết quả khảo sát cho thấy có 415 nữ và 208 nam tham gia trả
lời phòng vấn. Số lượng nam ít hơn (nam chiếm 33.4% và nữ chiếm 66.6%)
Về độ tuổi: Nghiên cứu tập trung khảo sát đối tượng trong độ tuổi có tỉ lệ
chi tiêu mua sắm nhiều nhất từ 18 đến 30 tuổi, chiếm 53.3%.
Về trình độ học vấn: Đối tượng tham gia phỏng vấn đa số có trình độ cao
đẳng, đại học (49.8% trình độ đại học và 30.3% trình độcao đẳng, 10% sau
đại học và 9.9% trung cấp).
Về nghề nghiệp: nghiên cứu được thực hiện với các đối tượng có ngành
nghề đa dạng. Do đó, kết quả về ngành nghề thu được phân bổ khá đều.
Về thu nhập: Nhóm có thu nhập 5 9 triệu/ tháng chiếm 49.8%. Hai nhóm
15 – 25 triệu/tháng và trên 25 triệu/tháng chỉ chiếm 16.6%.
Về nơi ở: do dân cư tập trung đông ở các thành phố lớn nên nghiên cứu chủ
yêú các KHCN trong thành phố, chiếm 60.2% lượng KH tham gia khảo sát.
của ý định mua SP có bao bì TTVMT được giữ lại và không bị loại khỏi mô
hình nghiên cứu.
3.2.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA của ý định mua SP có bao bì
TTVMT(EFA)
Từ bảng kết quả, tác giả có thể rút ra các kết luận như sau: Quá trình phân
tích EFA đã gộp 5 nhân tố thành 4 nhân tố có ý nghĩa hơn, đơn giản hóa mô
hình. Quá trình phân tích EFA đã gộp hai nhân tố về thái độ với môi trường
và thái độ về SP của SP có bao bì TTVMT thành một nhân tố là thái độ. Các
nhân tố mới ảnh hưởng tới ý định mua SP có bao bì TTVMT được đặt tên
và ý hiệu như sau: Nhân tố thái độ tiêu dùng TTVMT (TĐTD), nhân tố
chuẩn mực chủ quan về SP có bao bì TTVMT (CMCQ), nhận thức của NTD
về môi trường (NTMT), chất lượng của bao bì TTVMT (CLBB).
3.2.3. Kiểm tra tương quan Pearson giữa các nhân tố tác động tới ý định
mua SP có bao bì TTVMT
Cả 4 biến độc lập đều có mối quan hệ với biến phụ thuộc ý định mua SP có
bao bì TTVMT ở mức 1%(pvalue