333i
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HIỀN LƯƠNG
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - năm 2020
HÀ NỘI - năm
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HIỀN LƯƠNG
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
1.1.2. Đặc điểm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong
xét xử sơ thẩm .......................................................................................... 16
1.2. Nội dung bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự...................................................................................... 20
1.2.1. Bảo đảm bằng pháp luật ................................................................. 20
1.2.2. Bảo đảm bằng hoạt động thực tiễn xét xử sơ thẩm ......................... 24
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ ........................................................................................................ 31
2.1. Bảo đảm nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội ..................................................................................................................... 31
2.1.1. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, bảo đảm quyền và lợi ích tốt
nhất của người dưới 18 tuổi phạm tội ...................................................... 32
2.1.2. Bảo đảm quyền bào chữa ............................................................... 39
2.1.3. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo
hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của người dưới 18 tuổi phạm tội. 41
2.1.4. Bảo đảm giữ bí mật cá nhân ........................................................... 43
2.1.5. Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường,
tổ chức ..................................................................................................... 43
2.2. Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội
trong xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành ..... 45
2.2.1. Bảo đảm về mặt tổ chức ................................................................. 45
2.2.2. Bảo đảm về mặt pháp lý ................................................................. 45
2.2.3. Bảo đảm về mặt nhận thức ............................................................. 46
Chương 3 THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18
TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TẠI QUẬN THỦ ĐỨC VÀ GIẢI PHÁP .................................................... 50
VKS
Bộ luật hình sự
Bộ Luật tố tụng hình sự
Hội đồng xét xử
Hội thẩm nhân dân
Kiểm sát viên
Người bào chữa
Tòa án nhân dân
Trách nhiệm hình sự
Tham gia tố tụng
Tiến hành tố tụng
Tố tụng hình sự
Viện kiểm sát
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Số lượng các tội phạm trong vụ án hình sự có người
dưới 18 tuổi phạm tội đã được đưa ra xét xử trên địa bàn quận Thủ Đức
(2015 – 2019) .............................................................................................. 52
Biểu đồ 3.2: Tỷ trọng mức hình phạt đã tuyên đối với người dưới 18
tuổi phạm tội trên địa bàn quận Thủ Đức (2015 – 2019)............................ 53
Biểu đồ 3.3: Biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người dưới
18 tuổi phạm tội trên địa bàn quận Thủ Đức (2015 – 2019)....................... 56
Biểu đồ 3.4: Tỷ trọng trình độ học vấn của người dưới 18 tuổi phạm
tội đã được xét xử trên địa bàn quận Thủ Đức (2015 – 2019) .................... 63
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng thống kê tình hình giải quyết các vụ án hình sự có
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế dẫn đầu cả nước.
Quận Thủ Đức có vị trí địa lý là quận ngoại thành, cửa ngõ phía đông
bắc của Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều trục đường giao thông huyết
mạch nối các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai... vào trung tâm
thành phố. Đồng thời, đây cũng là địa phương có nhiều trường đại học,
khu chế xuất, khu công nghiệp, chợ đầu mối nông sản nên có nhiều lợi
thế quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. Là địa phương được thành
lập từ năm 1997 trên cơ sở tách ra từ huyện Thủ Đức, quận Thủ Đức có
quỹ đất trống dồi dào, sự phát triển nhanh chóng của những khu dân cư
1
tự phát, khu nhà trọ... dẫn đến số lượng dân nhập cư đông, trình độ dân
trí có sự phân hóa nhiều, số lượng học sinh và những người trong độ tuổi
học sinh nhưng không được đến trường chiếm tỷ lệ không nhỏ. Cùng với
sự phát triển của kinh tế xã hội, tình hình phạm tội của người dưới 18
tuổi trên địa bàn quận Thủ Đức ngày càng diễn biến phức tạp và có chiều
hướng gia tăng. Thời gian qua, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức đã thụ lý
và giải quyết nhiều vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi phạm tội, góp
phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương.
Luật hình sự và luật TTHS của nước ta đã dành riêng một chương
quy định các nguyên tắc xử lý, thủ tục tố tụng đặc biệt đối với đối tượng
này. Ngoài mục đích răn đe, phòng ngừa tội phạm, pháp luật còn hướng
đến việc giáo dục nhân cách, tạo cơ hội cho những nhận thức sai lầm của
tuổi trẻ có cơ hội sửa sai, từ đó phát triển thành người có ích cho xã hội.
Để thực hiện điều này, cần thiết phải bảo đảm quyền của người dưới 18
tuổi phạm tội trong tố tụng hình sự nói chung và trong xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự nói riêng.
Mặc dù luật TTHS đã quy định khá đầy đủ về quyền và cơ chế bảo
- PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), Những nội dung mới trong
Bộ luật TTHS năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016;
- GS.TS Nguyễn Ngọc Anh, TS.LS Phan Trung Hoài – Bình luận
khoa học Bộ Luật TTHS năm 2015 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2018;
- Các bài viết về những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền và
bảo đảm quyền con người của người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật tố
tụng hình sự Việt Nam đăng tải trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp
chí Cảnh sát nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân trong
những năm vừa qua.
Những công trình nghiên cứu nêu trên là các tài liệu tham khảo
quan trọng để hoàn thiện đề tài này. Bên cạnh đó, đã có một số luận văn
3
thạc sĩ luật học nghiên cứu liên quan đến thủ tục tố tụng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội như: “Xét xử vụ án hình sự đối với bị cáo là người
dưới 18 tuổi” của tác giả Hoàng Thị Bích Hằng - Học viện Khoa học xã
hội, “Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội từ thực tiễn Quận
Long Biên, Thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thu Trang - Học
viện Khoa học xã hội, “Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị
cáo dưới 18 tuổi từ thực tiễn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh”
của tác giả Dương Thị Ngọc Lữ - Học viện Khoa học xã hội, “Bảo đảm
quyền con người của bị cáo dưới 18 tuổi theo Luật tố tụng hình sự Việt
Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Lê Minh Hiếu
- Học viện Khoa học xã hội, “Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của người
chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” của tác giả
Trần Thị Tuyết Nhung - Học viện Khoa học xã hội...
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu sâu về bảo
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm
tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những quyền cần được bảo
đảm của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những quy định của pháp luật về bảo đảm quyền
của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm tại Chương XXVIII
Bộ luật TTHS năm 2015 và những quy định có liên quan.
Thực tiễn đảm bảo quyền của của người dưới 18 tuổi trong xét xử sơ
thẩm được khảo sát, đánh giá trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh. Thẩm quyền xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân
5
cấp huyện giới hạn ở tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và
rất nghiêm trọng. Do đó, đề tài phân tích về cơ sở pháp lý và thực tiễn các
hoạt động tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với tội ít
nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng.
Thời gian khảo sát, đánh giá thực tiễn từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về
bảo đảm quyền con người của người dưới 18 tuổi phạm tội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương
hành về bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự.
Chương 3: Thực tiễn bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm
tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại quận Thủ Đức và giải pháp.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền của người dưới 18
tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm
1.1.1. Khái niệm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm
tội trong xét xử sơ thẩm
Người dưới 18 tuổi là những người chưa phát triển đầy đủ về thể
chất và tinh thần. Những người trong độ tuổi này thường có nhận thức về
các vấn đề xã hội chưa đầy đủ; tâm sinh lý chưa ổn định, bản tính hiếu
thắng, dễ tự ái, thích thể hiện bản thân, dễ học hỏi khám phá những điều
mới nhưng chưa nhận thức được đúng, sai; hành động theo cảm tính, còn
thiếu kinh nghiệm và kỹ năng sống nên dễ phát sinh hành động bộc phát,
bị kích động, chịu sự xúi giục của người khác dẫn đến hành vi phạm tội.
Sau khi phạm tội, một số người có suy nghĩ hối hận, tâm lý sợ hãi, hoặc
rất sợ hãi làm tổn thương về tinh thần nhưng cũng có một số người nhận
thức họ trở thành “anh hùng” chứ không phải đã phạm sai lầm. Trong
quá trình tố tụng hình sự, người dưới 18 tuổi phạm tội phải gặp, tiếp xúc,
trả lời câu hỏi của nhiều “người lạ” là những người THTT. Khi làm việc
với cơ quan, người THTT, họ có thể khai báo không đúng sự thật hoặc
khai báo theo sự dẫn dắt, mớm cung của người THTT làm ảnh hưởng
lý và nhận thức của người chưa thành niên. Tức là việc quy định tuổi tối
thiểu của TNHS phải đủ cao để đảm bảo trẻ em đã nhận thức được tính
chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội thì mới có thể phải chịu TNHS.
Trên thực tế, tuổi tối thiểu của TNHS được quy định rất khác nhau giữa
các quốc gia, từ 6 đến 18 tuổi, hoặc không được quy định. Theo so sánh
9
giữa các quốc gia về tư pháp người chưa thành niên thì quốc gia quy
định độ tuổi phải chịu TNHS thấp nhất là 6 tuổi (Mê Hi Cô, Hoa Kỳ),
phổ biến nhất là khoảng từ 13 đến 18 tuổi (Bỉ là 16 tuổi; Italia là 14 tuổi;
Trung Quốc là 14 tuổi; Colombia là 18 tuổi; Nga là 14 tuổi;…) [59].
BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tuổi
tối thiểu phải chịu TNHS là từ đủ 14 tuổi (Điều 12). Trong bài viết này,
“người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” được
hiểu là bị can, bị cáo mà tại thời điểm phạm tội, họ từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi.
Về mặt ngôn ngữ, “bảo đảm” nghĩa là “tạo điều kiện để chắc chắn
giữ gìn được, hoặc thực hiện được, hoặc có được những gì cần thiết”.
“bảo đảm quyền” được hiểu là tạo điều kiện để chắc chắn thực hiện được
điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm,
được đòi hỏi [16]. Thuật ngữ “bảo đảm quyền” trong các bài viết, bài
nghiên cứu về khoa học pháp lý được đề cập rất nhiều nhưng vẫn chưa
có một khái niệm hoàn chỉnh. Theo tác giả Trần Thanh Hương, khi phân
tích về khái niệm “bảo đảm quyền tự do công dân”, tác giả cho rằng khái
niệm bảo đảm quyền trong khoa học pháp lý được hiểu là các điều kiện
khách quan và phương tiện (công cụ) tổ chức và các công cụ khác không
chỉ là nhằm mục đích công bố, ghi nhận về mặt pháp lý các quyền và tự
do cơ bản của công dân mà còn nhằm mục đích bảo vệ các quyền, tự do
nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được
tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” với phương hướng “hoàn thiện
các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai,
minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”; nhiệm vụ “đề cao
hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm
11
tội”, “Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã
tham gia.”[7]. Chủ trương, đường lối đúng đắn này tiếp tục được nhắc
lại tại Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII [9].
Những văn kiện pháp lý quốc tế và công ước quốc tế về quyền con
người, quyền trẻ em liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự mà Việt Nam
đã tham gia có thể kể đến những văn bản sau: Tuyên ngôn quốc tế nhân
quyền năm 1948; Tuyên ngôn của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm
1959; Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989; Quy tắc
tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với
người chưa thành niên năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh); Hướng dẫn của
Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên
(Hướng dẫn Riát); Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa
thành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua năm 1990; Tuyên ngôn thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển
của trẻ em năm 1990. Tinh thần chung của các văn bản trên tập trung
vào nội dung trẻ em là chủ thể cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt,
cần được bảo vệ về mặt pháp lý. Đối với những người chưa thành niên vi
phạm pháp luật, cần phải có chính sách riêng phù hợp, bảo vệ quyền và
lợi ích tốt nhất của trẻ em, đặc biệt là nguyên tắc đối xử thân thiện,
hóa bằng hệ thống văn bản luật hình sự mà cơ bản là Bộ luật Hình sự, Bộ
luật TTHS đều có những chương quy định riêng đối với người dưới 18
tuổi, phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi và buộc những chủ thể có liên
quan phải thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ của họ. Hoạt
động tố tụng được tiến hành nhằm bảo vệ quyền con người nhưng cũng
chính trong hoạt động tố tụng này mà quyền con người dễ bị vi phạm
nhất [20]. Do đó, cần thiết phải đưa những chính sách hình sự vào cuộc
sống thông qua các hoạt động tố tụng và những quy định, nguyên tắc tiến
hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cần phải được thực thi
13
đầy đủ.
Theo BLTTHS năm 2015, “người bị buộc tội” gồm người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ Khoản 1 Điều 4). “Bị can là
người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự” (Khoản 1 Điều 60), “Bị
cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét
xử”(Khoản 1 Điều 61) [37]. Thuật ngữ bị can, bị cáo được sử dụng trong
tố tụng hình sự từ BLTTHS năm 1988 đến nay. Cần xác định rõ rằng, bị
can, bị cáo chỉ là người bị cáo buộc về việc thực hiện hành vi có dấu
hiệu của tội phạm chứ chưa được xác định là có tội. Điều này được
khẳng định tại Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013:“Người bị buộc tội
được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật
định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [35], phù
hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 11 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền
năm 1948: “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến
khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy
đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ”[19].
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được chia thành 2 giai đoạn: Một là,
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
Mặc dù BLHS và BLTTHS đã quy định những nguyên tắc riêng
trong việc xử lý hình sự, tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội, hiện vẫn có một số quy định về nguyên tắc tiến hành tố tụng
chưa được cụ thể hóa thành các điều luật dẫn đến việc lúng túng trong
việc áp dụng quy định pháp luật, như: nguyên tắc bảo đảm giữ bí mật cá
nhân của người dưới 18 tuổi, nguyên tắc bảo đảm quyền được trợ giúp
pháp lý của người dưới 18 tuổi, nguyên tắc bảo đảm giải quyết nhanh
chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.
Hiệu quả bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội phụ
thuộc rất lớn vào việc thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và trách
15
nhiệm của những chủ thể bảo đảm quyền. Thực tế, nhiều trường hợp
VKS, Tòa án có sự lạm dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18
tuổi phạm tội. Thẩm phán chưa thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của
mình trong việc xem xét lại các biện pháp ngăn chặn này. Nguyên tắc
thủ tục tố tụng thân thiện chưa được thực hiện triệt để do người tiến hành
tố tụng còn hạn chế về nhận thức, có thái độ đe dọa, lớn tiếng, sử dụng
ngôn từ không phù hợp với lứa tuổi vị thành niên. Những hạn chế này
ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của người dưới 18 tuổi phạm tội và gián
tiếp ảnh hưởng đến mục đích xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội. Như vậy, xét ở phương diện thực tiễn tư pháp, cần có cơ chế
đồng bộ hơn nữa để bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội
nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng quyền lực, cắt xén lợi ích của chủ thể
này trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm như sau: Bảo
đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án