Hoạt động từ thiện xã hội của một số tôn giáo ở tỉnh kiên giang hiện nay (qua nghiên cứu phật giáo và công giáo) - Pdf 65

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

TRẦN HOÀN KIẾM

HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA
MỘT SỐ TÔN GIÁO Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY
(Qua nghiên cứu Phật giáo và Công giáo)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội - 2020

i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

TRẦN HOÀN KIẾM

HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA
MỘT SỐ TÔN GIÁO Ở TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY
(Qua nghiên cứu Phật giáo và Công giáo)
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 03 09

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC


iii


LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ với đề tài “Hoạt động từ thiện xã hội của một số tôn
giáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay” (qua nghiên cứu Phật giáo và Công giáo)
của cá nhân tôi được hoàn thành trên cơ sở kiến thức thu được trong quá trình
học tập, nghiên cứu tại Bộ môn Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ, hỗ
trợ của nhiều người, nhiều tổ chức, đơn vị, sự động viên của người thân, gia
đình, đồng nghiệp và quý thầy cô. Do đó, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến:
Chư tôn đức lãnh đạo Ban trị sự GHPGVN tỉnhViệt Nam tỉnh Kiên
Giang, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tỉnh Kiên Giang, Chư tôn Hòa
Thượng, Thượng tọa, Đại đức, tăng ni, quý Linh mục, Ban quản trị; các Trung
tâm Từ thiện xã hội của Phật giáo và Công giáo trong tỉnh và các tín đồ theo đạo.
Xin gửi lời cảm ơn đến Bộ môn Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập thu thập kiến thức tại trường.
Đặc biệt là tôi xin dành sự kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS
Lê Bá Trình, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian nghiên cứu và
thực hiện luận văn khoa học này, thầy không chỉ là người trực tiếp hướng dẫn
mà còn định hướng những vấn đề cần nghiên cứu, giúp tôi vượt qua những
khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
Kiên Giang, ngày …. tháng …. năm 2020
Tác giả luận văn

iv


MỤC LỤC

2.3.3. Nguyên nhân: .................................................................................. 66
Tiểu kết chƣơng 2....................................................................................... 72
Chương 3: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HĐTTXH CỦA PHẬT GIÁO VÀ CÔNG GIÁO Ở TỈNH
KIÊN GIANG ..........................................................................................................74
3.1. Một số vấn đề đặt ra đối với HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo
ở tỉnh Kiên Giang hiện nay: ...................................................................... 74
3.1.1. Một số vấn đề đặt ra đối với HĐTTXH của Phật giáo ở tỉnh
Kiên Giang: .............................................................................................. 74
3.1.2. Một số vấn đề đặt ra đối với HĐTTXH của Công giáo ở tỉnh
Kiên Giang: .............................................................................................. 75
3.2. Dự báo xu hƣớng tác động đến HĐTTXH của Phật Giáo và Công
giáo tỉnh Kiên Giang:................................................................................. 76
3.2.1. Dự báo xu hướng chung: ................................................................ 76
3.2.2. Dự báo xu hướng HĐTTXH đối với Phật giáo: ............................. 78
3.2.3. Dự báo xu hướng HĐTTXH đối với Công giáo: ........................... 79
3.3. Đề xuất giải pháp và kiến nghị .......................................................... 80
3.2.1. Giải pháp chung: ............................................................................. 80
3.2.2. Giải pháp cụ thể: ............................................................................. 84
3.2.3. Kiến nghị: ....................................................................................... 87
Tiểu kết chƣơng 3....................................................................................... 91
KẾT LUẬN ..............................................................................................................93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................95
PHỤ LỤC ẢNH

2


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT


Sách Kinh Thánh Lu ca

Mt

Sách Kinh Thánh Ma thêu

Ga

Sách Kinh Thánh Gio an

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo thống kê, đến năm 2016 có 1/5 dân số thế giới và 9,45% dân số
Việt Nam phải sống trong điều kiện nghèo khó. Số người cần trợ giúp xã hội
ở Việt Nam chiếm hơn 25% dân cư trong cả nước. Trong đó có khoảng 9,4
triệu người cao tuổi; 7,2 triệu người khuyết tật; trên 9 triệu người có vấn đề
sức khỏe tâm thần; 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; khoảng 1,8 triệu
lượt hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm; 234.000 người nhiễm
HIV được phát hiện; 204.000 người nghiện ma tuý, hơn 48.000 người bán
dâm, khoảng 30.000 nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; ngoài ra,
còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị mua bán, bị xâm hại hoặc lang
thang kiếm sống trên đường phố; đồng thời, có khoảng 10% hộ nghèo, 5%
hộ cận nghèo… đang rất cần những tấm lòng hảo tâm cưu mang, giúp đỡ

tỉnh Kiên Giang nhiệt huyết, say mê làm việc thiện. Công tác TTXH của hai tôn
giáo này được tiến hành dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tập trung vào
các lĩnh vực giáo dục, y tế, nhân đạo, TTXH… mang lại sự hỗ trợ thiết thực cho
những người có hoàn cảnh khó khăn. Các hoạt động nhân ái này không chỉ góp
phần tự củng cố đức tin cho người Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang,
mà còn đem đến cho họ sự trân trọng và tình cảm yêu thương của cộng đồng các
dân tộc ở địa phương, là điều kiện để họ thực hiện phương châm sống “Tốt đờiđẹp đạo”.
Bên cạnh những đóng góp cho an sinh xã hội, HĐTTXH của các tôn
giáo nói chung, của GHPGVN và GHCGVN nói riêng cũng còn nhiều khó
khăn, bất cập, còn nhiều hoạt động hiệu quả chưa cao. Cùng với việc chưa
bảo đảm tính chuyên nghiệp của công tác xã hội, HĐTTXH của hai tôn giáo
trên ở Kiên Giang còn tiềm ẩn các yếu tố tiêu cực, gây khó khăn cho công tác
quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo của địa phương, nhất là việc lợi

2


dụng chính sách tôn giáo cởi mở và sự khuyến khích tổ chức, cá nhân tôn giáo
tham gia các HĐTT, nhân đạo của Đảng và Nhà nước, một số tổ chức, cá
nhân nước ngoài đã thông qua các hoạt động tài trợ, phối hợp với các tôn giáo
với HĐTHXH để móc nối, kết cấu với các đối tượng xấu trong nước nhằm
thực hiện âm mưu chống phá chế độ và truyền đạo trái pháp luật. Cần phải có
giải pháp cụ thể để phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế những khó khăn, yếu
kém. Đây là một trong những vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến
lược trong công tác tôn giáo hiện nay.
Xuất phát từ tình hình trên, việc nghiên cứu thực trạng HĐTTXH của
GHPGVN và UBĐKCGVN ở tỉnh Kiên Giang để đề xuất giải pháp, kiến nghị
nhằm phát huy những hiệu quả và giảm thiểu những hạn chế, tiêu cực trong
hoạt động này sẽ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi cả về mặt lý luận và thực tiễn, là
nhiệm vụ vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược hiện nay. Vì vậy, học

3. Đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử (10/01/2015) tác giả Nguyễn Hữu
Tuấn có bài viết “Tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia chủ trương xã hội hóa y
tế, từ thiện nhân đạo”, trong đó, nêu lên sự tham gia của các tổ chức, cá nhân
tôn giáo vào hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo đã góp phần làm đa
dạng việc huy động các nguồn lực xã hội cho công tác xã hội nói chung, chăm
sóc y tế nói riêng; chia sẻ gánh nặng với chính quyền địa phương, với Nhà
nước và xã hội.
4. Đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (Số 389, năm 2016), các tác
giả Hoàng Thu Hương, Bùi Phương Thanh viết về “Tâm thế tham gia HĐTT
của Phật tử ở Việt Nam hiện nay”, bài viết có nêu sự xuất hiện của nhiều câu
lạc bộ, nhóm từ thiện cũng như sự gia tăng vai trò của các tổ chức Tôn giáo
với HĐTT.
5. Đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội (số 07, 2018), tác giả Hoàng
Văn Chung dịch bài viết “Hướng tới một khung tìm hiểu các hoạt động kinh
tế và từ thiện của các tôn giáo - Trường hợp nước Mỹ”, Brett G. Scharrffs,

4


bài viết đã giới thiệu những loại hình hoạt động từ thiện mà các tôn giáo
thực hiện và đề xuất một khung pháp lý quản lý các HĐTT, kinh tế của các
giáo hội ở Mỹ.
6. Đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 11, 2009), tác giả Nguyễn Ngọc
Sơn viết “Trách nhiệm xã hội của Ủy ban Bác ái xã hội - Caritas Việt Nam trong điều
kiện kinh tế thị trường”, bài viết đã nêu bật những kết quả trong hoạt động bác ái xã
hội mà Ủy ban Bác ái xã hội Caritas Việt Nam đã đạt được.
7. Cuốn sách “Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam”,
PGS.TS Trần Hồng Liên (2010), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu
mối quan hệ giữa Phật giáo và xã hội trong tình hình phát triển kinh tế-xã hội
của vùng đất Nam Bộ góp phần vào việc tìm hiểu vai trò xã hội của Phật giáo,

và một phần liên quan đến HĐTTXH. Các công trình nghiên cứu trên đây là
những tư liệu, tài liệu quý liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về xã hội hóa công tác nhân đạo, TTXH nói chung, của các tôn
giáo nói riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về HĐTTXH
một cách tổng thể của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng HĐTTXH của các tôn giáo ở
tỉnh Kiên Giang (cụ thể là Phật giáo và Công giáo) và đề xuất các giải pháp
phát huy hiệu quả HĐTTXH của các tôn giáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐTTXH
của các tôn giáo nói chung và HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh
Kiên Giang nói riêng trong bối cảnh đất nước đang trên đà phát triển thực
hiện cơ chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế.

6


Phân tích, đánh giá thực trạng về HĐTTXH của các tôn giáo ở tỉnh
Kiên Giang; những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế
của hoạt động này trong thời gian qua. Đồng thời nêu lên những xu hướng, cơ
hội và thách thức đối với việc phát huy vai trò của tôn giáo với HĐTTXH
trong nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định xã hội ở tỉnh Kiên Giang hiện nay
và định hướng phát triển trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là HĐTTXH của Phật giáo và
Công giáo ở tỉnh Kiên Giang hiện nay.

HĐTTXH của tôn giáo với quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
nói chung và ở tỉnh Kiên Giang nói riêng.
Đề xuất các giải pháp phát huy vai trò của các tôn giáo nói chung, của
Phật giáo và Công giáo nói riêng tham gia vào HĐTTXH ở tỉnh Kiên Giang
đến năm 2020 và mở rộng ra trong phạm vi cả nước.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với kết quả đạt được, luận văn góp phần làm rõ thêm lý luận về tôn
giáo với HĐTTXH nói chung và tôn giáo với HĐTTXH ở tỉnh Kiên Giang
nói riêng, từ đó giúp cho người đọc nhận thức đúng hơn về vấn đề này.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
các cơ quan chức năng ở Kiên Giang trong công tác lãnh đạo, quản lý
nhằm phát huy hiệu quả của tôn giáo với HĐTTXH phục vụ cho quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; làm tài liệu phục vụ công tác nghiên
cứu, giảng dạy, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo ở địa phương; đồng
thời làm cơ sở phát triển việc nghiên cứu ở tầm mức cao hơn những nội
dung liên quan đến đề tài.

8


8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương 8 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐTTXH và
HĐTTXH của các tôn giáo.
Chương 2: Thực trạng về HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh
Kiên Giang hiện nay.
Chương 3: Xu hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
HĐTTXH của Phật giáo và Công giáo ở tỉnh Kiên Giang.


10


Từ là lòng thương, sự hiền lành. Thiện là điều tốt. Từ thiện theo nghĩa
thông thường là lòng thương yêu, muốn làm điều tốt cho người khác. Tiếng
Anh/ Pháp: Charity/ Charité, có gốc Latin là Caritas, Carus nghĩa là tình
thương quảng đại.
Từ thiện được hiểu theo nghĩa là sự giúp đỡ những người có hoàn cảnh
khó khăn, thường được thể hiện bằng những hoạt động biếu tặng tiền bạc,
thức ăn, giúp đỡ những người đang cần giúp đỡ vì họ đang bệnh hoạn, nghèo
khổ, không nơi nương tựa… Trong ý nghĩa này, từ thiện là sự thể hiện của Từ
bi, Bác ái. Từ bi, Bác ái theo quan niện của Phật giáo và Công giáo không chỉ
có nghĩa là thương yêu chúng sinh mà còn có nghĩa là thể hiện lòng thương
yêu ấy bằng hành động, bằng việc làm cụ thể, tức là từ thiện.
Như vậy, ta có thể hiểu rằng: TTXH là những việc làm, hành động tốt
đẹp hướng đến cá nhân hoặc cộng động xã hội nhằm giúp đỡ họ vượt qua
những khó khăn trong cuộc sống.
Đối với khái niệm “hoạt động xã hội” là toàn bộ những hành động của
các tổ chức, cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội nhằm đem lại quyền và lợi ích
hợp pháp cho xã hội nói chung, con người nói riêng, đảm bảo cho sự phát
triển bền vững của xã hội, đem lại cho con người cuộc sống ngày càng hạnh
phúc, tươi đẹp hơn.
Đối với khái niệm “xã hội” thì các từ điển trên giải thích “Xã hội là
một tập thể hay nhóm những người được phân biệt với các nhóm người
khác được các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và
có cùng văn hóa”.
HĐTTXH được hiểu là việc tiến hành những việc làm tốt đẹp hướng
đến các cá nhân và tập thể trong cộng đồng xã hội nhằm giúp đỡ những người
gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.



12


11/12/1946, Quỹ này hoạt động tại Việt Nam vào năm 1975, có trụ sở tại
81A Trần Quốc Toản, Hà Nội.
Một số tổ chức TTXH của công giáo: sau Chiến tranh Thế giới thứ
Nhất (1914 - 1918), nhiều tổ chức Công giáo quốc tế chuyên HĐTTXH được
thành lập trên phạm vi toàn cầu. Mục tiêu của các tổ chức này là tham gia xây
dựng xã hội trần thế và dấn thân phục vụ Giáo hội địa phương, nhằm “đem
sức mạnh cứu độ của Đức Kitô đến với mọi quốc gia, các tổ chức chính trị,
kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, văn minh và phát triển”. Điển hình trong số các
tổ chức này là Hiệp hội Từ thiện Quốc tế (International Association of
Charities), lập năm 1617 tại Chatillon les Dombes, Pháp. Ủy ban Công giáo
Quốc tế Điều dưỡng viên Chăm sóc Y tế và Xã hội (International Catholic
Committee of Nurses and Medico-Social Assistants), lập năm 1933 tại Bỉ.
Caritas Quốc tế (Caritas Internationalis), thành lập năm 1951 tại Roma, Italia,
hiện đang hoạt động tại 194 nước. Ngoài ra, nhiều tổ chức Công giáo khác
tham gia trợ giúp người di cư, giúp phát triển y tế cho các nước đang phát
triển, giúp đỡ bệnh nhân, người khuyết tật…, điển hình như: Huynh đoàn Kitô
cho Bệnh nhân và Người khuyết tật (Christian Fraternity of the Sick anh
Handicapped) trụ sở tại Thụy Sĩ, Y học Quốc tế Toàn cầu (Medicus Mundi
Internationalis) thành lập năm 1964 tại Đức.
Giáo hội Công giáo hết sức đa dạng, nhưng đều có chung động lực là
góp phần giảm bớt đau khổ, giúp con người thăng tiến. Tính đến ngày
1/1/2003, Giáo hội Công giáo hoàn vũ có 11.675 viện điều dưỡng, 8.968 cô
nhi viện, 14.432 viện dưỡng lão, 678 trại phong, 16.526 trạm y tế, 5.393
bệnh viện.
Đối với các tổ chức TTXH trong các tôn giáo, đây là các tổ chức có vai
trò quan trọng trong việc liên kết, chắp nối để hoạt động TTXH các tôn giáo

chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải
quyết những vấn đề xã hội”.[8 tr. 83, 84]

14


Đến Nghị quyết Đại hội IX (2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Các
chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách
nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự
tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội”. [10, tr. 108]
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng ghi rõ: “Bảo đảm an
sinh xã hội… trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo
vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ
bị tổn thương”. Chủ trương này của Đảng rất phù hợp với tinh thần vì con
người của tôn giáo, sự tương đồng này là một trong những cơ sở quan trọng,
giúp cho các tôn giáo phát triển, đồng hành cùng dân tộc, thể hiện tinh thần
nhập thế hành đạo, thường xuyên tổ chức các HĐTTXH, hòa quyện cùng
những triết lý sống của người dân “Lá lành đùm lá rạch”, „Thương người như
thể thương thân”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”…
Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01-6-2012 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI, về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
đã đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội. Củng cố,
nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người
có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư
nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi,
người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão. Nghị quyết nêu: “Coi bảo
đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà
nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến 2020 cơ bản hình
thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm
người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội; bảo đảm

tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật.” [30, tr. 5]
Như vậy, từ chủ trương thực hiện xã hội hóa công tác xã hội, việc tham
gia xã hội hóa công tác xã hội từ thiện của các tôn giáo ở Việt Nam là một
chủ trương cụ thể của Đảng trong thời kỳ đổi mới, là căn cứ để Nhà nước thể
chế hóa bằng chính sách pháp luật trên lĩnh vực này.

16


1.1.2.2. Chính sách, pháp luật của Nhà nước về các tôn giáo tham gia
công tác xã hội, từ thiện:
Chủ trương của Đảng về xã hội hóa các hoạt động xã hội được cụ thể
hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn của đời
sống xã hội, trong những giai đoạn lịch sử cụ thể, như:
Nghị quyết số 50/2005/NQ-CP, ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy
mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.
Nghị định số 53/2006/NĐ-CP, ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính
sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập.
Nghị định số 69/2008/NĐ-CP, ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính
sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục,
dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; mở rộng các lĩnh vực và chính
sách khuyến khích thực hiện xã hội hóa và hoàn thiện hệ thống cơ chế khuyến
khích với ưu đãi cao hơn nhằm hình thành và phát triển hệ thống các cơ sở
cung ứng dịch vụ ngoài công lập.
Đối với các tôn giáo, trên cơ sở quan điểm chủ trương của Đảng,
Nhà nước ta có những quy định về các tôn giáo tham gia xã hội hóa công
tác TTXH cụ thể: Nghị định 26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999 của Chính
phủ về các hoạt động tôn giáo, quy định tại Điều 17 “Chức sắc, nhà tu hành
tôn giáo được hoạt động kinh tế, văn hóa-xã hội như mọi công dân khác.
Chức sắc, nhà tu hành và tổ chức tôn giáo hoạt động từ thiện theo quy định

(Kinh Pháp cú, 183. HT. Thích Minh Châu dịch).

Những việc làm như phóng sanh, tu phước, làm việc thiện chính là
con đường để giúp con người có được một cuộc sống bình an, thoát khỏi
tai họa. Trong kinh Diệu pháp Liên Hoa kinh và các kinh khác đều nhắc
đến tinh thần vô ngã, vị tha, tức khuyên con người sống có trách nhiệm với
cộng đồng, biết thể hiện lòng nhân ái của mình đến với người khác. Đồng

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status