Giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo pháp luật việt nam từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tại thành phố hồ chí minh - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THU PHƯƠNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM
DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 9380107

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS BÙI ANH THỦY

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án “Giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn xét xử của Tòa án Nhân dân tại
thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học thực sự của cá nhân tôi
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Bùi Anh Thủy. Các số
liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận án này là trung thực và
chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả luận án

4.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành giải quyết tranh chấp đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động tại Tòa án nhân dân........................................................... 126
KẾT LUẬN............................................................................................................... 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾTTẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BLDS 2015

Bộ luật Dân sự 2015

BLLĐ 2012

Bộ luật Lao động 2012

BLLĐ Liên bang Nga 2001

Bộ luật Lao động Liên bang Nga 2001

BLLĐ Trung Quốc 1994



Luật HĐLĐ Trung Quốc 2007

Luật Hợp đồng lao động Trung Quốc 2007

LĐLNGVGĐ

Lao động là người giúp việc gia đình
Nghị định số 27/204/NĐ – CP ngày 07/4/2014 của

Nghị định 27/2014/NĐ-CP

Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật
Lao động về lao động là người giúp việc gia đình.
Nghị định số 05/2015/NĐ – CP ngày 12/01/2015 của

Nghị định 05/2015/NĐ-CP

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số nội dung của Bộ luật Lao động.
Nghị định 24/2018/NÐ-CP quy định về giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực lao động, giáo dục

Nghị định 24/2018/NÐ-CP

nghề nghiệp, người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng, việc làm, an toàn, vệ sinh
lao động.



Thỏa ước lao động tập thể


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là hạt nhân phát triển kinh tế của vùng Ðông Nam Bộ, là
trung tâm dịch vụ của khu vực Ðông Nam Á với số lượng doanh nghiệp và người lao
động nhiều nhất Việt Nam. Theo Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị
trường lao động thành phố Hồ Chí Minh, dự kiến năm 2020, thành phố Hồ Chí Minh
có nhu cầu 320.000 chỗ làm việc, trong đó có 130.000 chỗ làm việc mới [3]. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển trên thì các vụ án lao động tại thành phố Hồ Chí Minh
cũng vì vậy mà luôn lớn về số lượng và phức tạp về nội dung.
Theo Báo cáo Tổng kết công tác năm 2018 và phương hướng, nhiệm vụ hoạt động năm
2019 của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hồ Chí Minh (từ ngày 01/10/2017 đến
ngày 30/11/2018) thì tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động luôn
chiếm khoảng 70% trên tổng số các tranh chấp lao động [115]. Do đó, việc giải quyết
các tranh chấp này một cách nhanh chóng, phù hợp với quy định của pháp luật giữ vai
trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên tham gia quan hệ lao
động, góp phần xây dựng thị trường lao động ổn định và phát triển bền vững.
Thực tế cho thấy Tòa án nhân dân hai cấp tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn gặp không ít
khó khăn và vướng mắc trong thực tiễn xét xử loại án này nên hiệu quả xét xử vẫn
chưa được như mong muốn. Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là do
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là loại tranh chấp phức tạp. Các quy định của
Bộ luật Lao động 2012 (có hiệu lực từ 01/5/2013) đã góp phần rất lớn trong việc điều
chỉnh quan hệ lao động nhưng vẫn còn tồn tại một số bất cập trong khi tính phức tạp
của tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động lại có xu hướng gia tăng. Sự
không thống nhất về phương án giải quyết tranh chấp giữa những người tiến hành tố
tụng trong quan điểm giải quyết, đánh giá chứng cứ đã dẫn đến kết quả giải quyết tranh
chấp khác nhau, bản án bị huỷ, sửa do vi phạm tố tụng vẫn còn tồn tại [95].


quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động


nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan trong điều kiện nền kinh tế thị trường
và xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay của Việt Nam để từ đó nâng cao hiệu quả điều
chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án này có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về đơn phương và giải quyết tranh chấp đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động như một số khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội
dung điều chỉnh pháp luật về đơn phương và giải quyết tranh chấp đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động cũng như yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về đơn phương và giải quyết tranh
chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động để đánh giá tính hợp lý của các quy
định này.
Thứ ba, đánh giá hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam trong giải
quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ thực tiễn xét xử của Tòa
án Nhân dân hai cấp tại thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ tư, đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện
hành về đơn phương và giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
Thứ nhất, quy định pháp luật lao động của Việt Nam về nội dung (căn cứ, thủ tục và
hậu quả pháp lý) của đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thủ tục tố tụng dân
sự để giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Tòa án nhân
dân.
Thứ hai, thực tiễn giải quyết các tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
của Tòa án nhân dân hai cấp tại thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

chứng và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam cũng được vận dụng để làm kim chỉ nam cho phương pháp
luận nghiên cứu của đề tài.


4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Để thực hiện luận án, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu gồm:
phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa, phương
pháp diễn giải và phương pháp so sánh. Cụ thể:
Phương pháp phân tích được sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 của luận án. Cụ thể,
tác giả sử dụng phương pháp này khi tìm hiểu về các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội
dung của pháp luật đơn phương và giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động; thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp tại
thành phố Hồ Chí Minh (cấp huyện và cấp tỉnh) theo thủ tục tố tụng dân sự về loại
tranh chấp này.
Phương pháp thống kê được sử dụng dụng tại Chương 3 nhằm khái quát một cách về
tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
của Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự... Trên cơ sở sự thống kê này sẽ kết
hợp với phương pháp phân tích để đưa ra những đánh giá thực trạng pháp luật hiện
hành về vấn đề này.
Phương pháp tổng hợp là phương pháp liên kết, sắp xếp các tài liệu, thông tin đã thu
thập và đánh giá những tư liệu này để tạo ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về
chủ đề nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt công trình để tổng kết
những nội dung thuộc về bản chất của việc giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động của tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự. Các giải pháp hoàn
thiện pháp luật Việt Nam mà công trình đề cập đến cũng được xây dựng dựa trên cơ sở
tổng hợp các kinh nghiệm thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và
pháp luật các nước trên thế giới; và là sự tổng hợp các giải pháp từ việc hoàn thiện quy
định của pháp luật Việt Nam đến việc đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật lao động về giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về lý luận và các vấn đề
pháp lý về đơn phương và giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động, cụ thể là:
Thứ nhất, luận án tiếp tục hoàn thiện và phát triển cơ sở lý luận của pháp luật về giải
quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Tòa án nhân


dân. Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về giải quyết
tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ở nước ngoài và trong nước, luận
án tiếp tục làm rõ các khái niệm, đặc điểm của đơn phương và giải quyết tranh chấp
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động để trên cơ sở này nghiên cứu, khát quát
những đặc thù cũng như nội dung pháp luật giải quyết tranh chấp đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động tại Tòa án nhân dân.
Thứ hai, luận án đánh giá một cách toàn diện và hệ thống về thực trạng pháp luật và
thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn phương và giải quyết tranh
chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Tòa án nhân dân để từ đó chỉ ra
những vấn đề còn vướng mắc và bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành. Các công
trình nghiên cứu trước cũng có những đánh giá nhưng do hướng đến mục đích nghiên
cứu khác nên các công trình này chỉ đánh giá một khía cạnh nhất định của vấn đề trên.
Thứ ba, luận án đưa ra phương hướng và đề xuất các kiến nghị cụ thể để hoàn thiện
pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn phương và giải quyết tranh chấp đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động tại Tòa án nhân dân từ kinh nghiệm xét xử của tòa án
nhân dân hai cấp tại thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về phương diện lý luận, luận án góp phần củng cố và hoàn thiện cơ sở lý luận về đơn
phương và giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo pháp
luật Việt Nam để các nhà hoạch định chính sách, pháp luật cũng như các cơ quan nhà
nước hữu quan có thể tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đơn
phương và giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Đồng thời,

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, giải quyết tranh chấp (“GQTC”) đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động (“HĐLĐ”) không phải là một đề tài mới và từ lâu đã thu hút sự nghiên cứu của
nhiều tác giả với quy mô và mức độ khác nhau. Trong đó, có thể kể đến các công trình
nổi bật sau:
Về khái niệm đơn phương chấm dứt HĐLĐ, Bộ luật Lao động 2012 (“BLLĐ 2012”)
đã quy định các căn cứ đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người lao động (“NLĐ”) và
người sử dụng lao động (NSDLĐ), và xác định đơn phương không đúng các căn cứ
này là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật, nhưng không định nghĩa cụ thể về đơn
phương chấm dứt HĐLĐ. Khái niệm đơn phương chấm dứt HĐLĐ trên thực tế vẫn
còn chưa thống nhất. Trong các giáo trình Luật Lao động dành cho việc giảng dạy bậc
đại học của một số cơ sở đào tạo luật, như “Giáo trình Luật Lao động Việt Nam” của
Trường đại học Luật Hà Nội (2009); “Giáo trình Luật Lao động” của Trường đại học
Lao động - Xã hội (2009); “Giáo trình Luật Lao động” của Trường đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh (2013)... đã đưa ra khái niệm chung nhất về đơn phương chấm dứt
HĐLĐ. Theo đó, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi pháp lý trong đó một bên
chủ thể tham gia quan hệ lao động (“QHLĐ”) tự mình chấm dứt HĐLĐ mà không cần
sự đồng ý của chủ thể còn lại.
Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm đơn phương chấm dứt HĐLĐ,
nhưng các tác giả đều thống nhất ở hai đặc điểm sau:
Thứ nhất, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là ý chí của một bên trong QHLĐ tự mình chủ
động không tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
Thứ hai, đơn phương chấm dứt HĐLĐ dù đúng hay trái pháp luật cũng đều làm chấm
dứt trước thời hạn HĐLĐ.


Về căn cứ đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hầu hết các tác giả thống nhất với
các căn cứ đơn phương được quy định trong BLLĐ 2012, nhưng cũng có ý kiến
cho rằng NLĐ làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn khi đơn phương
chấm dứt HĐLĐ cũng phải có căn cứ như HĐLĐ có thời hạn. Đây là quan điểm

dứt HĐLĐ là: thời gian báo trước khi một bên đơn phương chấm dứt HĐLĐ là ngày
dương lịch hay ngày làm việc? Hoặc một nội dung khác cần làm rõ như: thế nào là
quấy rối tình dục? Quy định NSDLĐ phải nhận lại NLĐ trong mọi trường hợp đơn
phương chấm dứt HĐLĐ trái luật là không khả thi,... là những bất cập liên quan đến
quy định về thủ tục đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Đây cũng là ý kiến của các tác
giả Nguyễn Hữu Chí, Bùi Thị Kim Ngân (2003), Pháp luật HĐLĐ Việt Nam - Thực
trạng và phát triển, NXB Lao động -Xã hội; Nguyễn Thị Hoa Tâm - Trần Hoàng
Hải (2012), Một ố ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định về chấm dứt HĐLĐ, Khoa
học pháp lý, Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số 02/2012, trang 43-48;
Nguyễn Quốc Nam (2015), Một ố bất cập trong pháp luật hiện hành về chấm dứt
HĐLĐ, Kinh tế và Dự báo, số 6/2015, trang 7-9.
Về hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hầu hết các tác giả
đều cho rằng các quy định của pháp luật lao động về quyền đơn phương chấm dứt
HĐLĐ của NSDLĐ còn bất cập, nhiều quy định thiếu tính hợp lý nên NSDLĐ rất
khó vận dụng trong thực tiễn và phải gánh chịu hậu quả pháp lý nặng hơn so với
NLĐ nếu đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật; quy định luật lao động trong
trường hợp này chưa tương thích với luật lao động quốc tế và còn có sự bất bình
đẳng trong QHLĐ; rất nhiều trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ với
NLĐ đưa ra những lý do chấm dứt HĐLĐ không đúng quy định tại Điều 38 BLLĐ
2012 và vẫn tồn tại việc không tuân thủ thời gian báo trước theo luật định... là
những nhận xét, ý kiến của tác giả Nguyễn Quốc Nam (2015), Một ố bất cập trong
pháp luật hiện hành về chấm dứt HĐLĐ, Kinh tế và Dự báo, số 6/2015, trang 7-9;
Nguyễn Thị Phương Thúy (2016), HĐLĐ giúp việc gia đình - từ quy định đến thực
tiễn, Lao động và Xã hội, số 530, trang 21- 25; Lê Thị Hoài Thu (2015), Những yếu
tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về HĐLĐ trong các doanh nghiệp, Nghiên
cứu Lập pháp, số 8 (288), trang 51- 58; Lữ Bình Huy (2017), Ký kết HĐLĐ với lao
động giúp việc gia đình, Dân chủ & pháp luật, số 5 (302), trang 44- 49; Trần
Bình (2016), “Giao kết HĐLĐ trong doanh nghiệp: Thẩm quyền thuộc về ai?”,




tài liệu quý khi nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan đến giải quyết tranh chấp đơn
phương chấm dứt HĐLĐ.
Luận án tiến sĩ luật “Thẩm quyền xét xử của Tòa án Nhân dân đối với các vụ
việc kinh doanh, thương mại theo pháp luật tố tụng dân ự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Văn Tiến (Trường đại học Luật TP. HCM, 2009), trong đó phần nội dung
Chương 1 “Cơ sở lý luận của việc quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân
đối với các vụ việc kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”
có giá trị tham khảo quan trọng đối với tác giả khi thực hiện luận án này, về khía
cạnh giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục Tố tụng dân sự.
Luận án tiến sĩ “Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa
án ở Việt Nam” của tác giả Phạm Công Bảy (Học viện Khoa học xã hội, 2011), đã làm
rõ bản chất, đặc điểm và những đặc thù của TCLĐ cá nhân và thực trạng pháp luật và
thực tiễn áp dụng pháp luật thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại tòa án và đề xuất các
kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Trong công trình này, tác giả cũng đã
chỉ rõ những vấn đề còn tồn tại, bất hợp lý trong cơ chế tài phán về lao động và những
hạn chế về năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ những người làm công tác xét xử và
đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố khách quan là cơ chế áp dụng pháp luật. Có thể
nói, đây là công trình nghiên cứu toàn diện và khách quan về thủ tục giải quyết TCLĐ
cá nhân tại tòa án ở Việt Nam. Do công trình này được hoàn thành vào năm 2011
(trước khi BLLĐ 2012 có hiệu lực) nên một số vấn đề đã có sự thay đổi. Tuy nhiên,
những kiến thức và quan điểm được nêu trong công trình trên là nguồn tài liệu tham
khảo quý giá cho tác giả khi thực hiện luận án này.
Luận án tiến sĩ “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt
Nam hiện nay” của Đào Xuân Hội (Học viện Khoa học xã hội, 2017), đã làm rõ những
vấn đề lý luận về hòa giải trong TCLĐ (nguyên tắc, chủ thể, quy trình, nội dung hòa
giải…), đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật
về hòa giải trong TCLĐ ở Việt Nam hiện nay. Những quan điểm, đánh giá được tác giả
đưa ra trong công trình này đã giúp tác giả có được cái nhìn toàn diện về pháp luật giải
quyết TCLĐ của Việt Nam hiện nay.

khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012, Tạp chí TAND, số18/2015, trang 41-43; Đỗ Ngân


Bình (2017), Hoàn thiện chế định HĐLĐ - Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp,
Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Số 6, trang 3-10; Nguyễn Quốc Nam (2015),
Một ố bất cập trong pháp luật hiện hành về chấm dứt HĐLĐ, Tạp chí Kinh tế và Dự
báo, số 6, trang 7 - 9... trường hợp NLĐ cam kết với NSDLĐ về thời gian làm việc sau
khi đào tạo, dù HĐLĐ không thỏa thuận thì khi vi phạm thời hạn làm việc không đủ
như cam kết vẫn phải bồi thường chi phí đào tạo cho NSDLĐ. Mỗi tác giả có những
lập luận khác nhau để luận giải cho việc cần thiết phải hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Thế nhưng, điều kiện kinh tế - xã hội của Việt
Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế đã có sự thay đổi và tạo ra nhiều cơ hội cũng như
thách thức đối với QHLĐ. Do đó, các giải pháp được đưa ra cần xem xét cụ thể để phù
hợp với thực tế. Tuy vậy, đây đều là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng của tác giả
khi thực hiện luận án này.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở một số quốc gia khác, vấn đề GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng được
nghiên cứu ở các khía cạnh và cấp độ khác nhau trong những công trình nghiên cứu
tổng hợp. Trong đó, có thể kể đến các công trình sau đây:
Năm 2003, tác giả A.C.L. Davies đã xuất bản sách “Perspectives on Labour law”.
Công trình này nghiên cứu về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ được quy định
trong Hiến chương châu Âu.
Năm 2004, tác giả Catherine Barnard, Simon Deakin and Gillians Morris, Oxford and
Portland Oregon xuất bản sách The Future of Labour law”. Công trình đã đưa ra khái
niệm về chấm dứt HĐLĐ, luật chung về đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng như một
số quan điểm thay đổi về chấm dứt HĐLĐ ở nước Anh.
Đặc biệt, năm 2006, tác giả John D. R. Craig và S. Michael Lynk đã xuất bản sách
“Globalization and the future of labour law”. Trong công trình này, các tác giả đã phân
tích sâu sắc các trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi lao động nữ mang thai
hoặc khi NLĐ lao động lập gia đình.

ngoài để thấy được quan điểm lập pháp của các quốc gia trên thế giới về vấn đề trên
còn hạn chế. Do đó, tác giả sẽ nghiên cứu và tiếp thu các quan điểm này một cách có
chọn lọc để phân tích một cách có hệ thống về lý luận (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và
nội dung pháp luật) về đơn phương và GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ.


Thứ hai, một số nghiên cứu về thực trạng pháp luật đơn phương chấm dứt HĐLĐ (căn
cứ, trình tự, thủ tục, hậu quả pháp lý), thực trạng pháp luật GQTC đơn phương chấm
dứt HĐLĐ (thẩm quyền, thời hiệu, trình tự, thủ tục) cũng đã được đề cập trong các
công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau và tập trung chủ yếu vào việc phân tích
các quy định của BLLĐ 2012và BLTTDS 2004(đã sửa đổi, bổ sung 2011) và chủ yếu
tập trung vào pháp luật nội dung. Ưu điểm của các công trình nghiên cứu về nội dung
này là đã phân tích được thực trạng pháp luật trên cơ sở các vụ việc xảy ra trong thực
tiễn. Tuy nhiên, việc so sánh với quy định của pháp luật nước ngoài để thấy được hiệu
quả của việc xây dựng pháp luật Việt Nam về vấn đề này chưa được các tác giả trên
quan tâm. Việc phân tích để làm rõ sự tác động giữa việc GQTC về đơn phương chấm
dứt HĐLĐ đối với sự phát triển của kinh tế, sự ổn định của xã hội trong xu hướng hội
nhập nền kinh tế quốc tế của Việt Nam trong các công trình trên còn mang tính hạn
chế. Mặt khác, các công trình trên nghiên cứu về vấn đề này trong các bài viết, quan
điểm, khóa luận tốt nghiệp… nên vấn đề về đơn phương và giải quyết tranh chấp đơn
phương chấm dứt HĐLĐ chưa thật sự được nghiên cứu mang tính hệ thống và toàn
diện.
Thứ ba, các nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật đơn phương chấm dứt HĐLĐ
(áp dụng căn cứ, trình tự, thủ tục, hậu quả pháp lý) được quan tâm rất nhiều nhưng
phần thực tiễn áp dụng pháp luật GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại TAND (thẩm
quyền, thời hiệu, trình tự, thủ tục) còn rất hạn chế. Các công trình nghiên cứu được
thực hiện đã lâu nên vềthực tế đã mất tính cập nhật khi thực tiễn Việt Nam đã có rất
nhiều thay đổi khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Thứ tư, về hoàn thiện pháp luật đơn phương và GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ,
một số công trình đã đưa ra các kiến nghị cụ thể trên cơ sở phân tích thực trạng pháp

nghiêm minh để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ và bảo đảm quyền, lợi
ích chính đáng của NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng như GQTC chấp đơn
phương chấm dứt HĐLĐ nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.
Thứ ba, lý thuyết về quyền bình đẳng trước pháp luật.
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Thế nên, theo lý
thuyết này, trong QHLĐ, NLĐ và NSDLĐ có quyền bình đẳng trước pháp


luật. Họ không bị pháp luật phân biệt đối xử trong việc hưởng các quyền và thực hiện
các nghĩa vụ. Thế nên, khi pháp luật về đơn phương và GQTC đơn phương chấm dứt
HĐLĐ phải được xây dựng trên cở sở vận dụng lý thuyết về quyền bình đẳng trước
pháp luật của NLĐ và NSDLĐ [62, tr. 12].
Thứ tư, lý thuyết về quyền tiếp cận công lý của công dân và vai trò của tòa án trong
GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
Quyền tiếp cận công lý là quyền của người dân được hưởng thụ (hoặc sử
dụng) những thiết chế trong hệ thống pháp luật để qua đó tìm kiếm sự công bằng
của các bên trong việc giải quyết các tranh chấp. Nội dung này được ghi nhận tại
Điều 10 Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người: “Mọi người đều bình đẳng về
quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan,
để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ ự buộc tội nào đối
với họ”. Đối với tranh chấp về đơn phương chấm dứt HĐLĐ, để thực hiện quyền
tiếp cận công lý này của công dân thì Tòa án phải thực hiện được vai trò của cơ
quan giải quyết tranh chấp để đem lại công lý cho các bên trong QHLĐ [2, tr. 27].
Thứ năm, lý thuyết về sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên trong QHLĐ, từ khi
giao kết HĐLĐ đến khi chấm dứt HĐLĐ và GQTC.
QHLĐ được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, tự
chịu trách nhiệm và bình đẳng giữa NLĐ và NSDLĐ. Pháp luật tôn trọng quyền tự
định đoạt của họ từ khi họ giao kết HĐLĐ, thực hiện HĐLĐ, chấm dứt HĐLĐ và cả
khi GQTC một bên đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Lý thuyết này được thể hiện cụ thể

thành. Hành vi này dẫn đến những hệ quả pháp lý đa dạng. Do đó, đây là sự kiện pháp
lý “dễ” phát sinh tranh chấp. Chính vì vậy, các yêu cầu đối với việc GQTC đơn phương
chấm dứt HĐLĐ nói chung và GQTC tại TAND nói riêng là phải giải quyết thỏa đáng
về mặt quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Do đó, việc GQTC đơn phương chấm dứt
HĐLĐphải dựa trên nguyên tắc chung của giải quyết TCLĐ và đảm bảo sự tham gia
của tổ chức đại diện của các bên trong tranh chấp đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
Kết quả nghiên cứu (dự định): Đưa ra nền tảng lý luận (bao gồm khái niệm, đặc điểm,
bản chất) của đơn phương chấm dứt HĐLĐ và GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ để
từ đó định hướng nghiên cứu pháp luật về vấn đề này.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status