VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN DUY THANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐẶNG MINH ĐỨC
HÀ NỘI, năm 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo
đúng quy định. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích
một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn. Các kết quả này chưa
từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.
Quảng Nam, ngày tháng
năm 2020
Tác giả luận văn
Phan Duy Thanh
Nghĩa đầy đủ
1
CQNN
Cơ quan nhà nước
2
CQQLNN
Cơ quan quản lý nhà nước
3
HĐND
Hội đồng nhân dân
4
LĐĐ
Luật đất đai
5
QLNN
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng biểu
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Huyện
1
2
3
4
Quế Sơn năm 2014
Nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp của các tổ chức, hộ
gia đình cá nhân trên địa bàn Huyện Quế Sơn năm 2019
Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp
năm 2018
Biểu đồ biểu thị diễn biến tình hình sử dụng đất nông
nghiệp năm 2017
PL
PL
PL
theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đất
đai, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Đất nông nghiệp là loại đất chiếm diện tích
1
lớn nhất của nước ta. Theo Nghị quyết số 17/2013/QH11 ngày 22/11/2011 của
Quốc hội về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020. Tổng diện tích đất thuộc nhóm
đất nông nghiệp sẽ là 26.732.000 ha, so với chỉ 4.880.000 ha đối với nhóm đất nghi
nông nghiệp. Theo cách phân loại mới của Luật đất đai năm 2013, nhóm đất ngôn
nghiệp ngoài sản xuất nông nghiệp là đất trông, trọt chăn nuôi (cây hàng năm, cây
lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản) ea còn bao gồm cả đất rừng, đất làm
muối. Đặc điểm của loại đất này là chủ thể sử dụng đất, phần lớn là hộ gia đình, cá
nhân. Theo các số liệu thống kê, hộ gia đồng cá nhân đang sử dụng 14.878 nghìn ha
chiếm 59.52% tổng diện tích đã giao, cho thuê; trong đó diện tích đất nông nghiệp
13.915 nghìn ha chiếm 93.53% diện tích đất nông nghiệp nhà nước đã giao, cho
thuê cho các đối tượng sử dụng. Đây là loại đất có ý nghĩa quan trọng trong việc
đảm bảo sự ổn định đời sống kinh tế xã hội của đại bộ phận dân cư nông thôn ảnh
hưởng đến an ninh lương thực, bảo vệ môi trường nên việc giao dịch phải đáp ứng
các điều kiện khắt khe hơn so với các loại đất khác. Đặc biệt là sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế sang hướng công nghiệp, dịch vụ và mở rộng quy mô, thành lập các đô
thị, chuyển mục đích sử dụng đất đối với đất nông nghiệp càng được quản lý
nghiêm ngặt.
Là một cấp trong bộ máy nhà nước, chính quyền cấp huyện, quản lý địa
giới hành chính với những nét đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên và xã hội, có
vai trò hết sức quan trọng trong quản lý đất đai theo mục đích yêu cầu đặt ra. Tuy
nhiên, quản lý nhà nước về đất đai ở cấp huyện những năm gần đây bộc lộ nhiều
vấn đề bất cập cần có những nghiên cứu nghiêm túc bằng luận cứ khoa học để có
chính sách, biện pháp điều chỉnh phù hợp. Quế Sơn là huyện trung du của tỉnh
2003, Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2014) đã có nhiều sửa đổi
quan trọng trong chính sách pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, thực tiễn thi hành pháp luật về đất
đai luôn phát sinh những đòi hỏi sửa đổi, cải cách trong xây dựng và thi hành pháp
luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp [26, tr. 31]. Cho đến nay, ở cấp độ luận văn
thạc sĩ, chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về quản lý nhà nước về
đất nông nghiệp dưới góc độ pháp lý, đặc biệt kể từ khi Luật đất đai năm 2013 được
ban hành thay thế Luật đất đai năm 2003 và có hiệu lực thi hành trên thực tế kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2014 .Quản lý nhà nước về đất đai hiện nay thu hút sự quan
tâm đặc biệt của cả các cơ quan, tổ chức, các nhà hoạch định chính sách lẫn người
hoạt động thực tiễn và các nhà khoa học, đã có nhiều bài viết trên tạp chí, trên báo
điện tử. Có thể đến kể đến một số công trình tiêu biểu:
3
- Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai của
chính quyền Quận Tây Hồ” của NCS. Nguyễn Thế Vinh thực hiện tại trường Đại
học Kinh tế Quốc dân năm 2006. Luận án đã hệ thống hoá những đặc trưng cơ bản
quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền quận, làm rõ các quan hệ trong quản lý
và sử dụng đất trên địa bàn quận. Phân tích và luận bàn về mặt lý luận và thực tiễn
vai trò quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền quận, xây dựng và đánh giá
quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền quận bằng hệ thống chỉ tiêu đánh giá.
Ngoài những đề xuất, kiến nghị, biện pháp quản lý thích hợp nhằm hoàn thiện quản
lý nhà nước về đất đai, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn
quận Tây Hồ;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Quản lý nhà nước về đất đai từ thực tiễn
thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” của học viên Trần Thị Mỹ Hạnh thực hiện
tại Học viện Khoa học xã hội năm 2016. Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng
quản lý nhà nước về đất đai của thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang trong những
năm qua và nêu ra những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế yếu kém và
Yên, tỉnh Bắc Giang. Đồng thời, Luận văn đưa ra các kiến nghị và giải pháp thích
hợp hoàn thiện phương thức thi hành pháp luật về QLNN đối với đất đai tại huyện
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với đất đai
tại huyện Tân Yên, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội huyện Tân Yên phát triển. Bên
cạnh đó, những lý luận mà Luận văn đưa ra có thể sử dụng cho chính quyền cấp
huyện sử dụng trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai; hoàn thiện chính sách
pháp luật về QLNN đối với đất đai.
Nhìn chung, Các công trình nghiên cứu khoa học nói trên chỉ mới dừng lại
ở việc nghiên cứu hệ thống hóa lý luận cơ bản đối với QLNN về đất đai; làm rõ vai
trò chủ sở hữu đất đai mà đại diện cho Nhà nước là với người sử dụng đất trong nền
kinh tế thị trường. Đồng thời, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về
QLNN về đất đai và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về QLNN về đất đai. Như vậy, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu dưới cấp độ
Luận văn thạc sĩ luật học về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp. Do đó,
nghiên cứu đề tài này trong thời điểm hiện nay là việc làm không có sự trùng lặp
với bất cứ công trình khoa học nào hiện có trong lĩnh vực này tại Việt Nam. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên chính là tài liệu vô cùng quý báu đã cung
cấp các nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đất đai giúp tác
giả trong việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn thạc sĩ của mình.
Trên
cơ
sở
thừa kết quả nghiên cứu của những công trình trước đó, Luận văn sẽ tiến hành
nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện những lý luận cơ bản về quản lý nhà
5
trên địa bàn Huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam trong những năm qua và nêu ra
những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế yếu kém và nguyên nhân;
•
Trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công
tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên
quan đến hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp. Thực trạng hoạt động thi
hành pháp luật và phương thức thi hành pháp luật quản lý nhà nước về đất nông
nghiệp trên địa bàn Huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
được giới hạn như sau:
Về nội dụng: Hoạt động quản lý nhà nước về đất đai có nội dung rất rộng,
theo quy định tại Luật đất đai năm 2013 có 15 nội dung về quản lý và sử dụng đất.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn, phạm vi nghiên cứu thực trạng pháp
luật và thực tiễn thi hành pháp luật quản lý nhà nước qua các nội dung về: (i) quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp; (ii) thống kê, kiểm kê đất đai, lập bản đồ
hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp; (iii) kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp
luật đất đai; xử lý vi phạm hành chính trong quản lý, sử dụng đất nông nghiệp; (iv)
giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng
đất nông nghiệp.
Về không gian: địa bàn Huyện Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam
nghiệp; (iii) Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp;
•
Phương pháp luật học và luật học so sánh được sử dụng chủ yếu ở
chương 2, để phân tích, giải thích các quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối
với đất nông nghiệp;
•
Phương pháp so sánh pháp luật được dùng chủ yếu ở chương 2, 3 để
so sánh quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp được quy
định tại Luật Đất đai 2013 so với các quy định của Luật Đất đai 2003;
•
Phương pháp thống kê cũng được sử dụng ở chương 2 khi xử lý các
số liệu từ các báo cáo tình hình sử dụng đất để có cái nhìn khái quát về thực tiễn thi
hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn Huyện
Quế Sơn, Tỉnh Quảng Nam, kể từ khi Luật đất đai năm 2013 thay thế Luật đất đai
năm 2003 có hiệu lực thi hành trên thực tế;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã tiến hành nghiên cứu một các hệ thống và toàn diện lý luận
cơ bản về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp của chính quyền cấp huyện. Về
mặt lý luận, Luận văn đã chỉ ra được khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà
nước đối với đất nông nghiệp. Đồng thời, phân tích và làm rõ các nội dung cơ bản
của hoạt động quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, luận văn đã
chỉ rõ được các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp;
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ bao đời nay, đất đai luôn là cái nôi để nuôi dưỡng sự sống của con người,
là nơi ăn chốn ở, điều kiện để sinh tồn, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng không
gì thay thế được trong sản xuất nông, lâm nghiệp. Với tổng diện tích hơn 33 triệu
ha, ở Việt Nam đất đai được chia làm nhiều loại căn cứ theo mục đích sử dụng, đất
nông nghiệp là một loại đất nằm trong vốn đất đai thống nhất của quốc gia.
Đất nông nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản
pháp luật đất đai ở nước ta. Theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam, đất
nông nghiệp thường được coi là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như ngô, khoai,
sắn và những loại cây được coi là lương thực. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng
đất nông nghiệp khá phong phú, không chỉ đơn thuần là trồng lúa, hoa màu mà còn
được sử dụng để trồng các loại cây lâu năm hay dùng vào mục đích chăn nuôi gia
súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản,…
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp): “Đất nông
nghiệp: Tổng thể các loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ
cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi,
bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành công nghiệp và dịch
vụ”
Điều 42, Luật Đất đai 1993 quy định về đất nông nghiệp như sau: “Đất nông
nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”.
Với quy định của Luật Đất đai năm 1993, đất đai ở Việt Nam được chia làm 6 loại:
đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất đô thị, đất khu dân cư nông
thôn và đất chưa sử dụng, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu của các loại đất.
Theo sự phân loại này, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai
10
loại đất trong số sáu loại đất thuộc vốn đất quốc gia và được định nghĩa theo Điều
42 và Điều 43 của Luật Đất đai năm 1993. Với quy định về đất nông nghiệp trong
Luật Đất đai năm 1993, ở nước ta quan niệm đất nông nghiệp dựa vào tiêu chí mục
2013 quy định nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loạt đất cụ thể sau: (i) Đất trồng
cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (ii) Đất trồng cây
lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; (v) Đất rừng đặc dụng; (vi)
Đất nuôi trồng thủy sản; (vii) Đất làm muối; (viii) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử
dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả
các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia
súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn
nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo
cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh;
Như vậy, theo quy định của Luật đất đai năm 2013 đã tiếp nhận cách thức
phân loại nhóm đất nông nghiệp theo LĐĐ năm 2003, đồng thời đã quy định cụ thể
các loại “đất nông nghiệp khác”
Sự phân loại theo LĐĐ năm 2013 là phù hợp. Một mặt, chúng đảm bảo sự
quản lí tập trung, thống nhất trong quản lí đất đai của Nhà nước, giúp cho các cơ
quan quản lý đất đai ở địa phương dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc theo dõi, kiểm
tra, giám sát quá trình khai thác, sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân. Mặt
khác, xét từ thực tế sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân từ xa xưa đến nay,
trong mỗi hộ gia đình, cá nhân thì họ thường không sử dụng thuần túy một loại đất
riêng rẽ như: đất trồng lúa, trồng màu, mà đó là sự đan xen của việc khai thác và sử
dụng kết hợp của nhiều loại đất khác nhau như đất: trồng lúa, trồng màu, trồng cây
ăn quả, đất nuôi trồng thuỷ sản hoặc kết hợp với trồng rừng sản xuất, đất làm
muối... Việc kết hợp sử dụng nhiều loại đất như vậy, là một nhu cầu tất yếu khách
quan của mỗi hộ muốn nâng cao năng lực sản xuất, tận dụng quỹ đất để khai thác có
hiệu quả đất đai, có điều kiện để mở rộng sản xuất và ứng dụng khoa học kỹ thuật,
đầu tư vốn thuận lợi, dễ dàng... Đây cũng là sự phù hợp với chủ trương mà Đảng và
Nhà nước ta đang khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình nông trang trại,
kết hợp nông - lâm - ngư - diêm đối với hộ nông dân. Vì vậy, phân loại đất nông
nghiệp theo pháp luật hiện hành là một sự hợp lí, vừa thuận lợi cho việc quản lí, vừa
chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, đặc biệt là đất rừng phòng hộ vì đây là
loại đất có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ đời sống, sản xuất và môi
trường trong lành cho con người. Vì vậy, nghiên cứu khái niệm đất nông nghiệp có
ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng cơ chế và chính sách bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp phù hợp. Mặt khác, giúp cho các cơ quan chức năng
thực hiện pháp luật, phân loại và xác định cách thức cũng như mức bồi thường đối
với từng loại đất để đảm bảo quyền lợi cho người có đất bị thu hồi, nhưng vẫn đảm
13
bảo sự quản lí và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước, đồng thời, phản ánh trung thực,
khách quan nguồn gốc, diễn biến, hiện trạng của quá trình sử dụng đất.
Ngoài những đặc điểm chung của đất đai, như đó là tài sản không do con
người tạo ra, có tính cố định và không thể di dời,… vvv; đất nông nghiệp còn có
những đặc điểm riêng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đất nông nghiệp là loại đất mà giá trị sử dụng phụ thuộc chủ yếu
vào chất lượng đất đai, độ màu mỡ phì nhiêu của đất.
Gía trị của đất đô thị, đất ở hay một số loại đất chuyên dùng khác phụ thuộc
chủ yếu vào các yếu tố như vị trí địa lý của khu đất đó, khả năng sinh lợi, mức độ
hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng, hướng, hình thể, kích thước, diện tích v.v.
Đối với đất nông nghiệp, do sử dụng làm tư liệu sản xuất, nên giá trị của loại đất
này lại phụ thuộc vào các yếu tố nông, hóa, thổ nhưỡng như độ phì nhiêu, tầng dày
của lớp đất mặt, độ dốc, độ PH (độ chua) v.v.. Độ phì hay độ màu mỡ là một thuộc
tính tự nhiên của đất nông nghiệp và là yếu tố quyết định chất lượng của đất. Đây là
một đặc trưng của đất nông nghiệp, thể hiện khả năng cung cấp thức ăn, nước cho
cây trồng trong quá trình phát triển.
Đặc điểm này của đất nông nghiệp đã minh chứng rõ vì sao trong các quy định
của pháp luật hiện hành về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, về các trường hợp thu
hồi đất, về chuyển mục đích sử dụng đất v.v. thì đối với loại đất nông nghiệp có giá
kinh doanh phi nông nghiệp, chuyển từ loại đất trồng cây hàng năm sang loại đất
trồng cây lâu năm...
1.1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp
Khái niệm quản lý nhà nước (QLNN) được khoa học quản lý và khoa học
pháp lý chỉ ra rằng:
Theo thuật ngữ hành chính thì QLNN chỉ hoạt động thực hiện quyền lực
nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội
và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội nhằm mục đích
ổn định và phát triển đất nước [77, tr 87].
Theo từ điển giải thích từ ngữ Luật học “quản lý nhà nước là tác động của
chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới đối tượng quản lý
nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Tất cả các CQNN đều
làm chức năng QLNN. Pháp luật là phương tiện chủ yếu để QLNN. Bằng pháp luật,
nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân thay mặt họ tiến hành hoạt
động QLNN. [57, tr.96]”
15
Theo giáo trình Luật hành chính Việt Nam thì QLNN là hoạt động của nhà
nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức
năng đối nội và đối ngoại của nhà nước [58, tr.11].
Từ những khái niệm về quản lý nhà nước trên thì theo tác giả quản lý nhà
nước được hiểu là là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu
bằng pháp luật, tới các đối tượng nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước.
Đất đai có vị trị và tầm quan trọng đặc biệt đối với con người ở nhiều
phương diện. Một là, đất đai không do con người tạo ra mà do tự nhiên tạo ra. Đất
đai là tặng vật của tự nhiên ban cho con người. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt
không gì có thể thay thế trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp. Hai là, Đất đai là địa bàn phân bố dân cư; xây dựng cơ sở văn hóa, kinh tế
dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thuỷ sản hay để trồng các cây lâu
năm [59, tr.72].
Căn cứ vào mục đích sử dụng, Luật Đất đai 45/2013/QH13 được Quốc hội
thông qua ngày 29/11/2013 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2014 tại Điều
10 quy định đất đai được chia thành 08 loại: “(1) Đất trồng cây hàng năm gồm đất
trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (2) Đất trồng cây lâu năm; (3) Đất rừng
sản xuất; (4) Đất rừng phòng hộ; (5) Đất rừng đặc dụng; (6) Đất nuôi trồng thủy
sản; (7) Đất làm muối; (8) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà
kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt
không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại
động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy
sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống
và đất trồng hoa, cây cảnh”.
Phân loại đất là việc phân chia đất thành từng nhóm hay các loại đất khác
nhau với những tên gọi đặc trưng. Nếu khoa học thổ nhưỡng phân loại đất nhằm
phục vụ cho kỹ thuật canh tác thì khoa học pháp lý nghiên cứu việc phân loại đất
theo mục đích sử dụng của từng loại đất khác nhau dựa vào đặc điểm tự nhiên, kinh
tế - xã hội của từng loại đất nhằm phục vụ cho việc quản lý và sử dụng đất đai có
định hướng và hiệu quả [23, tr.18]. Việc phân loại đất có ý nghĩa quan trọng trong
việc xây dựng các quy phạm pháp luật quy định chế độ pháp lý đối với từng loại
đất, tạo điều kiện cho việc quản lý, sử dụng từng loại đất hợp lý, tiết kiệm và đạt
hiệu quả kinh tế [13, tr.05].
Theo tác giả, có thể hiểu đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc
tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục
đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ
17
sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông, lâm
18
học, tiết kiệm, nhằm mang lại nguồn lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và tinh thần
cho mọi người, đảm bảo đất nông nghiệp được sử dụng lâu dài theo đúng mục đích,
đúng quy hoạch, kế hoạc sử dụng đất nông nghiệp được phê duyệt [75, tr.16].
Bằng hoạt động QLNN, Nhà nước tính toán đến các điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội, đến nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp cho các mục tiêu phát triển
của đất nước, tính toán đến quỹ đất của cả nước và từng địa phương để tìm ra
phương án sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, tiết kiệm;
Việc phân bổ đất nông nghiệp thường chịu sự tác động của quy luật cung
cầu, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảm bảo sự
công bằng. Ngoài ra chính sách của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho mọi tầng lớp
dân cư được tiếp cận với việc SDĐ được dễ dàng. Thông qua hoạt động QLNN,
Nhà nước tiến hành giao đất nông nghiệp lâu dài và ổn định cho hộ gia đình và cá
nhân, khuyến khích họ khai thác và SDĐ theo hướng có hiệu quả cũng như xử lý
nếu sai phạm. Khi cần thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích kinh tế xã hội, Nhà
nước thực hiện những chính sách đền bù thoả đáng. Quyền lợi của người bị thu hồi
đất nông nghiệp được bảo đảm bù đắp những thiệt hại bị mất đi vì lợi ích chung,
giúp cho người SDĐ yên tâm đầu tư phát triển đất đai [32, tr.46].
Thứ ba, quản lý nhà nước về đất nông nghiệp gắn liền với hoạt động thị
trường quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp được hiểu là tổng hòa các mối
giao dịch có điều kiện về QSĐ nông nghiệp diễn ra trong một không gian nhất định,
tại một địa điểm nhất định, vào một khoảng thời gian nhất định [27, tr.42-43].
Đất nông nghiệp là loại đất chiếm diện tích lớn nhất của nước ta. Theo
Nghị quyết số 17/2013/QH11 ngày 22/11/2011 của Quốc hội về quy hoạch sử dụng
đất đến năm 2020. Tổng diện tích đất thuộc nhóm đất nông nghiệp sẽ là 26.732.000
ha, so với chỉ 4.880.000 ha đối với nhóm đất nghi nông nghiệp. Đặc điểm của loại
đất này là chủ thể sử dụng đất, phần lớn là hộ gia đình, cá nhân.
Theo báo cáo của Bộ TN&MT với tổng kết sơ bộ năm 2020 của 60 tỉnh
thành cả nước thì đã phát hiện 190.000 trường hợp vi phạm về diện tích đất là 8.000
ha, trong đó sai phạm phổ biến là bán đất trái phép, cấp đất, giao đất trái thẩm
quyền. Các sai phạm trong quy hoạch đất nông nghiệp như việc lập quy hoạch các
KCN, KCX, làng nghề vào các vùng dân cư tập trung, sử dụng toàn bộ diện tích đất
nông nghiệp; quy hoạch đô thị sinh thái nhưng lại bỏ dở dang. Ngoài ra có nhiều sai
phạm trong lập kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận [5]. Do đó bảo vệ quyền
tài sản của người sử dụng đất trong quản lý nhà nước là vấn đề cần thiết.
20