Mi Thuat Viet nam giai doan 1954-1975 - Pdf 65

I. Hội hoạ Việt Nam thời chiến tranh 1954-1975
1. Miền Bắc từ 1954-1975
Mặt trận Việt minh sau khi tiến hành thành công Cách mạng Mùa thu (1945) đã cho ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. Sau sự kiện lịch sử này, đất
nước chia đôi: miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc chế độ Cộng sản, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào theo chế độ Cộng
hoà. Nền mỹ thuật non trẻ của Việt Nam cũng bị chia đôi. Những lớp hoạ sĩ tài năng đầu tiên do trường Mỹ thuật Đông
dương đào tạo từ năm 1925 đến 1945 chia ra làm ba nhóm: nhóm chiếm số đông ở lại miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa như Tô
Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Lương Xuân Nhị, Hoàng Tích Chù, Nguyễn Sĩ Ngọc,
Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên…; một số ít ra nước ngoài như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm,
Vũ Lăng, Lê Thị Lựu, Mai Trung Thứ…;và phần còn lại di cư vào Nam hoặc từ nước ngoài trở về miền Nam như Nguyễn
Gia Trí, Lê Văn Đệ, Tạ Tỵ, Lưu Đình Khải, Lê Yên, Tôn Thất Đào, Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Siên, Trần
Dụ Hồng…
Dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, mỹ thuật miền Bắc không được phát triển theo xu hướng ảnh hưởng mỹ thuật Tây Âu như
những năm trước 1945. Đường lối Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa được áp dụng triệt để nhằm phục vụ công cuộc xây dựng
một miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa và cổ vũ cho cuộc chiến tranh lật đổ chế độ Sài Gòn do Hoa Kỳ hậu thuẫn. Trong suốt thời
gian từ 1954 đến 1975, mỹ thuật miền Bắc chỉ bao gồm hai loại chính: tranh cổ động; và tranh ngợi ca Đảng, lãnh tụ, cổ
xuý đấu tranh giai cấp. Khuynh hướng nghệ thuật này chịu ảnh hưởng sâu đậm mỹ thuật các nước cộng sản đàn anh là
Liên Xô và Trung Quốc. Tất cả nghệ sĩ đều chịu sự quản lý cực kỳ chặt chẽ của Đảng, vì thế thông tin về mỹ thuật phương
Tây đương thời gần như không xuất hiện, dù dưới bất cứ hình thức nào. Thái Bá Vân (đã mất) – nhà nghiên cứu và phê
bình mỹ thuật nổi tiếng một thời của Hà Nội – từng bị một cán bộ trưởng đoàn du học sinh tịch thu cuốn sách về danh họa
Picasso khi ông đang trên chuyến tàu hỏa từ Tiệp Khắc về Việt Nam. Miền Bắc ngăn chặn triệt để tất cả thông tin từ bên
ngoài nhằm giữ cho nền mỹ thuật của họ đi đúng đường lối của Đảng.
Bùi Xuân Phái, Chiến tranh (bột màu), 1970
Trần Văn Cẩn, Nữ dân quân miền Bắc (sơn dầu), 1960
Nguyễn Sáng, Kết nạp Đảng (sơn mài), 1963
Sự trừng phạt nặng nề cho những ai dính đến vụ “Nhân văn Giai phẩm” năm 1956 đã bóp chết tất cả những ý tưởng muốn
bày tỏ yêu cầu tự do sáng tạo. Những ai còn giữ tâm hồn nghệ sĩ và tình yêu nghệ thuật đích thực đều chịu một cuộc sống
ngoài lề. Họa sĩ Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm và một số văn nghệ sĩ ít ỏi khác đã phải sống như
những cái bóng thừa.
2. Miền Nam từ 1954 đến 1975
Sau hiệp định Genève 1954, miền Nam theo chế độ chính trị tam quyền: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Dân chủ và tự

1. Đối với miền Bắc
Vì theo đuổi học thuyết Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa, hội họa miền Bắc đã hoàn toàn mất tính đa nguyên sáng tạo, tình cảm
cá nhân của người vẽ bị đóng băng, máu nghệ sĩ bị thay thế bằng máu của người lính, màu sắc, bút cọ trở thành súng đạn,
lấy đấu tranh làm hướng đi cho tác phẩm.
Sau khi hòa bình lập lại, vì bị cách ly và bị quản lý lâu ngày, họa sĩ miền Bắc có tâm lý xa lạ với thế giới, choáng ngợp với
một rừng những sáng tạo mà nhân loại đã đi qua, nên nảy sinh tâm lý hoài nghi cái mới. Suốt ba mươi năm sau khi chiến
tranh kết thúc, miền Bắc vẫn tiếp tục “ngăn sông cấm chợ” văn hóa, áp dụng đường lối quản lý nghệ sĩ trên diện rộng. Mỹ
thuật Việt Nam đã trở nên tụt hậu, ngay chỉ so sánh với các nước Đông Nam Á hôm nay.
Chính sách văn hóa một chiều đã làm nảy sinh tại miền Bắc hai thực trạng mỹ thuật hiện nay: mỹ thuật tự do và mỹ thuật
thương mại.
Dòng mỹ thuật tự do hình thành mang tính tự phát (không nằm trong chính sách “Đổi Mới”) và đến từ lớp họa sĩ trưởng
thành vài năm trước và sau 1975. Nhờ không bị chai sạn như lớp nghệ sĩ đàn anh, các nghệ sĩ lớp sau sớm nhận ra sự
cấp bách của việc thay đổi tư duy sáng tạo, phục hồi quyền độc lập suy cảm. Cảm hứng nghệ thuật của họ đến từ hai
nguồn: thứ nhất, các bậc thầy hội hoạ miền Bắc có bản lãnh nghệ sĩ như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn
Sáng, Dương Bích Liên; thứ hai, thành tựu mỹ thuật hiện đại mà các họa sĩ Sài Gòn tạo ra được dưới thời miền Nam Cộng
hòa. Tiêu biểu nhất của dòng mỹ thuật tự do miền Bắc là sự ra đời của nhóm”Bè Lũ Năm Tên” (Gang of Five) với những
Đặng Xuân Hòa, Trần Lương, Hà Trí Hiếu…
Ngược lại, dòng mỹ thuật thương mại là hệ lụy đối với một dân tộc bị chiến tranh và chủ nghĩa Cộng sản lấy đi tất cả. Hòa
bình và kinh tế thị trường là cơ hội trả thù đời của những ai biết chớp thời cơ. Lớp họa sĩ này chiếm số đông, làm mọi cách
để bán được tranh phục vụ thị hiếu du khách nước ngoài. Đây là nguồn tiêu thụ tranh giả, tranh chép, tranh nhái. Dòng mỹ
thuật “thị trường” này đã làm nên nhà cao cửa rộng của nhiều họa sĩ nhưng đồng thời cũng đẩy nền mỹ thuật “chính thống”
Việt Nam đi vào chỗ cạn kiệt trống rỗng như hôm nay.
2. Đối Với Miền Nam
Tất cả sinh họat mỹ thuật theo cách Sài Gòn đều phải dừng lại, nếu không muôn nói là phải hủy bỏ, kể từ ngày 30-4-1975.
Nghệ sĩ phải “tự cải tạo” dưới chế độ mới, chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Nhiều tác phẩm hội họa bị chế độ mới đốt bỏ hoặc
đưa vào bộ sưu tập “tội ác Mỹ Ngụy”. Cá nhân tác giả có bốn bức tranh thuộc bộ sưu tập của cố tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh
đã bị chính chủ nhân đốt bỏ vì sợ hãi vào những ngày đầu Sài Gòn sụp đổ. “Trên Vùng An Nghỉ”, đoạt giải thưởng Hội họa
Mùa xuân năm 1964, là một trong những bức tranh xấu số ấy.
Trên Vùng An Nghỉ, Trịnh Cung, 1962


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status