VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH SỰ
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI
NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ MINH SỰ
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI
NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN LUYỆN
HÀ NỘI, 2020
2.3. Những hạn chế, bất cập của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng biện
pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh..................................................................................................................................... 38
Chương 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM
ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP
TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI............................. 53
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh.................................... 53
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật về áp
dụng các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội...............59
3.3. Các giải pháp cụ thể bảo đảm hiệu quả áp dụng các biện pháp tư pháp
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên thực tiễn............................................ 63
KẾT LUẬN.............................................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................... 68
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
UBND:
Ủy ban nhân dân
TAND:
Tòa án nhân dân
xâm nhập thông qua hội nhập quốc tế đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, lối
sống của nhân dân cả nước. Tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội có xu
hướng tăng cao và diễn biến phức tạp hơn.
Mặc dù Việt Nam là nước đầu tiên của châu Á và là nước thứ hai trên thế
giới tham gia Công ước về quyền trẻ em, nhiều văn bản quy phạm pháp luật
trong nước được ban hành nhằm bảo vệ trẻ em như các vấn đề về nuôi dưỡng,
giáo dục, chăm sóc, lao động…Tuy nhiên đối với vấn đề người dưới 18 tuổi
phạm tội, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là kiên quyết, nghiêm khắc xử
lý nhưng trên tinh thần giáo dục, răn đe nhằm giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,
phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bắc Ninh là một tỉnh đang phát triển mạnh về kinh tế và quá trình đô thị
hóa, có địa hình tiếp giáp với nhiều tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm khu vực
1
phía Bắc của nước ta nên tình hình tội phạm khá phức tạp, đặc biệt là tội phạm
do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày càng gia tăng, song lĩnh vực này chưa được
đầu tư nghiên cứu nhiều gắn với địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Trước tình hình đó học
viên chọn đề tài “Các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ
thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
1. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có một số luận văn thạc sĩ, một số giáo trình giảng dạy, bài viết trên tạp
chí và một số sách chuyên khảo đã nghiên cứu hiện nay có các công trình
đáng chú ý như:
- Nguyễn Thị Tố Nga (2011), Các biện pháp tư pháp đối với người dưới
18 tuổi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự, Luận văn thạc sĩ luật
học, khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội.
- Đặng Vũ Huân (1993), Các biện pháp tư pháp với người chưa thành
- Những vấn đề lý luận pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp tư
pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam trên
cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phân tích, làm rõ lý luận về biện pháp tư pháp đối với người dưới 18
tuổi, nghiên cứu thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm áp dụng các biện pháp tư
pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong phần chung Chương XII
BLHS Việt Nam hiện hành. Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại Tòa án nhân dân
hai cấp của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2015- 2019.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu cơ sở lý luận và những nội dung cơ bản của hệ thống
các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo hệ thống pháp
luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật; đánh giá thực trạng và đề xuất giải
3
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng các quy định về biện pháp tư
pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định pháp luật Hình sự.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về các biện pháp tư pháp đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội.
- Phân tích thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người dưới
18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất các Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định pháp luật về
các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên học thuyết Mác Lênin, quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI
VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
1.1. Những vấn đề chung về xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi phạm tội
Theo BLHS năm 1999 thì trước đây chúng ta hay sử dụng khái niệm
“người chưa thành niên phạm tội” thay vì dùng khái niệm “người dưới 18 tuổi
phạm tội” như hiện nay. Để có thể hiểu rõ về chính sách hình sự và các biện
pháp xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, trước hết chúng ta cần phải làm rõ
các khái niệm, đặc điểm tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi cũng như nguyên
tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi theo quy định pháp luật.
Trong các văn bản pháp luật trên đều quy định độ tuổi của người dưới 18
tuổi là dưới 18 tuổi và quy định cụ thể những chế định pháp luật đối với người
dưới 18 tuổi trong từng lĩnh vực cụ thể như Điều 90 BLHS năm 2015 và Điều
21 Bộ luật dân sự năm 2015. Khái niệm người dưới 18 tuổi khác với khái
niệm trẻ em “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” theo Điều 1 Luật
bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004.
Tùy từng lứa tuổi cụ thể, Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục tạo điều kiên tốt nhất để người dưới 18 tuổi phát triển khỏe mạnh,
có ích cho xã hội.
Mặc dù có sự thay đổi về mặt thuật ngữ nhưng về bản chất vẫn giữ
nguyên độ tuổi làm cho quy định này rõ ràng người dưới 18 tuổi là người
dưới 18 tuổi. Như vậy, người dưới 18 tuổi hay người dưới 18 tuổi phạm tội là
đối tượng của chủ thể tội phạm.
Năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của con người không
hình thành ngay khi sinh ra mà được hình thành, tích lũy theo thời gian và vốn
6
- Về nhu cầu độc lập: Các hành vi như biểu hiện như ngang bướng, cố
chấp, gây gổ, … Tất cả những hành vi này của người dưới 18 tuổi đều mang
tính chất của hành vi lệch chuẩn, dễ dẫn tới các hành vi phạm tội của các em.
- Về nhu cầu khám phá cái mới: Sự tò mò và khám phá cái mới là một
trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi. Bởi
vì các em thiếu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của gia đình, xã hội, không
tự chủ được bản thân, hành động theo cảm tính và không nhận thức được
đúng sai.
Để có được sự nhận thức một cách toàn diện về tự nhiên, xã hội và
chính mình phải được hình thành và phát triển ở mỗi giai đoạn phát triển của
con người trong quá trình sống, hoạt động trong xã hội. Khoa học đã chứng
minh, khi đến 18 tuổi thì con người mới hiểu được quyền và nghĩa vụ một
cách đầy đủ để cân nhắc được hậu quả của hành vi của mình tác động đến xã
hội như thế nào. Do vậy chúng ta nhận thấy hai khuynh hướng nổi bật liên
quan đến tội phạm và khả năng giáo dục, cải tạo của họ. Đó là họ dễ bị người
khác dụ dỗ, kích động, thúc đẩy vào việc thực hiện tội phạm nhưng do ý thức
phạm tội của họ chưa cao và chưa chắc chắn nên cũng dễ uốn nắn, cải tạo,
giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội.
1.1.2. Nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội
Trên cơ sở những đặc điểm tâm lý của người dưới 18 tuổi và thực tiễn
đấu tranh phòng chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện phải dựa
trên các nguyên tắc quy định trong Điều 91 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017). Có thể thấy nhà làm luật đã nêu ra rất nhiều những nguyên
tắc từ nguyên tắc chung đến những nguyên tắc rất cụ thể trong việc xử lý
trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội phạm là người dưới 18 tuổi nhưng đều
xoay quanh nguyên tắc cơ bản nhất quy định tại khoản 1 Điều luật này.
8
9
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa
tội phạm.
Như vậy, có thể khẳng định chính sách của Nhà nước đối với nhóm người
dưới 18 tuổi phạm tội thông qua việc thể chế thành các quy định của pháp luật
hình sự là rất rõ ràng, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc. Việc truy cứu TNHS chỉ đặt
ra khi nó thực sự cần thiết và xuất phát từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm.
Nguyên tắc thứ tư, là nguyên tắc hạn chế áp dụng hình phạt: Đối với
nhóm người dưới 18 tuổi phạm tội thì có nhiều biện pháp để xử lý. Tòa án có
thể xem xét áp dụng chế tài xử lý theo thứ tự sẽ là miễn trách nhiệm hình sự
=>Áp dụng một trong các biện pháp giám sát giáo dục =>Áp dụng biện pháp
giáo dục tại trường giáo dưỡng => Áp dụng hình phạt.
Nguyên tắc thứ năm, là nguyên tắc không xử phạt tù chung thân hoặc tử
hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Xuất phát từ nguyên tắc chung là nhằm mục đích giáo dục, cải tạo, giúp
họ sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội. Nếu áp dụng
hình phạt chung thân hoặc tử hình thì mục đích trên sẽ không thực hiện được
vì hai hình phạt trên là hình phạt cao nhất, nó mang tính trừng trị cao hơn là
giáo dục. Bản thân nguyên tắc này đã cho chúng ta thấy rõ giới hạn của hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
cho dù có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật là loại tội phạm nào, thuộc
chương nào của BLHS và tình tiết tăng nặng có nhiều đến đâu thì hình phạt
cao nhất mà họ phải chịu chỉ là hình phạt tù có thời hạn.xuất phát từ nguyên
tắc chung là nhằm mục đích giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm để trở thành
công dân có ích cho xã hội. Nếu áp dụng hình phạt chung thân hoặc tử hình
thì mục đích trên sẽ không thực hiện được vì hai hình phạt trên là hình phạt
cao nhất, nó mang tính trừng trị cao hơn là giáo dục.
11
do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã
hội, có tác dụng hỗ trợ hình phạt”. [30,tr.322]
Khoản 1 Điều 46 BLHS hiện hành quy định các biện pháp tư pháp đối
với người phạm tội.
* Đặc điểm của biện pháp tư pháp:
- Thứ nhất, biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế Nhà nước được quy
định trong Luật hình sự. Bởi lẽ, về bản chất thì việc áp dụng biện pháp tư
pháp không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người bị áp dụng mà là quyền
của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự mặc dù người bị áp dụng biện pháp tư
pháp (bồi thường thiệt hại) có thể thỏa thuận với người được bồi thường. Tuy
nhiên, quyền áp dụng biện pháp tư pháp của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
bị giới hạn bởi quy định của Nhà nước về biện pháp tư pháp được thể hiện
trong BLHS. Theo đó, Nhà nước quy định biện pháp nào là biện pháp tư pháp
khi ban hành BLHS. Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự căn cứ vào quy định
của Nhà nước về biện pháp tư pháp trong BLHS để áp dụng đối với người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt.
- Thứ hai, biện pháp tư pháp mang tính cưỡng chế ít nghiêm khắc hơn
hình phạt. Các biện pháp cưỡng chế được quy định trong BLHS bao gồm hình
phạt và biện pháp tư pháp. Trong đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm
tội. Khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là họ bị tước bỏ hoặc hạn
chế quyền, lợi ích và hậu quả phải mang án tích.
- Thứ ba, biện pháp tư pháp là một dạng của trách nhiệm hình sự và là một
hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự được thể hiện trong văn bản của cơ
thay thế hình phạt có thể chia các biện pháp tư pháp thành hai nhóm là: các biện
pháp tư pháp chung áp dụng đối với mọi người phạm tội và chỉ nhằm hỗ trợ
13
hình phạt; các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt chỉ áp dụng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội.
- Các biện pháp tư pháp chung áp dụng đối với mọi người phạm tội và chỉ
nhằm hỗ trợ hình phạt là những biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 46
BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và áp dụng đối với tất cả người đã
thành niên và người dưới 18 tuổi phạm tội. Các biện pháp tư pháp chung quy
định tại Điều 46 BLHS bao gồm: “Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm; Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; Buộc công khai xin
lỗi; Bắt buộc chữa bệnh.”
- Các biện pháp tư pháp chỉ áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
nhằm thay thế hình phạt là những biện pháp được quy định tại Điều 95, 96
BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và có thể được Tòa án áp dụng đối với
người dưới 18 tuổi bị kết án. Các biện pháp tư pháp chỉ áp dụng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào
trường giáo dưỡng.
1.2.1.3. Áp dụng biện pháp tư pháp chung
a) Áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Đối tượng áp dụng biện pháp tư pháp này là vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm. Vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm bao gồm: Vật, tiền là công
cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; Vật, tiền do phạm tội hoặc do mua, bán,
đổi chác những thứ ấy mà có; Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.
không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng phải áp dụng biện pháp bắt buộc
chữa bệnh.
- Trường hợp thứ hai, đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách
nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì đối tượng này được
15
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và Tòa án có thể quyết định đưa họ vào
một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
- Trường hợp thứ ba, đối với người đang chấp hành hình phạt mắc bệnh
tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
thì Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt
buộc chữa bệnh.
d) Áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội.
- Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Theo khoản 4 Điều 69 BLHS 1999 thì "Khi xét xử, nếu thấy không cần
thiết phải áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì Toà án
áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ
luật này”; Khoản 4 Điều 91 BLHS 2015 quy định “Khi xét xử, Tòa án chỉ áp
dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm
hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp
dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương
này không đảm bảo hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.”. Như vậy cần phải hiểu
Toà án ở đây là Hội đồng xét xử và việc quyết định áp dụng biện pháp tư pháp
phải được thể hiện bằng quyết định của Bản án tại phiên toà. Trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử, Toà án không có quyền áp dụng các biện pháp tư pháp này.
b) Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
1.2.3. Đặc điểm biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi.
Thứ nhất, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội trước hết là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong
luật hình sự và chỉ có thể được áp dụng khi người dưới 18 tuổi thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội.
17
Với tư cách là một biện pháp cưỡng chế về hình sự nên biện pháp tư
pháp chỉ có thể được áp dụng khi có sự việc phạm tội xảy ra.
Ngoài các biện pháp tư pháp chung quy định tại Điều 46 thì biện pháp tư
pháp đặc thù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm biện pháp giáo dục tại
xã, phường, thị trấn và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, cụ thể:
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tư pháp được áp dụng đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Thời
hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm do Toà án quyết
định. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư
pháp được quy định tại Điều 95 BLHS đối với họ.
- Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp áp dụng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội có tính nghiêm khắc hơn biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn. Toà án Quyết định đưa người dưới 18 tuổi phạm tội vào
trường giáo dưỡng theo tinh thần của Điều 96 BLHS thì phải xem xét và
quyết định có cần hay không cần đưa người dưới 18 tuổi đó vào trường giáo
dưỡng việc quyết định đưa họ vào trường giáo dưỡng phải căn cứ vào tính
chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; và môi
trường sống của người đó không thuận lợi như sống lang thang, không gia
đình hoặc có ảnh hưởng xấu từ bè bạn...
1.3.1 Giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 1985
Sớm nhất, các biện pháp tư pháp đã được đề cập đến trong các văn bản
pháp lý do Nhà nước ban hành, cụ thể là "tịch thu vật, tiền liên quan đến tội
phạm" đã được quy định trong Công văn số 4/NCPL ngày 14/4/1966, Tòa án
nhân dân tối cao gửi Tòa án các địa phương hướng dẫn: Cần phân biệt những
đồ vật là tài sản của người can án là Tòa án xét xử tịch thu theo yêu cầu của
19