Giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tại phú thọ - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN TOÀN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO
PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TẠI PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội - 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN TOÀN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO
PHÁP LUẬT TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TẠI PHÚ THỌ

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ NGỌC HIỂN

Hà Nội - 2020


PHÁP LUẬT .................................................................................................. 51
3.1. Một số đặc điểm chung địa bàn tỉnh Phú Thọ ................................. 51
3.2. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo pháp luật
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ........................................................................ 51
3.3. Nguyên nhân .................................................................................... 68
3.4. Kiến nghị .......................................................................................... 70
3.5. Giải pháp .......................................................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81


DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

- BLDS: Bộ luật Dân sự
- BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự
- HĐXX: Hội đồng xét xử
- HTND: Hội thẩm nhân dân
- HĐTP: Hội đồng Thẩm phán
- TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
- TTLT: Thông tư liên tịch
- UBND: Ủy ban nhân dân
- VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Số lượng án tranh chấp di sản thừa kế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.. 52
Bảng 2.2. Bảng biểu số liệu án tranh chấp di sản thừa kế .............................. 54
Bảng 2.3. Số lượng án tranh chấp di sản thừa kế theo pháp luật Bị hủy, sửa
theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm ......................................................... 60

nước ta lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hồng Đức dưới triều đại của

1


Vua Lê Thái Tổ và vấn đề này nằm trong chương Điền Sản của Bộ luật. Trải qua
quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, chế định này đã được quy định, mở
rộng và được quy định rất cụ thể trong các bản Hiến pháp của nhà nước ta như:
Điều 19 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ
quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân”; Điều 27 Hiến pháp năm 1980 “Nhà
nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”; Điều 58 Hiến pháp năm 1992
“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế công dân”…trong
giai đoạn này, sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 1995, sau đó là Bộ luật Dân sự
năm 2005 đã đánh dấu sự phát triển của hệ thống pháp luật dân sự của nước ta
nói chung, pháp luật về thừa kế nói riêng; Bộ luật Dân sự năm 2005 được xem là
thành quả của quá trình pháp điển hóa những quy định của pháp luật về quyền
thừa kế, nó kế thừa và phát triển những quy định phù hợp với thực tiễn, không
ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của công dân nói chung, nhất là những
người được hưởng thừa kế; Chưa dừng lại ở đó, Hiến pháp năm 2013 còn quy
định khá chặt chẽ về quyền thừa kế, cụ thể tại Điều 32 “Quyền sở hữu tư nhân và
quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”, thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm
2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định khá chặt chẽ về quyền thừa kế nhằm
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Các tranh chấp về thừa kế có xu hướng ngày càng tăng trong thực tế với
tính chất ngày càng phức tạp. Sự áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các
cấp Tòa án, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế của các cá nhân là những yếu tố
làm cho tranh chấp về thừa kế, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến việc xác
định di sản thừa kế và cách phân chia di sản thừa kế ngày một tăng, làm cho các
vụ kiện tranh chấp về bị kéo dài, không dứt điểm. Hơn nữa, khi cơ chế thị trường
được mở ra, con người có điều kiện lao động tốt hơn, vì vậy mà khối tài sản họ

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về thừa kế tương đối nhiều và ở các cấp độ
khác nhau như các khoá luận cử nhân, luận văn cao học và các luận án tiến sĩ.
Ngoài ra, còn một số bài viết trong các tạp chí Luật học của Trường Đại học Luật
Hà Nội, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật của Bộ Tư Pháp, Tạp chí Toà án Nhân dân.
- Các luận án tiến sĩ:
+ Phùng Trung Tập: “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ
năm 1945 đến nay”. Luận án nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của

3


thừa kế theo pháp luật ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Nội dung chủ yếu của luận
án làm rõ các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ảnh hưởng đến việc điều
chỉnh pháp luật về diện và hàng thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam.
+ Phạm Văn Tuyết: “Thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”.
Đề tài nghiên cứu những vấn đề như: khái niệm về di chúc, quyền của người lập
di chúc, các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
+ Trần Thị Huệ: “Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam- những vấn đề lý
luận và thực tiễn”. Luận án tập trung nghiên cứu về những vấn đề như: cơ sở lý
luận về di sản thừa kế, quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về di sản thừa kế,
thanh toán và phân chia di sản thừa kế, thực tiễn áp dụng trong việc xác định,
thanh toán, phân chia di sản thừa kế và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp
luật về di sản thừa kế.
- Luận văn cao học:
+ Nguyễn Thị Vĩnh: “Thừa kế theo pháp luật trong BLDS Việt Nam”. Nội
dung chủ yếu gồm các vấn đề sau: khái niệm thừa kế theo pháp luật, diện và
hàng thừa kế, thừa kế thế vị, các trường hợp thừa kế theo pháp luật.
+ Nguyễn Thị Hồng Bắc: “Một số vấn đề thừa kế theo pháp luật trong
BLDS Việt Nam”.

Mục đích của luận văn là tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên
quan đến các quy định về thừa kế theo pháp luật, giải quyết tranh chấp thừa kế
theo pháp luật bao gồm làm rõ khái niệm thừa kế theo pháp luật, các quy định về
giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật, phân tích tiến trình phát triển của
pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật đồng thời có sự so sánh giữa thừa
kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc để rút ra được đặc trưng của mỗi hình
thức và để có thể nhìn nhận vấn đề thừa kế một cách toàn diện.
Nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp thừa kế theo
pháp luật. Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, thực
tiễn giải quyết giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án các
cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Đồng thời, đề xuất một số ý kiến, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
trong quá trình giải quyết các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất tại Việt
Nam hiện nay.

5


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu pháp luật giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật theo

thủ tục tố tụng dân sự;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp

luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án tỉnh Phú Thọ;
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp

thừa kế quyền sử dụng đất và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án các cấp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực thừa kế.
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để phân tích, khái quát
các vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng áp dụng quy định của Pháp luật
về quyền thừa kế theo pháp luật.
- Phương pháp hệ thống: luận văn sử dụng phương pháp phân tích theo hệ
thống các vấn đề nghiên cứu đặt trong hệ thống có mối quan hệ biện
chứng, hữu cơ như một chỉnh thể thống nhất.
- Phương pháp lịch sử được sử dụng trong luận văn để nghiên cứu quá trình
hình thành, phát triển và yêu cầu đổi mới pháp luật về thừa kế nói chung và giải
quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật nói riêng
- Luận văn sử dụng phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, xem xét
từng vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, các quy định
pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật.
- Phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa được sử dụng trong Chương 3
nhằm đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thừa kế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Trên cơ sở kiến giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các qui định
chung về thừa kế theo pháp luật, nhằm phát triển, mở rộng đối tượng nghiên cứu
quan trọng của ngành khoa học pháp lý dân sự về tài sản. Hiện nay, khoa học
pháp lý thừa nhận quyền thừa kế là quyền để lại tài sản cho người khác hưởng, là

7


quyền hưởng tài sản của người để lại thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm
phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế và các chủ thể khác.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lý luận pháp
luật về thừa kế đặc biệt là việc giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật

Quan hệ thừa kế là một quan hệ xã hội được pháp luật dân sự điều chỉnh và
trở thành một quan hệ pháp luật. Pháp luật thừa kế quy định các quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể thuộc quan hệ thừa kế.
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp
luật thừa nhận. Công dân có quyền để lại thừa kế thuộc quyền ở hữu của mình
cho người khác, nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền nhận
thừa kế của công dân.
Theo nghĩa khách quan, thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng
hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết
cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy
định phạm vi quyền và nghĩa vụ, phương thức bảo vệ quyền và nghĩa vụ của
người thừa kế.
1.1.2. Khái niệm thừa kế theo pháp luật
Pháp luật thừa kế của nước ta từ năm 1945 đến nay đều quy định hai hình
thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.

9


Nếu như thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển di sản của một người đã
chết cho người khác theo sự định đoạt hợp pháp của người lập di chúc khi còn
sống thì thừa kế theo pháp luật có thể được hiểu là sự dịch chuyển di sản của
người chết cho người còn sống trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ hôn
nhân, quan hệ nuôi dưỡng hay quan hệ thân thuộc giữa người có tài sản để lại
sau khi họ chết và người nhận di sản.
Thừa kế theo pháp luật là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho những
người còn sống theo hàng thừa kế. Như phân tích ở trên, cá nhân có quyền sở
hữu đối với tài sản của mình, sau khi cá nhân chết, số tài sản còn lại được chia
đều cho những người thừa kế. Người được thừa kế theo pháp luật là những
người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với

luật” là một loại tranh tranh giành về tài sản của người đã chết để lại chưa rõ
thuộc về bên nào, được xem xét theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế
do pháp luật quy định.
1.1.4. Các trường hợp thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật không chỉ phát sinh khi người để lại di sản không có
di chúc mà còn có thể phát sinh trong nhiều tình huống khác. Qua mỗi giai đoạn
phát triển, quy định về các trường hợp thừa kế theo pháp luật ngày càng rõ ràng,
chặt chẽ và toàn diện hơn. Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 thì
thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:
Một là, không có di chúc. Đây là trường hợp theo quy định của Pháp luật,
người để lại di sản đáp ứng yêu cầu về năng lực chủ thể trong việc lập di chúc
nhưng lại không thực hiện quyền lập di chúc của mình.
Hai là, di chúc không hợp pháp. Mặc dù người để lại di sản có lập di chúc
nhưng di chúc này lại không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của di
chúc theo quy định cuả Pháp luật dẫn đến di chúc vô hiệu (không có giá trị pháp
lý, di sản sẽ được chia theo pháp luật.
Ba là, những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời
điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc
không còn vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp này, di chúc bị coi là vô hiệu
căn cứ khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong
trường hợp nếu chỉ có một trong số những người thừa kế theo di chúc chết trước

11


hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản hoặc một trong số các cơ quan,
tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan
đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật.
Bốn là, những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà
không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản. Khi mở thừa kế nếu

người này một phần di sản nhất định. Khi đó, phần di sản của những người thừa
kế này sẽ bị coi là vô hiệu và được chia theo pháp luật.
Tám là, phần di sản có liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản
theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế. Điều kiện để một cơ
quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc là cơ quan tổ chức đó phải tồn tại
vào thời điểm mở thừa kế. Điều này có nghĩa là vào thời điểm người để lại di sản
chết mà cơ quan, tổ chức đã chấm dứt hoạt động thì sẽ không được hưởng thừa
kế. Đó là trường hợp pháp nhân bị giải thể hoặc phá sản, quyền và nghĩa vụ của
pháp nhân hoàn toàn chấm dứt nên pháp nhân không còn tồn tại trên thức tế.
Việc xác định các trường hợp thừa kế theo pháp luật là vô cùng quan trọng
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người có quyền thừa kế theo
pháp luật đồng thời tránh tình trạng để lại di sản bị đóng băng gây lãng phí cho
gia đình và xã hội.
1.2. Phân biệt thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
Pháp luật thừa kế của Việt Nam cũng như pháp luật thừa kế của nhiều quốc
gia trên thế giới điều ghi nhận hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo
pháp luật. Giữa hai hình thức thừa kế này có mối quan hệ qua lại mật thiết với
nhau, có thể cùng được áp dụng trong việc phân chia di sản hoặc mang tính chất
loại trừ nhau, có thể áp dụng độc lập một hình thức. Phân biệt thừa kế theo di
chúc và thừa kế theo pháp luật để tìm ra điểm giống và khác nhau là hết sức cần
thiết. Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho việc nhìn nhận vấn đề chia thừa kế một
cách toàn diện, áp dụng quy định của Pháp luật một cách chính xác nhằm bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền thừa kế. Hai hình thức thừa
kế này có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt nhau.
Dưới đây là những điểm chung và điểm khác biệt cơ bản.
Điểm giống nhau cơ bản, nổi trội nhất của hai hình thức thừa kế này được
thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, đều là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho người
sống và Thứ hai, người để lại di sản thừa kế đều là cá nhân.

13

khác theo luật định

14


Như vậy, về cơ bản thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật khác
nhau về ý chí chủ thể để lại di sản, người thừa kế, cách thức phân chia thừa kế và
thứ tự áp dụng.
1.3. Giải quyết tranh chấp về thừa kế theo pháp luật
1.3.1. Đặc trưng của giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
1.3.1.1. Đặc trưng về thẩm quyền:
Tranh chấp thừa kế là một loại tranh chấp dân sự đặc thù bởi nó chịu sự
điều chỉnh của quan hệ pháp luật về thừa kế đồng thời cũng chịu sự điều chỉnh
một số quan hệ pháp luật khác như Luật đất đai (trong trường hợp di sản thừa kế
tranh chấp là quyền sử dụng đất), Luật doanh nghiệp (trong trường hợp di sản
thừa kế là các quyền tài sản, quyền sở hữu về cổ phiếu, cổ phần…). Tuy nhiên,
theo quy định pháp luật hiện hành, việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp thừa kế tài sản căn cứ quy định của BLTTDS. Theo đó Tòa án là cơ quan
duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế theo thủ tục tố tụng dân
sự. Ủy ban nhân dân hoặc văn phòng công chứng chỉ có thẩm quyền công nhận,
công chứng sự thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Đây không phải là việc giải
quyết tranh chấp mà chỉ là một hành vi pháp lý công nhận hoặc công chứng một
sự kiện pháp lý trên cơ sở sự thống nhất và thỏa thuận các bên trong quan hệ
pháp luật về thừa kế
1.3.1.2. Đặc trưng về đương sự
Theo quy định tại khoản 1, Điều 68 BLTTDS: “Đương sự trong vụ án dân
sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan” [BLTTDS]. Như vậy đương sự trong vụ án dân sự nói
chung gồm 3 đối tượng. Nguyên đơn là người khởi kiện hoặc được cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết

kế theo di chúc. Đó là chưa kể đến trường hợp những vụ án đặc biệt phức tạp,
chẳng hạn người chết có để lại di chúc nhưng di chúc đó chỉ có hiệu lực một
phần. Khi đó Tòa án sẽ phải xác định rõ những đối tượng được hưởng di sản
theo di chúc và những đối tượng được hưởng di sản theo pháp luật. Do đó,
đương sự trong vụ án cũng sẽ đa dạng và phức tạp hơn. Như vậy, xác định
đương sự trong vụ án tranh chấp thừa kế theo pháp luật là rất quan trọng đối với
việc giải quyết vụ án đúng và hiệu quả. Tòa án xác định sai đương sự trọng vụ án

16


tranh chấp di sản thừa kế theo pháp luật sẽ dẫn đến việc triệu tập đương sự trong
vụ án không đầy đủ, sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ án mà
cụ thể là bản án sẽ tuyên tại Tòa. Xác định sai đương sự tham gia vụ án là vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng có thể dẫn việc bản án đã tuyên của Tòa án bị
hủy. Chính vì vậy, việc lập sơ đồ, thống kê một cách đầy đủ và chính xác hàng
thừa kế là rất quan trọng. Để thực hiện được vấn đề này, cần phải xem xét nhiều
văn bản, tài liệu khác nhau như giấy khai sinh, giấy tờ liên quan đến nhận nuôi
con nuôi, giấy đăng ký kết hôn… Việc kiểm tra, xác minh các giấy tờ này càng
trở nên khó khăn, mất nhiều thời gian, chi phí hơn khi đối tượng thừa kế thuộc
diện, hàng thừa kế là người Việt nam định cư ở nước ngoài.
1.3.1.3. Đặc trưng về áp dụng pháp luật
Giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế theo pháp luật là một loại tranh
chấp dân sự đặc thù, về bản chất là tranh chấp thừa kế nhưng tài sản tranh chấp
lại là căn cứ để xác định văn bản áp dụng. Do đó, để giải quyết loại tranh chấp
này cần áp dụng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật đất đai, Bộ luật
dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật tố tụng dân sự…
Chẳng hạn, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thì cần xem xét các quy định của
Luật đất đai; xác định chính xác những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
người để lại di sản thì cần tham chiếu quy định của Luật hôn nhân gia đình; Luật

theo pháp luật
Tranh chấp về thừa kế theo pháp luật được Tòa an giải quyết theo một trình tự,
thủ tục nhất định trên cơ sở quy định của BLTDS. Quy định này thể hiện sự chặt
chẽ của Pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp về quyền thừa kế được
chính xác, khách quan, công bằng và hiệu quả. Trình tự, thủ tục giải quyết các tranh
chấp về thừa kế theo pháp luật cũng giống như trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân
sự nói chung, song nó có những đặc thù riêng. Khi tiến hành thụ lý, giải quyết tranh
chấp thừa kế theo thủ tục tố tụng dân sự, Tòa án cũng cần xem xét các điều kiện thụ
lý vụ án như: điều kiện về chủ thể khởi kiện, điều kiện về thẩm quyền giải quyết,
điều kiện về hình thức và nội dung đơn khởi kiện, điều kiện về các tài liệu chứng cứ
kèm theo đơn khởi kiện, điều kiện tạm ứng án phí. Việc xác định thẩm quyền của
Tòa án khi giải quyết tranh chấp thừa kế mà di sản là quyền sử dụng đất cũng là một
đặc trưng của giải quyết loại tranh chấp này.

18


1.4. Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
1.4.1. Pháp luật nội dung về giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp luật
Thừa kế được xác định là một chế định quan trọng trong Pháp luật Việt
Nam. Do đó ngay từ trước cách mạng tháng tám năm 1945, pháp luật thời kỳ
phong kiến, thời kì pháp thuộc đã có những quy định về thừa kế nói chung và
thừa kế theo pháp luật nói riêng. Trong đó thừa kế theo pháp luật đã xuất hiện ở
Luật Hồng Đức, Luật Gia Long cũng như pháp luật thời pháp thuộc. Tuy nhiên ở
những thời kì này, do bản chất của giai cấp thống trị, những quy phạm này chủ
yếu để bảo vệ tôn ti trật tự của chế độ phong kiến dẫn tới sự bất bình đẳng trong
quan hệ thừa kế, đặc biệt là giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, ngày 10/10/1945, Chính phủ
lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh cho phép áp
dụng luật lệ của chế độ cũ trong đó có những quy định về thừa kế. Ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status