BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã ngành: 62340102
LÊ PHƯỚC HƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, GIÁ TRỊ
THƯƠNG HIỆU VÀ HIỆU QUẢ
TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Cần Thơ, 2020
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Người hướng dẫn chính: TS. Lưu Tiến Thuận
Người hướng dẫn phụ: TS. Huỳnh Quang Linh
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp
trường
Họp tại:
Vào lúc … giờ … ngày … tháng … năm …
Phản biện 1:
Phản biện 2:
hàng. Tạp chí khoa học đại học mở thành phố Hồ Chí Minh. Số 14. 41-53.
9. Lê Phước Hương, Lưu Tiến Thuận. 2019. Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã
hội, giá trị thương hiệu và hiệu quả tài chính: Trường hợp các ngân hàng
thương mại tại Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học
Cần Thơ. Số 55 (Số chuyên đề: Kinh tế). 85-94.
10. Lê Phước Hương, Lưu Tiến Thuận. 2019. Tác động của trách nhiệm xã hội
đến hiệu quả tài chính: Nghiên cứu tình huống các ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng. Số 211. 1-11.
1
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Các ngân hàng đóng vai trò kết nối các chủ thể của nền kinh tế và
tiên phong trong thực thi các xu hướng toàn cầu như trách nhiệm xã hội
(TNXH). Các NHTM đang cố gắng khai thác các khía cạnh tích cực của
các hoạt động TNXH để tối đa hóa lợi ích gắn liền với gia tăng giá trị
thương hiệu và hiệu quả tài chính (Saeidi et al., 2015). Một số nhà quản
lý cho rằng TNXH đơn thuần là làm từ thiện trong khi TNXH bao gồm cả
các yếu tố bên trong tổ chức, một số nhà quản lý khác cho rằng cản trở
việc thực hiện TNXH là do thiếu nhân lực, tài chính cũng như kỹ thuật
thực hiện (Nguyễn Đình Tài, 2010). Theo Sprinkle và Maines (2010), bất
kỳ tổ chức nào cũng phải quan tâm đến các tác động của mình đến môi
trường và an sinh xã hội. Trong khi nhu cầu xã hội là vậy, các ngân hàng
hay doanh nghiệp khó có thể từ bỏ mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận (Sprinkle
& Maines, 2010). Vì thế, việc hài hòa giữa các hoạt động TNXH và hiệu
quả tài chính vừa tốt cho xã hội vừa có lợi cho các tổ chức là hoàn toàn
chính đáng và cần thiết.
Theo Fatma et al. (2016a), mỗi ngành cần có một công cụ đo lường
nhiệm xã hội nhằm tăng cường giá trị thương hiệu và hiệu quả tài chính.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu về không gian là các NHTMCP đang hoạt động
tại ĐBSCL. Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2011-2018. Số liệu sơ
cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn chuyên sâu các chuyên gia làm
việc trong ngành ngân hàng và phỏng vấn bằng bảng câu hỏi từ tháng
1/2018 đến tháng 8/2018. Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa
TNXH và giá trị thương hiệu đến hiệu quả tài chính của các NHTMCP.
Đối tượng phỏng vấn là khách hàng, nhân viên, quản lý hiện đang làm
việc ở các bộ phận nghiệp vụ của ngân hàng.
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học của luận án: Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa cho
các nhà nghiên cứu và giảng dạy, các nhà quản lý mà còn mở ra định
hướng cho các nghiên cứu tiếp theo về tương tác giữa TNXH và giá trị
thương hiệu với hiệu quả tài chính. Đặc biệt, theo kết quả tổng kết lý
thuyết, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào về tác động của nhận thức
TNXH ở năm khía cạnh khác nhau và giá trị thương hiệu ở hai góc độ:
giá trị thương hiệu dựa vào khách hàng và giá trị thương hiệu dựa vào
nhân viên đến hiệu quả tài chính ngành ngân hàng. Kết quả nghiên cứu có
ý nghĩa về mặt học thuật như sau: (1) góp phần bổ sung tri thức khoa học
của lĩnh vực marketing và quản lý, từ đó, làm dồi dào hơn nữa nguồn tài
liệu tham khảo trong lĩnh vực marketing và quản lý; (2) Xây dựng và
kiểm định hoàn thiện bộ thang đo TNXH ngành ngân hàng, giá trị thương
hiệu dựa vào khách hàng và giá trị thương hiệu dựa vào nhân viên, sau
khi kiểm định đạt độ tin cậy có thể sử dụng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Thêm vào đó, nghiên cứu của tác giả là một trong các nghiên cứu tiên
phong xác định tác động của các khía cạnh TNXH, giá trị thương hiệu
đến hiệu quả tài chính bằng số liệu sơ cấp thông qua nghiên cứu định
lượng; (3) Kết quả nghiên cứu mở ra nhiều định hướng cho các nghiên
cứu tiếp theo để có thêm các kiểm định khác nhằm khái quát hoá cao hơn
TNXH bao gồm cổ đông/chủ sở hữu, cộng đồng, khách hàng, đối tác,
người lao động. Các hoạt động liên quan đến TNXH nên đem lại lợi ích
cao nhất cho các bên liên quan. Wang et al. (2016) xác nhận lý thuyết các
bên liên quan là điểm tựa để đưa ra các kết luận về mối quan hệ giữa
TNXH và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Có nhiều các lý thuyết
được sử dụng trong các nghiên cứu TNXH, nhưng lý thuyết các bên liên
quan vẫn là lựa chọn hợp lý và phổ biến nhất. Theo lý thuyết các bên liên
quan, các tổ chức nhắm đến việc cân bằng kỳ vọng của tất cả các bên liên
quan thông qua hoạt động của họ. Các nhà quản lý nên xem xét và duy trì
kỳ vọng của tất cả các bên liên quan khi họ đưa ra quyết định công bố
TNXH. Kế thừa các nghiên cứu trước đây, luận án cũng áp dụng lý thuyết
các bên liên quan làm cơ sở tiếp cận TNXH theo các khía cạnh khách
4
hàng, nhân viên, cộng đồng, cổ đông và pháp lý đạo đức. Theo Retolaza
et al. (2009), lý thuyết các bên liên quan là rất phù hợp với các nghiên
cứu TNXH ngành ngân hàng.
2.2 ĐỊNH NGHĨA VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH
NGHIỆP
Định nghĩa về TNXH của Ủy ban Châu Âu (European Commission,
2001) cho rằng các doanh nghiệp tích hợp các mối quan tâm của xã hội và
môi trường vào hoạt động kinh doanh của mình; có sự tương tác với các
bên liên quan trên cơ sở tự nguyện. TNXH là một khái niệm rộng và được
diễn tả theo quan điểm của từng nhà nghiên cứu, phụ thuộc vào bối cảnh
nghiên cứu (Dahlsrud, 2008). Với nghiên cứu mối quan hệ giữa TNXH,
giá trị thương hiệu và hiệu quả tài chính, bài viết sử dụng khái niệm
TNXH của Ủy ban Châu Âu (2001) kết hợp với quan điểm của Carroll
(1979). Khái niệm này bao quát các khía cạnh tự nguyện, xã hội, môi
trường, kinh tế, và các bên liên quan. Theo Dahlsrud (2008), định nghĩa
dự định gắn bó của nhân viên (Boselie & van der Wiele, 2002) và truyền
thông tích cực (Shinnar et al., 2004). Hành vi thương hiệu là hành vi của
nhân viên theo chuẩn mực phù hợp với giá trị thương hiệu của doanh
nghiệp (Burmann & Zeplin, 2005). Sự thỏa mãn của nhân viên là mức độ
thỏa mãn của nhân viên nhận được từ công việc của họ và là kết quả của
việc thực hiện những gì họ muốn cũng như giá trị từ công việc đó (King &
Grace, 2010). Dự định gắn bó của nhân viên là dự định trong tương lai của
nhân viên tiếp tục công việc hiên tại (Good et al., 1996). Truyền thông
tích cực là mức độ mà một nhân viên sẵn sàng nói những điều tích cực về
doanh nghiệp và sẵn sàng giới thiệu doanh nghiệp cho người khác (King
& Grace, 2010).
2.4 KHÁI QUÁT VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp có thể được đánh giá bằng
nhiều chỉ tiêu. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng tỷ suất lợi nhuận
trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) để
đo lường hiệu quả tài chính của các NHTMCP vì hai chỉ số này được rất
nhiều nghiên cứu sử dụng như Boaventura et al. (2012), Robin et al.
(2018)...Thêm vào đó, các chỉ tiêu này được các NHTMCP công bố rộng
rãi thông qua các báo cáo tài chính được kiểm toán để xác nhận tính trung
thực và hợp lý của số liệu. Chỉ số ROE, ROA đo lường tỷ lệ thu nhập,
phản ánh được cách nhìn quá khứ, cho thấy tình hình kinh doanh của các
ngân hàng như thế nào, khả năng tạo được lợi nhuận trong kỳ kế toán vừa
qua ra sao, từ đó thấy rõ hơn mối quan hệ giữa TNXH, giá trị thương hiệu
đối với hiệu quả tài chính.
2.5 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Chomvilailuk & Butcher (2010) kiểm định tác động tích cực của
TNXH đến sự ưa thích thương hiệu và chất lượng cảm nhận ngành ngân
hàng Thái Lan. Ngành ngân hàng được xem là ngành mang tính cạnh
tranh nhất ở Brazil, Scharf & Fernandes (2013) phân tích số liệu thứ cấp
để thấy mối quan hệ giữa TNXH và nhận biết thương hiệu. Mirabi et al.
nhân tố được xem là có tác động đến việc đo lường giá trị thương hiệu
theo quan điểm khách hàng và nhân viên cũng liên quan đến TNXH, nên
việc đặt giá trị thương hiệu vào mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài
chính có ý nghĩa đặc biệt trong ngành ngân hàng.
2.6 XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT
Mối quan hệ giữa TNXH và hiệu quả tài chính
Một trong những mục tiêu của doanh nghiệp là xem xét việc đầu tư
vào TNXH có tác động và tác động như thế nào đối với hiệu quả tài chính
(Pätäri et al., 2014). Friedman (1970) cho rằng trách nhiệm của doanh
nghiệp là gia tăng giá trị cho cổ đông, không cần quan tâm đến các vấn đề
bên ngoài xã hội, trong khi Narver (1971) tranh luận rằng doanh nghiệp
vừa phải tối đa hóa lợi ích cổ đông vừa phải có các hành động tự nguyện
7
cho các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm. Theo Lee (2008), các
nghiên cứu TNXH chuyển từ nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô sang cấp độ vi
mô (doanh nghiệp) và chuyển sang nghiên cứu tác động của TNXH đến
lợi nhuận. Tổng kết các nghiên cứu, tác giả phát hiện ra có ba nhóm kết
luận cho rằng có mối quan hệ tích cực, tiêu cực và không có mối quan hệ
giữa TNXH và hiệu quả tài chính. Nhóm thứ hai dựa vào lý thuyết các
bên liên quan của Freeman (1984) lập luận rằng tồn tại mối quan hệ tích
cực giữa TNXH và hiệu quả tài chính. TNXH sẽ cải thiện giá trị công ty
thông qua tiết kiệm chi phí, tăng cường danh tiếng. Tuy nhiên, mối quan
hệ tích cực thể hiện rõ với một vài điều kiện cụ thể. Theo Crifo et al.
(2016), nhiều khía cạnh của TNXH kết hợp với nhau sẽ tác động thuận
chiều đến hiệu quả tài chính hơn là tiếp cận chỉ một góc độ. Mối quan hệ
trực tiếp tích cực này được chứng minh qua nhiều nghiên cứu thực
nghiệm như Kang et al. (2010), Babalola (2012), Chetty et al. (2015). Lee
et al. (2013) nghiên cứu nhận thức của nhân viên về các hoạt động TNXH
thực nghiệm mối quan hệ giữa giá trị thương hiệu và hiệu quả tài chính
cho các thương hiệu dịch vụ (Kim et al., 2003). Phân tích phi tham số cho
thấy có mối quan hệ tích cực giữa các thành phần của giá trị thương hiệu
và hiệu quả tài chính (Kim et al., 2003). Thành công của quản trị thương
hiệu đến từ việc hiểu rõ giá trị thương hiệu và quản lý giá trị thương hiệu
theo hướng giúp gia tăng hiệu quả tài chính (Kim & Kim, 2005). Xét về
khía cạnh hiệu quả, một vài nghiên cứu đã khẳng định có mối quan hệ
tích cực giữa giá trị thương hiệu và hiệu quả công ty (Park & Srinivasan,
1994; Aaker, 1996). Prasad & Dev (2000) cho rằng giá trị thương hiệu
mạnh sẽ đẩy doanh thu tăng cao. Wang và Sengupta (2016) cho thấy giá
trị thương hiệu đóng vai trò biến trung gian trong mối quan hệ tích cực
giữa các bên liên quan và hiệu quả.
Tổng kết lý thuyết và thực trạng ngành ngân hàng, tác giả chọn
nghiên cứu nhận thức TNXH chia ra 05 khía cạnh (khách hàng, cổ động,
nhân viên, cộng đồng, đạo đức pháp lý) theo Pérez et al. (2013) và các
khía cạnh này có tác động tích cực đến giá trị thương hiệu và hiệu quả tài
chính. Các giả thuyết H1 đến H5 đề xuất nhận thức về từng khía cạnh của
trách nhiệm xã hội tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của ngân
hàng. Các giả thuyết H6 đến H10 đề xuất nhận thức về từng khía cạnh của
trách nhiệm xã hội tác động tích cực đến giá trị thương hiệu của ngân
hàng. Giả thuyết H11: Giá trị thương hiệu tác động tích cực đến hiệu quả
tài chính, là phần trung gian trong mối quan hệ của TNXH đến hiệu quả
tài chính của ngân hàng.
2.7 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Sau quá trình tổng kết lý thuyết, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu
dự kiến. Theo đó, nhận thức về các khía cạnh của TNXH tác động thuận
chiều đến hiệu quả tài chính và giá trị thương hiệu; giá trị thương hiệu tác
động thuận chiều đến hiệu quả tài chính.
9
- Phân tích nội dung
Tình huống
12 NHTMCP tại 12 tỉnh ĐBSCL.
10
3.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
Từ kết quả lược khảo tài liệu và nghiên cứu định tính, tác giả đề xuất
mô hình nghiên cứu và các giả thuyết. Để kiểm định được các giả thuyết
đó, tác giả cần tiến hành điều tra trên diện rộng, thu thập ý kiến của khách
hàng, nhân viên, sau đó phân tích số liệu. Trình tự các bước được thực
hiện như sau: xây dựng bộ thang đo, thu thập số liệu cho nghiên cứu
chính thức và phân tích số liệu.
Xây dựng bộ biến đo lường các khái niệm: Mô hình nghiên cứu có bốn
khái niệm chính, trong đó TNXH chia thành năm khía cạnh như sau:
Bảng 3.2 Thành phần của thang đo trách nhiệm xã hội
Ký hiệu
Biến quan sát
Ở ngân hàng tôi…
Khía cạnh cộng đồng của TNXH
Tôi tin rằng ngân hàng có dành một
phần ngân sách để đóng góp từ thiện và
các công tác an sinh xã hội tại địa
csr101
phương
Tôi nhận thấy ngân hàng có tài trợ cho
các sự kiện văn hóa – thể thao tại địa
csr102
phương
Tôi tin rằng nhân viên được hỗ trợ để
11
Nguồn
Carroll (1991), Maignan
et al. (1999), Maignan
(2001), David et al.
(2005), Singh et al.
(2008), Melo &
Garrido-Morgado
(2012), Pérez et al.
(2013), Martinez et al.
(2013), Tingchi Liu et
al. (2014), Fatma et al.
(2014), Raufflet et al.
(2014), Khan et al.
(2015). Fatma &
Rahman (2016)
Boal & Peery (1985),
Maignan et al. (1999),
Mercer (2003), David et
al. (2005), Turker
(2009b), Marin et al.
(2009), Pérez et al.
(2013), Tingchi Liu et
al. (2014), Pérez & del
Bosque (2014), Khan et
là để tối đa hóa lợi nhuận
Tôi nghĩ rằng ngân hàng quản lý chặt
csr402
chẽ các loại chi phí phát sinh
Tôi nghĩ rằng ngân hàng có cố gắng để
phát triển bền vững
csr403
Nguồn
Carroll (1991), Maignan
et al. (1999),
McWilliams & Siegel
(2001), Mercer (2003),
Decker (2004), Crespo
& del Bosque (2005),
Singh et al. (2008),
Pérez et al. (2013),
Fatma et al. (2014),
Zheng et al. (2014),
Tingchi Liu et al.
(2014), Fatma &
Rahman (2016)
Maignan et al. (1999),
Maignan (2001),
Mercer (2003), Crespo
& del Bosque (2005),
Pérez et al. (2013),
Fatma et al.(2014),
cbbe03
cbbe04
cbbe05
cbbe06
cbbe07
cbbe08
cbbe09
cbbe10
cbbe11
Biến quan sát
Không gian giao dịch sạch sẽ
Ngân hàng thiết kế hiện đại
Thương hiệu ngân hàng thuộc nhóm dẫn đầu
Nhân viên ngân hàng thân thiện và có chuyên môn tốt
Thương hiệu của ngân hàng này khác biệt với thương
hiệu các ngân hàng khác.
Chất lượng dịch vụ của ngân hàng tốt
Ngân hàng có nhiều loại sản phẩm dịch vụ tài chính tốt
Phòng giao dịch này là chọn lựa đầu tiên khi tôi cần sử
dụng dịch vụ ngân hàng
Tôi cảm thấy hài lòng với chất lượng phục vụ của
phòng giao dịch này
Tôi sẽ giới thiệu phòng giao dịch này cho người khác
Lần kế tiếp, tôi không thay đổi địa điểm giao dịch
Nguồn
Yoo et al. (2000),
Yoo & Donth
(2001), Kim et al.
ebbe07 Dự định gắn bó của nhân viên
ebbe08 Truyền thông tích cực về ngân hàng
Nguồn: King & Grace, 2010
Như vậy, biến TNXH được đo lường theo năm khía cạnh: cộng
đồng, nhân viên, khách hàng, cổ đông và đạo đức pháp lý; giá trị thương
hiệu được đo lường dựa vào khách hàng và nhân viên; hiệu quả tài chính
đo lường theo từng ngân hàng. Mặc dù có nhiều công cụ để đo lường hiệu
quả tài chính nhưng ROA, ROE là phổ biến. Theo Boaventura et al.
(2012), có 48% và 29% số bài nghiên cứu lần lượt sử dụng ROA và ROE
để đo lường hiệu quả tài chính, cao nhất trong số các chỉ số đo lường hiệu
13
quả tài chính khác như tăng trưởng doanh thu (22%), ROS (16%), lợi
nhuận biên (15%), Tobins’Q (10%). ROA và ROE liên quan trực tiếp đến
lợi nhuận kiếm được từ khách hàng và các chiến lược quản lý. Với đa số
các nghiên cứu sử dụng ROA và ROE, luận án tiếp tục sử dụng hai chỉ
tiêu này để đo lường hiệu quả tài chính. Luận án dùng thang đo Likert 5
mức độ để đo lường các khái niệm, đây là cách đo lường phổ biến nhất và
được nhiều nghiên cứu trước đây sử dụng.
Chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng: Số liệu sơ cấp được thu
thập từ điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi. Đối tượng phỏng
vấn là khách hàng, nhân viên và quản lý đang giao dịch và làm việc tại
các NHTMCP ở ĐBSCL. Mẫu thu thập theo phương pháp phi xác suất
dạng thuận tiện. Kích thức mẫu thực tế là n1 = 356 khách hàng và n2 = 344
nhân viên. Luận án tập trung nghiên cứu 29/31 NHTMCP (có hai ngân
hàng là Đông Á và Bản Việt trong giai đoạn được kiểm soát đặc biệt từ
Ngân hàng Nhà nước).
Phương pháp phân tích số liệu: số liệu được phân tích theo các
Nhóm nhân viên quản lý có 99,7% số đáp viên có trình độ Cao đẳng - Đại
học trở lên. Điều này chứng tỏ khi trình độ học vấn cao thì đáp viên quan
15
tâm nhiều hơn về TNXH và trình độ nhân lực ngành ngân hàng là cao. Cụ
thể các đặc điểm của mẫu được trình bày trong bảng sau:
Bảng 4.2 Đặc điểm của đáp viên
Chỉ
tiêu
Giới
tính
Tuổi
Thu
thập
Trình
độ
Chi tiết
Nam
Nữ
20 – 29 tuổi
30 – 39 tuổi
40 – 49 tuổi
50 tuổi trở lên
Ít hơn 5 triệu đồng
Từ 5 – 7 triệu đồng
Từ 7– 9 triệu đồng
7
1,97
38
10,67
272
76,4
39
10,96
356
100
Nhóm Nhân viên
n
%
141
40,99
203
59,01
203
59,01
109
31,69
25
7,27
7
2,03
9
2,62
120
34,88
đo được hình thành từ bộ thang đo nháp gồm 23 tiêu chí của Pérez et al.
(2013), sau đó được việt hóa và chỉnh sửa từ các chuyên gia giảm xuống
còn 22 tiêu chí. Bộ thang đo giá trị thương hiệu cũng được tiến hành các
thủ tục tương tự và sau đó được đo lường thông qua 11 biến phản ảnh
hình ảnh thương hiệu, giá trị cảm nhận, trung thành thương hiệu. Các hệ
số Cronbach’s Alpha đều lớn hơn 0,6 nên bộ thang đo đạt độ tin cậy. Các
biến đo lường có tương quan biến tổng lớn hơn 0,3 nên giữ lại toàn bộ.
16
Bảng 4.3 Đánh giá độ tin cậy của bộ thang đo nhóm khách hàng
Biến tiềm ẩn
Số biến
Cronbach’s Alpha
Hệ số tải
Trách nhiệm xã hội (KMO = 0,867; Phương sai trích =56,88%)
Khía cạnh Cộng đồng
4
0,800
0,644 - 0,760
Khía cạnh Nhân viên
4
0,787
0,614 – 0,707
Khía cạnh Khách hàng
3
0,652
0,605 – 0,774
Khía cạnh Cổ đông
3
đều nhỏ hơn 0,9 chứng tỏ các khái niệm đạt giá trị phân biệt tức là không
có hiện tượng tự tương quan xảy ra giữa các yếu tố hay các khái niệm có ý
nghĩa thống kê một cách độc lập.
Kiểm định mô hình nhóm khách hàng: Kết quả phân tích mô hình
cấu trúc tuyến tính SEM ở Hình 4.2 cho thấy CMIN/DF = 1,91 < 3 các giá
trị TLI = 0,904, CFI = 0,914 > 0,9 và RMSEA = 0,051< 0,06; SRMR =
0,073 < 0,08. Như vậy dữ liệu được coi là phù hợp với thị trường.
17
Chi2-bs(418) =
P=
RMSEA =
799,955;
0,000;
0,051;
CFI = 0,914
TLI = 0,904
SRMR = 0,073
Hình 4.2 Kết quả phân tích mô hình SEM nhóm khách hàng
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra, 2018
Sau khi kiểm định sự phù hợp của mô hình, kết quả kiểm định các
giả thuyết nghiên cứu được thể hiện qua bảng trọng số hồi quy như sau:
Nguồn: Kết quả phân tích số liệu điều tra khách hàng, 2018
(2011) ở ngành viễn thông Đài Loan; Torres et al. (2012); Iglesias et al.
(2017) nghiên cứu khách hàng ở tám lĩnh vực dịch vụ. Các nghiên cứu ở
ngành ngân hàng như Marin et al. (2009), Martínez et al. (2014), Fatma et
al. (2016b) cũng cho kết quả tương tự về tác động tích cực của TNXH
đến giá trị thương hiệu. Khía cạnh nhân viên, cổ đông tác động tích cực
đến giá trị thương hiệu bị bác bỏ do không có ý nghĩa thống kê. Về vấn đề
này có thể giải thích bởi có sự khác biệt về nhận thức. Trong khi các nhà
quản lý đánh giá một cách chủ quan khía cạnh nhân viên, cổ đông tác
động tích cực đến giá trị thương hiệu, nhưng khảo sát của tác giả là nhận
thức của khách hàng về hai khía cạnh này của TNXH không ảnh hưởng
đến giá trị thương hiệu. Saeednia & Sohani (2013) cũng bác bỏ mối quan
hệ giữa TNXH và giá trị thương hiệu. Thực tế, khách hàng thường quan
tâm đến khía cạnh khác ngoài nhân viên và cổ đông, nên hai khía cạnh
này không đủ bằng chứng là có tác động đến giá trị thương hiệu. Giá trị
thương hiệu tác động tích cực đến hiệu quả tài chính (H11) được chấp
nhận, phù hợp với nghiên cứu của Kim et al. (2003) và Kim & Kim
19
(2005) ở lĩnh vực nhà hàng khách sạn và Wang et al. (2015) nghiên cứu
các công ty công nghệ cao.
Phân tích cấu trúc đa nhóm theo giới tính của khách hàng: Kết
quả phân tích đa nhóm theo giới tính cho kết quả với số lượng 192 quan
sát là nữ, có 9/11 mối quan hệ có ý nghĩa thống kê; trong khi nhóm 164
quan sát là nam có 5/11 mối quan hệ có ý nghĩa thống kê. Để kết luận về
sự khác biệt về tham số giữa nam và nữ, tác giả tiến hành kiểm định Wald
Test. Kết quả tìm thấy sự khác biệt tham số về giới tính trong mối quan hệ
giữa khía cạnh pháp lý đạo đức với giá trị thương hiệu và hiệu quả tài
chính; mối quan hệ giữa khía cạnh khách hàng và giá trị thương hiệu; mối
quan hệ giữa giá trị thương hiệu và hiệu quả tài chính.
Trách nhiệm xã hội (KMO = 0,896; Phương sai trích = 64,04%)
Khía cạnh Cộng đồng
5
0,838
0,747 - 0,811
Khía cạnh Nhân viên
6
0,905
0,752 – 0,841
Khía cạnh Khách hàng
3
0,730
0,631 – 0,789
Khía cạnh Cổ đông
3
0,665
0,545 – 0,780
Khía cạnh pháp lý và đạo đức
4
0,776
0,550 – 0,811
Giá trị thương hiệu (KMO = 0,901; Phương sai trích =57,92%)
Giá trị thương hiệu
8
0,894
0,697 – 0,839
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra nhân viên, 2018
Đánh giá giá trị hội tụ và giá trị nội dung của bộ thang đo nhóm
nhân viên: Thực hiện phân tích nhân tố khám phá bộ thang đo TNXH
TLI = 0,912
RMSEA = 0,058;
SRMR = 0,065
Hình 4.3 Kết quả phân tích mô hình SEM nhóm nhân viên
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu điều tra nhân viên, 2018
Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính trong Hình 4.3 cho
thấy các giá trị TLI = 0,912, CFI = 0,922 đều lớn hơn 0,9 và RMSEA =
0,058 < 0,06; SRMR = 0,065 < 0,08. Như vậy dữ liệu được coi là phù hợp
với thị trường. Sau khi kiểm định sự phù hợp của mô hình, kết quả kiểm
định các giả thuyết thể hiện qua bảng trọng số hồi quy như sau:
Kết quả SEM cho thấy: nhận thức về khía cạnh cộng đồng tác động
tiêu cực đến hiệu quả tài chính (H1) nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Kết quả này hàm ý rằng nhận thức của nhân viên về các hoạt động hướng
22
tới cộng đồng không tác động đến hiệu quả tài chính, phù hợp với Lin et
al. (2009) nghiên cứu trong bối cảnh các doanh nghiệp Đài Loan cho kết
luận TNXH không tác động đến hiệu quả tài chính trong ngắn hạn. Kang
et al. (2010) kết luận không tồn tại mối liên hệ giữa TNXH và hiệu quả
tài chính (lĩnh vực dịch vụ Casino). Tương tự, Nollet et al. (2016) cho
rằng không có mối quan hệ tuyến tính giữa hai khái niệm này. Thực tế ở
một số NHTMCP, ngân sách và các hoạt động TNXH hướng tới cộng
đồng ổn định qua các năm, theo kế hoạch của hội sở chính, nên theo nhận
thức của nhân viên khía cạnh này không tác động đến hiệu quả tài chính.
Khía cạnh nhân viên tác động tích cực đến hiệu quả tài chính (H2)
được chấp nhận, phù hợp với Kim et al. (2017) nghiên cứu 442 nhân viên
ngành dịch vụ khách sạn. Tuy nhiên, Hồ Viết Tiến và Hồ Thị Vân Anh